Tổng quan nghiên cứu
Ngày 11 tháng 01 năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), đánh dấu bước ngoặt hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng trên mọi lĩnh vực. Ngành viễn thông với tính chất là ngành kinh tế kỹ thuật dịch vụ thuộc kết cấu hạ tầng then chốt của nền kinh tế quốc dân, vừa mang tính chất hạ tầng sản xuất vừa đóng vai trò hạ tầng xã hội. Khi gia nhập WTO, ngành viễn thông đối mặt với sức ép cạnh tranh kép: áp lực từ các tập đoàn viễn thông đa quốc gia khi phải mở cửa hoàn toàn thị trường dịch vụ theo lộ trình từ 3 đến 4 năm, và sức ép nội tại từ nhu cầu bùng nổ của nền kinh tế trong nước.
Trước bối cảnh đó, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản trị kinh doanh quốc tế của tác giả Lê Thị Thanh Hà (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, năm 2008) với đề tài "Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành viễn thông khi Việt Nam là thành viên WTO" được thực hiện nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh ngành, phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao vị thế của ngành.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung vào khối các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ viễn thông tại Việt Nam (gồm dịch vụ cố định, di động và Internet băng rộng) trong giai đoạn chuyển đổi từ năm 1997 đến tháng 9 năm 2008. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa chiến lược đối với việc định hình chính sách phát triển hạ tầng số, hỗ trợ duy trì tốc độ tăng trưởng doanh thu ngành trên 15% đến 20% mỗi năm, đồng thời thúc đẩy mục tiêu phát triển kinh tế tổng thể khi các nghiên cứu quốc tế chỉ ra rằng gia tăng 10% mật độ điện thoại di động sẽ đóng góp trực tiếp 0,59% vào tăng trưởng GDP tại các quốc gia đang phát triển.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng lý thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia thông qua mô hình viên kim cương mở rộng của Michael Porter kết hợp với lý thuyết tổ chức công nghiệp hiện đại. Khung phân tích xác định năng lực cạnh tranh của ngành viễn thông chịu sự tác động tương hỗ chặt chẽ từ 4 nhóm nhân tố nội tại và 2 yếu tố ngoại sinh:
- Thứ nhất, điều kiện các yếu tố sản xuất: bao gồm tài nguyên nhân lực trình độ cao, tài nguyên tri thức công nghệ viễn thông, kho số, hạ tầng mạng truyền dẫn và nguồn vốn đầu tư.
- Thứ hai, điều kiện cầu nội địa: bao gồm quy mô thị trường, tốc độ tăng trưởng thuê bao và tính chất năng động của người tiêu dùng trong nước.
- Thứ ba, các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan: gồm các doanh nghiệp phát triển hạ tầng mạng viễn thông, công nghiệp nội dung số và các doanh nghiệp công nghệ thông tin.
- Thứ tư, chiến lược, cơ cấu và mức độ cạnh tranh nội bộ giữa các doanh nghiệp viễn thông trong nước.
- Hai yếu tố bổ trợ ngoại sinh là vai trò điều tiết của Chính phủ và các yếu tố Cơ hội từ môi trường toàn cầu hóa.
Các khái niệm chính được chuẩn hóa trong nghiên cứu gồm: Năng lực cạnh tranh quốc gia (đo lường qua 8 nhóm với gần 200 chỉ tiêu trong hệ số GCI của Diễn đàn Kinh tế Thế giới - WEF); Năng lực cạnh tranh ngành viễn thông (khả năng tối ưu hóa nguồn lực để tạo giá trị gia tăng cao hơn đối thủ quốc tế); Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp và Năng lực cạnh tranh dịch vụ viễn thông (đo bằng thị phần, chất lượng dịch vụ và năng suất lao động).
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp thống kê mô tả, phân tích logic, so sánh đối chuẩn quốc tế (benchmarking) và mô hình hóa hệ thống. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập chính thống từ Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU), Tổ chức Business Monitor International (BMI), Bộ Thông tin và Truyền thông, Tổng cục Thống kê và báo cáo tài chính của các doanh nghiệp viễn thông giai đoạn 2002-2007.
Hệ thống đánh giá năng lực cạnh tranh được xây dựng dựa trên 3 bộ chỉ tiêu chuẩn hóa: Bộ chỉ tiêu A (ITU) so sánh mật độ thuê bao và doanh thu; Bộ chỉ số B (BMI) xếp hạng môi trường kinh doanh qua 4 trụ cột rủi ro và điều tiết; Bộ chỉ số C (ICT-OI của ITU) đo lường tiềm năng phát triển qua 4 chỉ số thành phần gồm Network Index, Skill Index, Uptake Index và Intensity Index.
Về quy mô và phương pháp chọn mẫu, nghiên cứu sử dụng tập dữ liệu so sánh bao phủ 203 quốc gia và nền kinh tế thành viên ITU, kết hợp mẫu đại diện gồm 6 doanh nghiệp viễn thông chủ lực tại Việt Nam (VNPT, Viettel, EVN Telecom, Hanoi Telecom, Saigon Postel, FPT Telecom) chiếm trên 95% thị phần toàn ngành giai đoạn 2004-2007. Phương pháp chọn mẫu chủ đích (purposive sampling) được lựa chọn vì các doanh nghiệp này đại diện hoàn chỉnh cho hai khối doanh nghiệp có hạ tầng mạng (FBO) và doanh nghiệp dịch vụ không hạ tầng (SBO), giúp phản ánh trung thực toàn cảnh cấu trúc cạnh tranh viễn thông Việt Nam. Lý do lựa chọn mô hình Porter và các bộ chỉ số ITU/BMI là nhằm đảm bảo tính định lượng, tính so sánh xuyên quốc gia và phù hợp với các chuẩn mực hội nhập quốc tế.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Nghiên cứu chỉ ra 3 phát hiện trọng tâm về thực trạng năng lực cạnh tranh của ngành viễn thông Việt Nam trong giai đoạn hội nhập WTO:
Thứ nhất, tốc độ phát triển thuê bao và doanh thu tăng trưởng vượt bậc nhưng cấu trúc thị phần có sự tập trung cao độ và mất cân đối nghiêm trọng. Trong giai đoạn 2002-2007, thị trường di động tăng trưởng bùng nổ, đưa mật độ điện thoại toàn quốc đạt trên 60 máy trên 100 dân vào 9 tháng đầu năm 2008. Tuy nhiên, hai doanh nghiệp nhà nước chủ đạo là VNPT (sở hữu Vinaphone, MobiFone) và Viettel đã chiếm giữ trên 85% tổng thị phần di động, trong khi các doanh nghiệp mới gia nhập như Hanoi Telecom hay Saigon Postel chỉ chiếm giữ dưới 5% thị phần mỗi đơn vị.
Thứ hai, năng suất lao động và hàm lượng công nghệ dịch vụ giá trị gia tăng (VAS) còn ở mức thấp so với khu vực. Doanh thu bình quân trên một thuê bao (ARPU) sụt giảm liên tục từ 10% đến 15% mỗi năm trong giai đoạn 2005-2007 do các doanh nghiệp chủ yếu cạnh tranh bằng công cụ giảm giá cước dịch vụ thoại và tin nhắn truyền thống. Doanh thu từ dịch vụ dữ liệu và giá trị gia tăng chỉ chiếm tỷ trọng khiêm tốn dưới 15% tổng doanh thu toàn ngành.
Thứ ba, thể chế điều tiết thị trường chưa hoàn thiện và còn tồn tại xung đột lợi ích. Cơ quan quản lý nhà nước chưa đạt được tính độc lập thực sự theo chuẩn mực của Bản tham chiếu WTO (Reference Paper), dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp nắm giữ hạ tầng thiết yếu áp đặt rào cản kết nối mạng và duy trì cơ chế bù chéo giá cước, làm suy giảm năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thuần túy (SBO).
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân của những tồn tại trên bắt nguồn từ lịch sử phát triển độc quyền viễn thông kéo dài trước năm 2000, khiến hạ tầng mạng lưới phát triển phân tán, thiếu quy hoạch dùng chung gây lãng phí từ 20% đến 30% tổng chi phí đầu tư trạm phát sóng (BTS) và tuyến cáp quang.
Khi đối chiếu với các nghiên cứu quốc tế, tại Nhật Bản, việc đầu tư 1.000 tỷ Yên cho công nghệ thông tin và viễn thông làm gia tăng GNP ngắn hạn 1,03 lần và trung hạn 1,45 lần. Tại các nền kinh tế đang phát triển, kết quả của Trung tâm Nghiên cứu Chính sách Kinh tế (CEPR - Anh) khẳng định mức lan tỏa 0,59% tăng trưởng GDP khi mật độ di động tăng 10%. Điều này chứng minh tiềm năng phát triển của viễn thông Việt Nam là rất lớn nếu giải quyết được nút thắt thể chế. Theo cam kết WTO, Việt Nam phải cho phép nước ngoài liên doanh nắm giữ tới 49% vốn trong doanh nghiệp có hạ tầng mạng (FBO) và 65% đến 70% vốn trong doanh nghiệp dịch vụ không hạ tầng (SBO) sau 3 năm. Nếu không nhanh chóng nâng cao nội lực, các doanh nghiệp trong nước sẽ mất dần thị phần nội địa ngay trên sân nhà.
Về phương thức trình bày, toàn bộ các phát hiện định lượng trên có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ cột chồng mô tả biến động thị phần giai đoạn 2002-2007, kết hợp với bảng đối chuẩn ma trận chỉ số ICT-OI giữa Việt Nam và các nước ASEAN+3 để làm nổi bật khoảng cách năng lực cạnh tranh công nghệ.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả phân tích thực trạng và xu hướng phát triển công nghệ viễn thông toàn cầu, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành viễn thông Việt Nam:
- Thành lập Cơ quan Quản lý Viễn thông Độc lập (NRA): Chính phủ và Bộ Thông tin và Truyền thông cần sớm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý để tách bạch hoàn toàn chức năng quản lý nhà nước ra khỏi hoạt động sản xuất kinh doanh của các tập đoàn viễn thông trước năm 2010. Mục tiêu là giảm 30% thời gian xử lý tranh chấp kết nối và bảo đảm 100% thủ tục cấp phép công khai, minh bạch, bảo vệ cạnh tranh bình đẳng theo đúng quy định của Bản tham chiếu WTO.
- Tăng cường hợp tác sử dụng chung cơ sở hạ tầng mạng lưới: Cơ quan quản lý phối hợp cùng các doanh nghiệp FBO xây dựng quy chế chia sẻ hạ tầng dùng chung gồm trạm BTS, cột ăng ten, cống bể cáp trong giai đoạn 2009-2012. Giải pháp này hướng tới mục tiêu tiết kiệm từ 25% đến 30% chi phí đầu tư hạ tầng toàn ngành, giảm thiểu lãng phí nguồn lực xã hội và bảo đảm mỹ quan đô thị.
- Đẩy mạnh chính sách kết nối tự do và kiểm soát giá cước minh bạch: Nhà nước cần xóa bỏ triệt để các hình thức trợ cấp chéo chống cạnh tranh, áp dụng phương pháp quản lý giá trần và giá sàn linh hoạt, đồng thời giảm cước kết nối liên mạng từ 15% đến 20% trong giai đoạn 2009-2011 để khuyến khích các nhà cung cấp dịch vụ mới phát triển.
- Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực và phát triển dịch vụ giá trị gia tăng (VAS): Các doanh nghiệp viễn thông cần liên kết với các trường đại học công nghệ để đào tạo chuyên sâu về mạng thế hệ mới (NGN), đặt mục tiêu nâng tỷ lệ lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên đạt mức 70% vào năm 2015; đồng thời tăng tỷ trọng doanh thu từ dịch vụ gia tăng và nội dung số lên mức 35% tổng doanh thu vào năm 2020.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình nghiên cứu mang giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao đối với 4 nhóm đối tượng trọng tâm:
- Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học và hệ thống luận cứ từ kinh nghiệm quốc tế giúp Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Kế hoạch và Đầu tư xây dựng Luật Viễn thông, hoàn thiện các quy định về quản lý kết nối, dùng chung hạ tầng và giám sát chống độc quyền nhóm.
- Ban lãnh đạo và chuyên viên chiến lược tại các doanh nghiệp viễn thông (FBO và SBO): Hỗ trợ các nhà mạng như VNPT, Viettel, MobiFone, FPT Telecom nhận diện cấu trúc thị trường, đánh giá chính xác 5 áp lực cạnh tranh để xây dựng chiến lược kinh doanh dịch vụ mới, tối ưu chi phí vận hành và nâng cao chỉ số ARPU.
- Các nhà đầu tư quốc tế và tổ chức tư vấn kinh tế: Cung cấp chuỗi dữ liệu 11 năm (1997-2008) về dung lượng thị trường và hệ thống phân tích cam kết mở cửa sở hữu vốn từ 49% đến 70%, phục vụ việc thẩm định cơ hội đầu tư liên doanh vào thị trường viễn thông Việt Nam.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế, Quản trị kinh doanh: Là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp luận ứng dụng mô hình Kim cương Michael Porter và hệ thống chỉ số ITU, BMI trong việc phân tích năng lực cạnh tranh ngành dịch vụ hạ tầng kinh tế.
Câu hỏi thường gặp
Cam kết WTO của Việt Nam trong lĩnh vực dịch vụ viễn thông có những quy định ràng buộc nào về tỷ lệ sở hữu vốn nước ngoài? Theo cam kết gia nhập WTO, Việt Nam cho phép nhà đầu tư nước ngoài thành lập liên doanh cung cấp dịch vụ có hạ tầng mạng (FBO) với tỷ lệ vốn góp tối đa 49%. Đối với dịch vụ không có hạ tầng mạng (SBO), tỷ lệ sở hữu nước ngoài được phép từ 51% đến 70% với lộ trình thực hiện đầy đủ trong vòng 3 năm kể từ ngày gia nhập.
Mô hình viên kim cương của Michael Porter được vận dụng đánh giá năng lực cạnh tranh ngành viễn thông như thế nào? Mô hình đánh giá 4 nhân tố nội tại gồm: điều kiện sản xuất (hạ tầng, kho số, nhân lực), điều kiện cầu nội địa (mật độ thuê bao), công nghiệp hỗ trợ (nội dung số, thiết bị CNTT) và chiến lược cạnh tranh giữa các nhà mạng; đồng thời phân tích tác động từ chính sách điều tiết của Chính phủ và yếu tố thời cơ hội nhập toàn cầu.
Vì sao việc thành lập Cơ quan quản lý viễn thông độc lập là yêu cầu bắt buộc sau khi Việt Nam gia nhập WTO? Bản tham chiếu viễn thông WTO quy định cơ quan quản lý nhà nước phải độc lập hoàn toàn với các nhà cung cấp dịch vụ. Việc thành lập cơ quan độc lập giúp xóa bỏ xung đột lợi ích, tách bạch chức năng quản lý với quyền sở hữu doanh nghiệp nhà nước, bảo đảm tính công bằng trong phân bổ tài nguyên và xử lý tranh chấp kết nối.
Sự phát triển của ngành viễn thông tạo ra tác động lan tỏa kinh tế như thế nào đối với các quốc gia đang phát triển? Nghiên cứu quốc tế của Trung tâm CEPR chứng minh rằng khi mật độ điện thoại di động tăng 10% sẽ giúp tăng trưởng kinh tế của các quốc gia đang phát triển tăng thêm 0,59%. Viễn thông đóng vai trò hạ tầng thông tin huyết mạch, giúp giảm chi phí giao dịch và nâng cao năng suất của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Doanh nghiệp viễn thông Việt Nam cần thực hiện chiến lược gì để giữ vững thị phần khi mở cửa thị trường hoàn toàn? Thay vì tiếp tục chạy đua hạ giá cước dịch vụ thoại truyền thống làm giảm từ 10% đến 15% chỉ số ARPU hàng năm, các nhà mạng phải chuyển trọng tâm sang nâng cao chất lượng dịch vụ, phát triển hệ sinh thái dịch vụ nội dung số và chủ động hợp tác dùng chung hạ tầng để tiết kiệm từ 25% đến 30% chi phí đầu tư.
Kết luận
- Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh ngành viễn thông thông qua mô hình viên kim cương Michael Porter kết hợp hệ thống chỉ tiêu quốc tế của ITU và BMI.
- Đánh giá thực chứng bức tranh phát triển viễn thông Việt Nam giai đoạn 1997-2008, nhận diện rõ những bước tiến vượt bậc về mật độ thuê bao cùng các điểm nghẽn về cấu trúc thị trường tập trung và cơ chế điều tiết.
- Phân tích sâu sắc các cam kết mở cửa thị trường của Việt Nam trong WTO với thời hạn chuyển tiếp từ 3 đến 4 năm, chỉ ra những cơ hội thu hút công nghệ và thách thức cạnh tranh gay gắt từ các tập đoàn toàn cầu.
- Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính đột phá gồm: thành lập cơ quan quản lý độc lập, chia sẻ hạ tầng mạng lưới, tự do hóa kết nối và nâng cao chất lượng nhân lực công nghệ cao.
- Xác lập định hướng phát triển ngành viễn thông trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đóng vai trò xương sống cho việc xây dựng nền kinh tế tri thức và xã hội thông tin tại Việt Nam đến năm 2020.
Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp khung đánh giá định lượng khoa học và các khuyến nghị chính sách sát thực tiễn cho tiến trình tự do hóa thị trường viễn thông. Trong giai đoạn tiếp theo, các cơ quan quản lý và doanh nghiệp cần khẩn trương rà soát thể chế, đẩy mạnh đổi mới sáng tạo số và chuẩn hóa hạ tầng viễn thông hiện đại. Quý độc giả và các nhà quản trị hãy áp dụng ngay các phát hiện và khung phân tích từ luận văn này để tối ưu hóa chiến lược cạnh tranh trong kỷ nguyên kinh tế số.