CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DỊCH VỤ THÔNG TIN DI ĐỘNG 1.1 Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 1.1 Khái niệm về cạnh tranh Cạnh tranh là một khái niệm sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, quân sự, thương mại, tự nhiên, xã hội,…. Tuy nhiên khái niệm về cạnh tranh xuất hiện khi có sản xuất và lưu thông hàng hóa. Do cạnh tranh là khái niệm được dùng trong nhiều lĩnh vực khác nhau vì vậy sẽ có nhiều khái niệm khác nhau về cạnh tranh. Ở đây chúng ta đang tìm hiểu về cạnh tranh trong lĩnh vực lý thuyết kinh tế.
Dưới mỗi góc độ khác nhau thì sẽ có một cái nhìn khác nhau về cạnh tranh: Trong giáo trình kinh tế học chính trị Mác-Lênin của nxb Chính Trị Quốc Gia, K.Marx đã định nghĩa về cạnh tranh như sau: “Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch”. Cạnh tranh chỉ được xuất hiện khi có các chủ thể, mà các chủ thể được K.Marx nói tới là các nhà tư bản. Mục đích của các nhà tư bản là thu được lợi nhuận đối đa, lợi nhuận siêu ngạch về cho bản thân mình. Theo từ điển Việt Nam trang 357 thì “cạnh tranh trong kinh tế là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối bởi quan hệ cung – cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu dùng và thị trường có lợi nhất”.
Như vậy cạnh tranh xuất hiện chỉ khi có tối thiểu là người sản xuất hay thương nhân, nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường trở lên. Cạnh tranh được diễn ra nằm trong quan hệ cung- cầu. Theo từ điển Kinh tế kinh doanh Anh-Việt định nghĩa cạnh tranh là “sự đối địch giữa các hãng kinh doanh trên cùng một thị trường để giành được nhiều khách Luan van 6 hàng, do đó nhiều lợi nhuận hơn cho bản thân, thường là bằng cách bán theo giá cả thấp nhất hay cung cấp một chất lượng hàng hóa tốt nhất” (Nguyễn Đức Dỵ, 1976). Theo quan điểm này ta thấy cạnh tranh diễn ra giữa các doanh nghiệp trên cùng một thị trường, hai phương thức cạnh tranh được đưa ra đó là hạ giá bán và nâng cao chất lượng sản phẩm.
Theo Michael Porter nhà kinh tế học của Mỹ thì: Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi. Từ các quan điểm nêu trên ta có thể khái quát được về khái niệm của cạnh tranh trong kinh tế là hoạt động trong lĩnh vực kinh tế, là sự tranh đua giữa các chủ thể (các chủ thể bao gồm: nhà sản xuất, nhà kinh doanh, người tiêu dùng) bằng nhiều biện pháp để đạt được những lợi thế trong sản xuất, tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ hoặc các lợi ích về kinh tế khác để thu cho mình được lợi ích lớn nhất.2 Vai trò của cạnh tranh Cạnh tranh là một quy luật kinh tế cơ bản nhất của sản xuất hàng hóa.
Đối với các doanh nghiệp thì cạnh tranh vừa là động lực phát triển cho doanh nghiệp nhưng cạnh tranh cũng làm cho các doanh nghiệp có thể sẽ loại khỏi thị trường khi không đáp ứng được yêu cầu. Ta thấy cạnh tranh có vai trò to lớn, tác động tích cực đến nền kinh tế thị trường. Cạnh tranh làm cho nền kinh tế phát triển. Khi các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau, lúc này các doanh nghiệp phải tập trung đầu tư, sử dụng các nguồn lực có hiệu quả nhất để đạt được mục tiêu hay doanh nghiệp đó sẽ phát triển.
Doanh nghiệp phát triển sẽ góp phần cho nền kinh tế phát triển. Cạnh tranh thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường khi có sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp thì sẽ tạo nên áp lực cho các doanh nghiệp buộc các doanh nghiệp phải cải tiến phương pháp sản xuất, quản lý doanh nghiệp, phát triển cải tiến sản phẩm của doanh nghiệp để doanh nghiệp đạt Luan van 7 được mục tiêu của mình hay nói cách khác cạnh tranh làm cho các doanh nghiệp thích ứng được với sự thay đổi của thị trường. Cạnh tranh giúp người tiêu dùng có thể lựa chọn theo nhu cầu và thị hiếu của mình.
Vì khi có sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, để tiêu thụ được sản phẩm thì các doanh nghiệp phải giảm giá bán để bán được nhiều sản phẩm hơn so với đối thủ. Không chỉ giảm giá các doanh nghiệp còn tìm cách nâng cao chất lượng sản phẩm hay cải tiến sản phẩm làm đa dạng thêm các sản phẩm cho người tiêu dùng. Đó cũng là lợi ích từ cạnh tranh mang lại. Ngoài những lợi ích mang lại trên thì cạnh tranh còn một số hạn chế: Khi một doanh nghiệp thất bại trong cạnh tranh có thể sẽ dẫn tới doanh nghiệp đó bị phá sản.
Khi doanh nghiệp phá sản sẽ làm cho người lao động trong doanh nghiệp đó bị thất nghiệp sẽ gây ra gánh nặng cho xã hội. Để giành thắng lợi trong cạnh tranh một số doanh nghiệp sẽ có thể sử dụng các phương thức cạnh tranh không lành mạnh, bất chấp mọi thủ đoạn bất chấp pháp luật để đánh bại đối thủ, điều này sẽ ảnh hưởng lớn về mặt kinh tế- xã hội.3 Phân loại cạnh tranh Căn cứ theo phương thức cạnh tranh Giá cả là một vũ khí lợi hại cho doanh nghiệp trong quá trình cạnh tranh nhưng việc sử dụng giá cả để cạnh tranh thì doanh nghiệp cần phải có sự nghiêm cứu kỹ lưỡng từ nhiều phía: khách hàng, đối thủ cạnh tranh. Cạnh tranh về giá có hai kiểu: Cạnh tranh bằng giá cả: là doanh nghiệp sử dụng giá cả làm yếu tố cạnh tranh với các đối thủ. Doanh nghiệp hạ thấp giá bán sản phẩm của mình hơn giá bán sản phẩm của đối thủ cạnh tranh.
Với phương thức này thì người tiêu dùng sẽ được hưởng lợi. Cạnh tranh phi giá: là doanh nghiệp áp dụng bất kỳ chính sách cạnh tranh nào, trừ chính sách cạnh tranh bằng giá để lấy được khách hàng mới từ khách hàng của đối thủ. Cạnh tranh phi giá có thể là cạnh tranh bằng chất lượng, dịch vụ của sản phẩm hay thời gian giao hàng,… Luan van 8 Căn cứ phạm vi kinh tế Cạnh tranh trong cùng một ngành: Cạnh tranh trong cùng một ngành là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất một loại sản phẩm hàng hóa trong cùng một ngành. Mục tiêu của cạnh tranh ngành là tiêu thụ sản phẩm nhiều nhất để thu lợi nhuận lớn hơn về phía mình.
Để đạt được mục tiêu này các doanh nghiệp phải thực hiện nhiều biện pháp như: cải tiến kỹ thuật sản xuất, nâng cao năng suất lao động làm cho chi phí sản xuất ra sản phẩm thấp, khi đó giá sản phẩm bán ra thị trường cũng sẽ thấp hơn từ đó lượng tiêu thụ sản phẩm tăng lên và thu về lợi nhuận lớn hơn. Cạnh tranh giữa các ngành với nhau: Trong một nền kinh tế bao gồm có nhiều ngành kinh tế. Mỗi một nền kinh tế của một nước sẽ có cơ cấu ngành khác nhau và giữa các ngành này cũng có sự cạnh tranh với nhau để đạt mục đích đầu tư có lợi hơn. Căn cứ vào chủ thể tham gia vào thị trường Cạnh tranh giữa người bán và người mua: là cạnh tranh diễn ra theo quy luật “mua rẻ, bán đắt”, người mua muốn mua được sản phẩm với giá rẻ, người bán muốn bán sản phẩm của mình với giá cao.
Qua quá trình thoả thuận giữa hai bên thì giá của sản phẩm được hình thành. Cạnh tranh giữa người bán với người bán: là cạnh tranh trên thị trường nhằm lấy được những điều kiện tốt nhất để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Khi xảy ra cạnh tranh giữa người bán và người bán thì người mua sẽ được hưởng lợi do khi các doanh nghiệp cạnh tranh, buộc các doanh nghiệp phải nâng cao chất lượng sản phẩm, sản phẩm đa dạng, giá cả thấp hơn để dành phần thắng. Cạnh tranh giữa người mua với người mua: là cuộc cạnh tranh giữa những người mua hàng hóa với nhau để mua được sản phẩm mà họ cần.
Với lượng mua lớn hơn lượng sản phẩm hàng hóa thì người mua chấp nhận mua sản phẩm hàng hóa đó với giá cao hơn và ngược lại. Căn cứ theo cấp độ cạnh tranh Luan van 9 Cạnh tranh cấp độ sản phẩm: là cạnh tranh giữa các sản phẩn, dịch vụ cùng chủng loại, ngành nghề với nhau. Để thu hút khách hàng sử dụng, tiêu thụ sản phẩm của mình doanh nghiệp đưa ra các hàng hóa, dịch vụ có chất lượng cao, giá thành hợp lý, các dịch vụ hậu mãi hấp dẫn, đặc biệt là các sản phẩm đem lại giá trị gia tăng cao hoặc mới lạ. Cạnh tranh cấp độ ngành/doanh nghiệp: là các doanh nghiệp căn cứ vào năng lực duy trì lợi nhuận và thị phần cạnh tranh để tồn tại, giữ vững ổn định trong sản xuất kinh doanh.
Cạnh tranh cấp độ quốc gia: thường được phân tích tổng thể, chú trọng vào môi trường kinh tế vĩ mô và vai trò của Chính phủ.2 Năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh là một khái niệm đến hiện nay vẫn chưa có sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu về kinh tế. Mỗi hướng tiếp cận khác nhau cho ta một khái niệm về năng lực cạnh tranh khác nhau. Theo Michael Poter: “Năng lực cạnh tranh là khả năng sáng tạo ra những sản phẩm có quy trình công nghệ độc đáo để tạo ra giá trị gia tăng cao, phù hợp với nhu cầu khách hàng, chi phí thấp, năng suất cao nhằm tăng lợi nhuận”. Năng lực cạnh tranh là khả năng sáng tạo trên sản phẩm hay trong quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm phù hợp với nhu cầu của khách hàng, với chi phí thấp và sản lượng cao để tăng được lợi nhuận cho nhà sản xuất.
Theo Từ điển chính sách thương mại Quốc tế, Mutrap II (2005), thì năng lực cạnh tranh là khả năng của một hãng, một lĩnh vực sản xuất hoặc thậm chí một nước duy trì hiệu quả kinh tế so với các hãng, lĩnh vực, nước khác. Năng lực cạnh tranh được nói đến là khả năng duy trì hiệu quả kinh tế của của 1 chủ thể so với các chủ thể khác (chủ thể có thể là : một nước, một doanh nghiệp, một sản phẩm).