Đánh giá năng lực cạnh tranh truy cập internet trên đtdđ của viettel và vinaphone

Đánh giá năng lực cạnh tranh truy cập internet trên di động của Viettel và Vinaphone, phân tích ưu nhược điểm và chất lượng dịch vụ.

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học

2015

92
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC CUNG CẤP DỊCH VỤ INTERNET TRÊN ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG

1.1. Khái quát về cạnh tranh

1.1.1. Khái niệm và bản chất của cạnh tranh

1.1.2. Khái niệm về cạnh tranh

1.2. Khái quát về năng lực cạnh tranh

1.2.1. Khái niệm và phân loại năng lực cạnh tranh

1.2.2. Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh doanh nghiệp

1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh

1.2.4. Đánh giá chung về năng lực cạnh tranh của các công ty cung cấp dịch vụ Internet trên điện thoại di động tại thị trường Việt nam

2. CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH GIỮA VIETTEL VÀ VINAPHONE TRONG LĨNH VỰC CUNG CẤP DỊCH VỤ INTERNET TRÊN ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG

2.1. Khái quát Viettel và các dịch vụ Internet trên điện thoại di động

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển

2.1.2. Các lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh và kết quả

2.1.3. Dịch vụ Internet trên điện thoại di dộng của Viettel

2.2. Khái quát Vinanphone và các dịch vụ Internet trên điện thoại di động

2.2.1. Quá trình hình thành và phát triển

2.2.2. Các lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh và kết quả

2.2.3. Dịch vụ Internet trên điện thoại di dộng của Vinaphone

2.3. Phân tích và đánh giá năng lực cạnh tranh giữa Viettel và Vinaphone trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ Internet trên điện thoại di dộng

2.3.1. Tiêu chí chung về doanh nghiệp

2.3.2. Tiêu chí định tính và định lượng cụ thể

2.3.3. Đánh giá chung về năng lực cạnh tranh của Viettel so với Vinaphone trong cung cấp dịch vụ Internet trên điện thoại di động

2.3.4. Những sự khác biệt và nổi trội của Viettel so với Vinaphone

2.3.5. So sánh chất lượng và giá thành 3G của Viettel, Vinaphone và các nhà mạng ở Việt Nam

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH VỀ CUNG CẤP DỊCH VỤ MOBILE INTERNET TRÊN ĐTDĐ

3.1. Mục tiêu và địnhhướng phát triển của Viettel giai đoạn 2015 – 2020

3.2. Đề xuất giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh về cung cấp dịch Mobile Internet của Viettel

3.2.1. Giải pháp về phát triển thị trường

3.2.2. Giải pháp phát triển và đa dạng hoá dịch vụ viễn thông

3.2.3. Giải pháp về công nghệ

3.2.4. Giải pháp về nguồn nhân lực

3.2.5. Giải pháp về bán hàng và chăm sóc khách hàng

3.2.6. Giải pháp về xây dựng văn hoá doanh nghiệp

3.3. Một số đề xuất kiến nghị

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về năng lực cạnh tranh dịch vụ internet di động giữa Viettel và Vinaphone

Năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ internet di động đang trở thành một yếu tố quyết định cho sự phát triển của các nhà mạng tại Việt Nam. Viettel và Vinaphone là hai trong số những nhà cung cấp dịch vụ lớn nhất, với những chiến lược khác nhau nhằm thu hút khách hàng. Việc so sánh năng lực cạnh tranh giữa hai nhà mạng này không chỉ giúp người tiêu dùng có cái nhìn rõ hơn về dịch vụ mà còn giúp các doanh nghiệp điều chỉnh chiến lược kinh doanh của mình.

1.1. Khái niệm năng lực cạnh tranh dịch vụ internet di động

Năng lực cạnh tranh dịch vụ internet di động được hiểu là khả năng của nhà cung cấp trong việc cung cấp dịch vụ chất lượng cao với giá cả hợp lý. Điều này bao gồm tốc độ internet, độ ổn định và chất lượng dịch vụ khách hàng.

1.2. Tầm quan trọng của việc so sánh năng lực cạnh tranh

So sánh năng lực cạnh tranh giữa Viettel và Vinaphone giúp người tiêu dùng lựa chọn dịch vụ phù hợp nhất với nhu cầu của mình. Đồng thời, nó cũng tạo ra áp lực cho các nhà mạng cải thiện dịch vụ và giá cả.

II. Vấn đề và thách thức trong năng lực cạnh tranh dịch vụ internet di động

Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, Viettel và Vinaphone phải đối mặt với nhiều thách thức. Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ và nhu cầu ngày càng cao của khách hàng đặt ra yêu cầu phải cải tiến dịch vụ liên tục. Ngoài ra, việc giữ chân khách hàng cũng trở thành một bài toán khó khăn cho cả hai nhà mạng.

2.1. Thách thức từ công nghệ mới

Công nghệ 4G và 5G đang dần trở thành tiêu chuẩn mới trong ngành viễn thông. Viettel và Vinaphone cần đầu tư mạnh mẽ vào cơ sở hạ tầng để đáp ứng nhu cầu này.

2.2. Áp lực từ đối thủ cạnh tranh

Sự xuất hiện của các nhà mạng mới và các dịch vụ internet di động giá rẻ đang tạo ra áp lực lớn cho Viettel và Vinaphone. Điều này yêu cầu họ phải có những chiến lược cạnh tranh hiệu quả hơn.

III. Phương pháp nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ internet di động

Để nâng cao năng lực cạnh tranh, Viettel và Vinaphone cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Từ việc cải thiện chất lượng dịch vụ đến việc tối ưu hóa giá cả, các nhà mạng cần có những chiến lược rõ ràng và hiệu quả.

3.1. Cải thiện chất lượng dịch vụ

Cải thiện chất lượng dịch vụ internet di động là yếu tố then chốt. Điều này bao gồm việc nâng cao tốc độ truy cập và độ ổn định của mạng.

3.2. Tối ưu hóa giá cả và khuyến mãi

Cung cấp các gói cước linh hoạt và các chương trình khuyến mãi hấp dẫn sẽ giúp thu hút và giữ chân khách hàng.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về năng lực cạnh tranh

Nghiên cứu cho thấy rằng Viettel hiện đang dẫn đầu về chất lượng dịch vụ internet di động, trong khi Vinaphone lại nổi bật với các gói cước hấp dẫn. Việc phân tích này không chỉ giúp các nhà mạng điều chỉnh chiến lược mà còn cung cấp thông tin hữu ích cho người tiêu dùng.

4.1. Kết quả khảo sát khách hàng

Khảo sát cho thấy khách hàng đánh giá cao chất lượng dịch vụ của Viettel hơn Vinaphone, nhưng lại ưa chuộng các gói cước của Vinaphone hơn.

4.2. Phân tích thị phần

Thị phần của Viettel trong lĩnh vực dịch vụ internet di động đang có xu hướng tăng, trong khi Vinaphone cần cải thiện để không bị tụt lại.

V. Kết luận và tương lai của năng lực cạnh tranh dịch vụ internet di động

Tương lai của năng lực cạnh tranh dịch vụ internet di động giữa Viettel và Vinaphone sẽ phụ thuộc vào khả năng đổi mới và cải tiến dịch vụ của cả hai nhà mạng. Việc nắm bắt xu hướng công nghệ mới và đáp ứng nhu cầu khách hàng sẽ là chìa khóa cho sự thành công.

5.1. Dự báo xu hướng phát triển

Dự báo rằng trong tương lai, dịch vụ internet di động sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ với sự xuất hiện của công nghệ 5G.

5.2. Khuyến nghị cho Viettel và Vinaphone

Cần có những chiến lược rõ ràng để cải thiện chất lượng dịch vụ và giá cả, đồng thời tăng cường chăm sóc khách hàng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

27/07/2025
Đánh giá năng lực cạnh tranh truy cập internet trên đtdđ của viettel và vinaphone

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC CUNG CẤP DỊCH VỤ INTERNET TRÊN ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG.1 Khái quát về cạnh tranh 1.1 Khái niệm và bản chất của cạnh tranh 1.1 Khái niệm về cạnh tranh “Cạnh tranh” là một phạm trù kinh tế cơ bản. Điểm lại các lý thuyết cạnh tranh trong lịch sử, có thể thấy hai trường phái tiêu biểu: Trường phái cổ điển và trường phái hiện đại. Trường phái cổ điển với các đại biểu tiêu biểu như Adam Smith, John Stuart Mill, Darwin và C.Mác đã có những đóng góp nhất định trong lý thuyết cạnh tranh sau này. Trường phái hiện đại với hệ thống lý thuyết đồ sộ với 3 quan điểm tiếp cận: tiếp cận theo tổ chức ngành với đại diện là trường phái Chicago và Harvard; tiếp cận tâm lý với đại diện là Meuger, Mises, Chumpeter, Hayek thuộc học phái Viên; tiếp cận “cạnh tranh hoàn hảo” phát triển lý thuyết của Tân cổ điển.

Như vậy, cạnh tranh là một khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau và có nhiều cách quan niệm khác nhau dưới các góc độ khác nhau: i) Theo một định nghĩa được A. Lobe đưa ra từ gần một thế kỷ nay có thể hiểu cạnh tranh là sự cố gắng của hai hay nhiều người thông qua những hành vi và khả năng nhất định để cùng đạt được một mục đích. ii) Khi bàn về cạnh tranh, Adam Smith cho rằng nếu tự do cạnh tranh, các cá nhân chèn ép nhau thì cạnh tranh buộc mỗi cá nhân phải cố gắng làm công việc của mình một cách chính xác. Ngược lại, chỉ có mục đích lớn lao nhưng lại không có động cơ thúc đẩy thực hiện mục đích ấy thì rất ít có khả năng tạo ra được bất kỳ sự cố gắng lớn nào.

Như vậy, có thể hiểu rằng cạnh tranh khơi dậy sự nỗ lực chủ quan của con người, góp phần làm tăng của cải của nền kinh tế. iii) Khi nghiên cứu về cạnh tranh, K. Marx cho rằng “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu lợi nhận siêu ngạch”. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com iv) Kinh tế học của P.

Samuelson định nghĩa: “Cạnh tranh là sự tranh giành thị trường để tiêu thụ sản phẩm giữa các nhà doanh nghiệp”. v) Từ điển rút gọn về kinh doanh định nghĩa: “Cạnh tranh là sự ganh đua, kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình” , tức là nâng cao vị thế của người này và làm giảm vị thế của người khác. vi) Theo Từ điển Bách khoa của Việt Nam thì “Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất”. vii) Theo các tác giả của cuốn Các vấn đề pháp lý về thể chế, về chính sách cạnh tranh và kiểm soát độc quyền kinh doanh thì: “Cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành một số nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường, để đạt được mục tiêu kinh doanh cụ thể”.

Ở Việt Nam, khi đề cập đến “cạnh tranh” người ta thường là vấn đề giành lợi thế về giá cả hàng hóa, dịch vụ mua bán và đó là phương thức để giành lợi nhuận cao cho các chủ thể kinh tế. Trên quy mô toàn xã hội, cạnh tranh là phương thức phân bổ các nguồn lực một cách tối ưu và do đó nó trở thành động lực bên trong thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Mặt khác, với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của các chủ thể kinh doanh, cạnh tranh cũng dẫn đến yếu tố thúc đẩy quá trình tích lũy và tập trung tư bản không đồng đều ở các doanh nghiệp. Mặc dù còn có thể dẫn ra nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm cạnh tranh, song qua các định nghĩa trên có thể rút ra những nét chung về cạnh tranh như sau: Thứ nhất, khi nói đến cạnh tranh là nói đến sự ganh đua giữa một (hoặc một nhóm) người nhằm giành lấy phần thắng của nhiều chủ thể cùng tham dự.

Cạnh tranh nâng cao vị thế của người này và làm giảm vị thế của những người còn lại. Thứ hai, mục đích trực tiếp của cạnh tranh là một đối tượng cụ thể nào đó mà các bên đều muốn giành giật (như một cơ hội, một sản phẩm dịch vụ, một dự án hay một thị trường, một khách hàng.) với mục đích cuối cùng là kiếm được lợi nhuận cao. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ ba, cạnh tranh diễn ra trong một môi trường cụ thể, có các ràng buộc chung mà các bên tham gia phải tuân thủ như: đặc điểm sản phẩm, thị trường, các điều kiện pháp lý, các thông lệ kinh doanh… Thứ tư, trong quá trình cạnh tranh, các chủ thể tham gia cạnh tranh có thể sử dụng nhiều công cụ khác nhau: cạnh tranh bằng đặc tính và chất lượng sản phẩm dịch vụ, cạnh tranh bằng giá bán sản phẩm dịch vụ; cạnh tranh bằng nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm (tổ chức các kênh tiêu thụ); cạnh tranh nhờ dịch vụ bán hàng tốt; cạnh tranh thông qua hình thức thanh toán.2 Nguồn gốc và bản chất của cạnh tranh Các học thuyết về kinh tế thị trường hiện đại đều khẳng định: cạnh tranh là động lực phát triển nội tại của mỗi nền kinh tế, cạnh tranh chỉ xuất hiện và tồn tại trong điều kiện của kinh tế thị trường. Người tiêu dùng và các doanh nghiệp tác động qua lại lẫn nhau trên thị trường để xác định ba vấn đề trọng tâm: sản xuất cái gì? như thế nào? và cho ai? Do đó, người tiêu dùng giữ vị trí trung tâm trong nền kinh tế và là đối tượng hướng tới của mọi doanh nghiệp.

Dưới sự tác động của quy luật cung cầu và quy luật giá trị, các chủ thể kinh doanh cạnh tranh với nhau để cung ứng sản phẩm cho người tiêu dùng, tuy nhiên sản xuất không vượt khả năng kinh doanh. Dưới tác động của cạnh tranh, thị trường tự thân nó luôn giải quyết mâu thuẫn giữa sở thích của người tiêu dùng và năng lực sản xuất hạn chế, do đó cạnh tranh là lực lượng điều tiết trong hệ thống thị trường. Các áp lực liên tục của người tiêu dùng buộc các chủ thể kinh doanh phải phản ứng, phù hợp với các mong muốn thay đổi của người tiêu dùng. Cạnh tranh thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển, nâng cao NSLĐ, đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung sản xuất trong điều kiện các yếu tố của sản xuất đều và luôn thiếu hụt.

Cạnh tranh thực sự là một cuộc đua tranh, khi các chủ thể kinh doanh có lợi ích cơ bản là mâu thuẫn nhau. Do vậy, cạnh tranh chỉ xuất hiện trong điều kiện của kinh tế thị trường, nơi mà cung cầu là “cốt vật chất”, giá cả là “diện mạo”, cạnh tranh là “linh hồn sống” của thị trường. Cạnh tranh là một quy luật của kinh tế thị trường trong những điều kiện của những tiền đề pháp lý cụ thể. Đó là tự do thương mại mà theo đó tự do kinh doanh, tự do khế ước và quyền tự chủ của cá nhân được hình thành và bảo đảm.

Cạnh tranh xuất hiện khi pháp luật thừa nhận và bảo vệ tính đa dạng của các loại hình sở hữu với tính cách 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com là nguồn gốc của cạnh tranh. Cạnh tranh hiện thân là động lực phát triển của xã hội; là nhân tố làm lành mạnh hoá các quan hệ xã hội khi Nhà nước bảo đảm sự bình đẳng trước pháp luật của mọi thành phần kinh tế. Nhìn từ phía các chủ thể kinh doanh, cạnh tranh là phương thức giải quyết mâu thuẫn về lợi ích tiềm năng giữa các nhà kinh doanh với vai trò quyết định của người tiêu dùng. Trên quy mô toàn xã hội, cạnh tranh là phương thức phân bổ các nguồn lực một cách tối ưu, do đó là động lực bên trong thúc đẩy nền kinh tế phát triển.

Cùng với mục đích tối đa hoá lợi nhuận, cạnh tranh đã thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn diễn ra không đều ở các ngành, lĩnh vực kinh tế khác nhau. Đây là tiền đề vật chất của các hình thái cạnh tranh. Cạnh tranh còn là môi trường đào thải các doanh nghiệp không thích nghi được với các điều kiện của thị trường. Ở nghĩa này, cạnh tranh là nhân tố hiệu chỉnh bên trong của thị trường.

Bản chất kinh tế của cạnh tranh thể hiện mục đích vì lợi nhuận và chi phối thị trường. Bản chất xã hội của cạnh tranh bộc lộ đạo đức và uy tín của mỗi chủ thể kinh doanh. Dưới tác động điều tiết vĩ mô, sự cạnh tranh ở mỗi nước còn có bản chất chính trị khác nhau. Cạnh tranh khác về bản chất so với thi đua XHCN.

Phong trào thi đua XHCN nổi lên cùng với chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, công cụ kế hoạch hoá như những hiện tượng của động lực thúc đẩy và phát triển kinh tế. Hiện tượng này không mang màu sắc của “đấu tranh” giành giật, bởi vì trong đời sống kinh tế, chỉ tồn tại một nhà đầu tư duy nhất và đồng thời là chủ nhân của quyền lực công cộng, đó là Nhà nước. Vì vậy, thi đua không thể xuất hiện với tính cách là cuộc đấu tranh và là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Cạnh tranh khác với thi đấu thể thao.

Trong cơ chế thị trường, con người được tự do và sáng tạo, không có luật chơi cụ thể riêng rẽ trong mọi điều kiện. Trên thương trường, không thể áp dụng luật chơi và thước đo thành tích như trong thi đấu thể thao. Hơn nữa, sự đua tranh trong hoạt động cạnh tranh cũng khác với cuộc đua tranh đoạt một giải thưởng. Nếu đua tranh để đoạt một giải thưởng là cuộc đua tranh một lần thì cuộc đua tranh trong kinh tế thị trường diễn ra liên tục.

Người tham gia cạnh tranh không được phép dừng lại, luôn phải tiến về phía trước để chiến thắng. Tóm lại, cạnh tranh chỉ xuất hiện khi có các điều kiện sau: một là, phải có ít nhất hai chủ thể cùng tham gia cạnh tranh và các chủ thể có cùng mục đích phải đạt được; 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ