CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH DỊCH VỤ THÔNG TIN DI ĐỘNG 1. Lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh dịch vụ thông tin di động 1. Dịch vụ thông tin di động 1.Khái niệm Dịch vụ thông tin di động là một loại hình dịch vụ viễn thông cho phép người dùng dịch vụ có thể thực hiện quá trình đàm thoại, trao đổi thông tin thông qua thiết bị đầu cuối đặc trưng (bao gồm 1 máy điện thoại di động và simcard đối với mạng sử dụng công nghệ GSM hoặc 1 máy điện thoại di động và kỷ thuật trải phổ trong công nghệ CDMA). Qua quá trình giải mã tín hiệu điện từ của hệ thống thông tin vô tuyến, vào mốt thời điểm thuộc phạm vi phủ sóng của nhà cung cấp dịch vụ người sử dụng dịch vụ có thể chủ động khai thác sử dụng dịch vụ.
Các dịch vụ thông tin di động nhìn chung có thể phân thành bốn nhóm lớn theo kết nối như sau: thoại truyển thống, Internet, nhắn tin và dịch vụ nội dung. Các loại hình dịch vụ thông tin di động Thoại truyền thống Thoại phong phú Con người LBS Nhắn tin Vị trí SMS, MMS Nhận dạng Internet Intranet/Extranet/Internet dịch vụ Thông tin tổng hợp Dịch vụ gói nội Giải trí Nội dung dung thông tin Giao dịch Cơ sở dữ liệu Nguồn: Thông tư 11/2010/TT-BTTTT[1]. Dịch vụ thoại truyền thống: là một trong các dịch vụ quan trọng, nó đem lại nguồn doanh thu chính cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ thông tin di động. 6 Dịch vụ thoại có đặc điểm là theo thời gian thực và tính hai chiều.
Ngoài những tính năng của dịch vụ thoại truyền thống và các dịch vụ khác như dịch vụ điều hành, hỗ trợ danh bạ và chuyển vùng (Roaming) còn có các dịch vụ thoại cao cấp như thoại qua IP, truy nhập bảng mã hóa giọng nói và các cuộc gọi được khởi tạo qua trang web. Dần dần, hiện nay thông tin di động còn bao gồm cả thoại hình di động băng thông rộng (Video Call) và thông tin đa phương tiện. Internet: Ngoài các dịch vụ thoại truyền thống luôn đượng cải tiến, môi trường dữ liệu mới cho phép người dùng dịch vụ thông tin di động có thể kết nối, truy cập các nội dung thông tin trên Internet thông qua các công nghệ truyền dữ liệu GPRS/EDGE/3G của nhà cung cấp dịch vụ. Nhắn tin gồm có dịch vụ bản tin ngắn (SMS), dịch vụ nhắn tin đa phương tiện (MMS) và nhắn tin nhanh qua di động (IM).
+ Dịch vụ bản tin ngắn (SMS) được khám phá đầu tiên ở Châu Âu vào năm 1992, ban đầu được quy định bởi một hiệp hội công nghiệp, dịch vụ bản tin ký tự trở nên có giá trị trong các cách mạng kỹ thuật số. Khi mạng kỹ thuật số hỗ trợ được dịch vụ SMS nó đã phát triển thành dịch vụ dữ liệu di động đa năng và rất phổ biến trong giới trẻ. Vì vậy, nó đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển dịch vụ nhắn tin đa phương tiện. + Dịch vụ nhắn tin đa phương tiện (MMS): là một dịch vụ cho phép người sử dụng dịch vụ không cần truyền thời gian thực, các loại nội dung thông tin đa phương tiện bao gồm các ký tự chữ, hình ảnh, bưu thiếp điện tử, đoạn âm thanh, đoạn video chip ngắn hoặc tích hợi các thông tin trên.
+ Dịch vụ nhắn tin nhanh qua di động (IM): cho phép người sử dụng gửi tin nhắn ngắn và đơn giản. Nó cũng cho phép mọi người sử dụng ở nhiều nơi, tin nhắn IM mở rộng khả năng của IM thành miền thông tin di động. Dịch vụ nội dung: có bốn loại nội dung cơ bản là thông tin tổng hợp, giải trí, cơ sở dữ liệu và mua bán giao dịch. Các dịch vụ thông tin tổng hợp này ngày càng đáp ứng nhu cầu hàng hàng của người sử dụng về các dịch vụ thông tin nội dung, các dịch vụ giải trí cũng đáp ứng tốt hơn với nhu cầu tình cảm và cá nhân của họ.
7 Các giao dịch được thực hiện đơn gian theo các nhu cầu riêng tư có liên quan, trong khi cơ sở dữ liệu thì rất thuận lợi cho việc phục hồi thông tin. Đặc điểm của dịch vụ thông tin di động Dịch vụ thông tin di động mang lại hiệu quả thông tin liên lạc mọi lúc, mọi nơi. Nó cho phép người sử dụng dịch vụ chủ động thực hiện và tiếp nhận cuộc gọi ở bất cứ thời điểm nào, ở bất cứ nơi đâu - chính vì vậy mà nó trở thành công cụ liên lạc không thể thiếu của mọi người [11]. Dịch vụ thông tin di động có tính bảo mật rất cao vì thông tin trong lúc truyền đi đã được mã hóa.
Điều này đáp ứng được những yêu cầu về thông tin liên lạc. Khách hàng có thể yên tâm về thông tin không bị rò rỉ ra bên ngoài [11]. Giá của dịch vụ thông tin di động thường cao hơn giá của dịch vụ thông tin cố định, do nhà cung cấp dịch vụ phải đầu tư tốt để xây dựng mạng lưới và chi phí về công nghệ, thiết bị. Hơn nữa, tính năng của dịch vụ thông tin di động ưu việt hơn dịch vụ điện thoại cố định có thể kết nối mọi người ở mọi lúc mọi nơi.
Thông tin di động là loại dịch vụ thông tin liên lạc hiện đại với chất lượng đàm thoại cao, bên cạnh đó khách hàng còn có thể sử dụng hàng loạt các dịch vụ tiện ích khác như: truy cập internet, truyền nhận dữ liệu, cập nhật thông tin về tỷ giá thời tiết, thể thao, chứng khoán. Ngoài ra người dùng dịch vụ thông tin di động có thể kết nối điện thoại di động của mình với các thiết bị ngoại vi như: máy vi tính, máy fax, máy in. Sự kết nối mang lại sự thuận tiện nhanh chóng và tiết kiệm được thời gian [11]. Sản phẩm của dịch vụ thông tin di động mang tính chất vùng miền, nhu cầu sử dụng dịch của các vùng miền không giống nhau, các vùng có vị trí địa lý thuận lợi và trình độ phát triển kinh tế xã hội cao thì nhu cầu sử dụng nhiều hơn.
Do tính chất vùng miền như vậy, nên tương quan cung cầu việc sử dụng dịch vụ thông tin di động là rất khác nhau, khó có thể điều hòa sản phẩm từ nơi có chi phí thấp, giá bán thấp đến nơi có giá bán cao như các sản phẩm hàng hóa thông thường khác. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp cần có sự nghiên cứu tìm hiểu kỹ về các vùng miền để có cácchính sách kinh doanh phù hợp. 8 Quyết định mua dịch vụ thông tin di động thường phức tạp hơnso với quyết định mua các sản phẩm hữu hình thông thường vì khó đánh giá chất lượng. Vấn đề bảo hộ dịch vụ khó khăn hơn bảo hộ sản phẩm, do bản thân các dịch vụ bị bắt chước hoặc sao chép một cách dễ dàng hơn.
Vì vậy, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ thông tin di động thường phải đẩy mạnh việc phát triển dịch vụ để ngăn chặn sự cạnh tranh không lành mạnh bằng sao chép và bắt chước bởicác đối thủ. Khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của dịch vụ thông tin di động 1. Cạnh tranh trong dịch vụ thông tin di động Cạnh tranh là quy luật kinh tế cơ bản trong nền kinh tế thị trường, nó thúc đẩy quá trình phát triển của các hoạt động sản xuất và lưu thông hàng hóa dịch vụ. Ngày nay, khi kinh tế thị trường ngày càng phát triển thì sự cạnh tranh giữa các tổ chức kinh tế, giữa các ngành và giữa các quốc gia trên toàn cầu càng trở nên gay gắt.
Tuy nhiên, cạnh tranh có vai trò rất quan trọng là động lực thúc đẩy quá trình sản xuất phát triển. Thuật ngữ “cạnh tranh” được sử dụng từ lâu và được dùng rất phổ biến trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội như: Kinh tế, chính trị, văn hóa, thương mại, luật, quân sự, thể thao…và thường xuyên được nhắc đến trên các diễn đàn kinh tế, hay trong các tài liệu chuyên môn, cũng như trên các phương tiện thông tin đại chúng. Do đó, có rất nhiều cách hiểu và quan điểm khác nhau về “cạnh tranh” [6]. Theo Michael Porter “Cạnh tranh là giành lấy thị phần, bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có”.
Kết quả của quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả là giá cả có thể giảm đi [17]. Theo hai nhà kinh tế học người Mỹ là P.Nordhaus trong cuốn Kinh tế học cho rằng “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng hoặc thị trường” [21]. 9 Theo tác giả Tôn Thất Nguyễn Thiêm “Cạnh tranh trong thương trường không phải là diệt trừ đối thủ của mình mà chính là phải mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao và mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không lựa chọn đối thủ cạnh tranh của mình” [16]. Dưới góc độ thương mại, cạnh tranh được hiểu là một trận chiến giữa các DN và các ngành kinh doanh nhằm chiếm được sự đồng thuận và lòng trung thành của khách hàng.
Hệ thống các DN tự do đảm bảo cho các ngành kinh doanh có thể tự đưa ra các quyết định về mặt hàng cần sản xuất, phương thức sản xuất, và tự định giá sản phẩm hay dịch vụ do mình sản xuất. Dưới góc độ kinh tế, cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh giữa các chủ thể kinh tế (nhà sản xuất, người tiêu dùng) nhằm giành lấy những vị thế tương đối tốt trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa, để thu được nhiều lợi ích nhất. Các chủ thể kinh tế hoạt động sản xuất kinh doanh ở những lĩnh vực khác nhau có các yếu tố đánh giá cạnh tranh khác nhau như: Tiềm lực tài chính, trình độ nguồn nhân lực, năng lực tổ chức và quản trị doanh nghiệp, chất lượng sản phẩm, giá cả sản phẩm, kênh phân phối,. Cạnh tranh của một doanh nghiệp là trong các điều kiện về thị trường tự do và công bằng, doanh nghiệp có thể sử dụng hiệu quả nguồn lực của tổ chức để sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đáp ứng được yêu cầu của thị trường tốt hơn đối thủ cạnh tranh với giá cả hợp lý và phân phối thuận lợi, đồng thời, tạo thêm việc làm và nâng cao thu nhập thực tế cho DN.