CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP CUNG CẤP DỊCH VỤ THÔNG TIN DI ĐỘNG 1. KHÁI QUÁT VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1. Khái niệm cạnh tranh. Thuật ngữ cạnh tranh được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau.
Theo Tự điển Tiếng Việt thì cạnh tranh là: "tranh đua giữa những cá nhân, tập thể có chức năng như nhau, nhằm giành phần hơn, phần thắng về mình" [9]. Trong Tự điển thuật ngữ Kinh tế học, cạnh tranh được định nghĩa là: "sự đấu tranh đối lập giữa các cá nhân, tập đoàn hay quốc gia. Cạnh tranh nảy sinh khi hai bên, hay nhiều bên cố giành lấy thứ mà không phải ai cũng có được" [11]. Ngoài ra, còn có rất nhiều định nghĩa không đồng nhất về cạnh tranh do xuất phát từ cách tiếp cận khác nhau, liên quan tới nội dung và cấp độ xem xét khác nhau.
Về bản chất, cạnh tranh là quá trình lựa chọn trên cơ sở so sánh giữa các nhóm đối tượng có tính năng tác dụng tương đối giống nhau, có thể thay thế lẫn nhau. Ngày nay, hầu hết các nước trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh và coi cạnh tranh không những là môi trường của sự phát triển mà còn là một yếu tố quan trọng làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội, tạo động lực cho sự phát triển. Do đó, quan điểm đầy đủ về cạnh tranh có thể được nhìn nhận như sau: "Cạnh tranh là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa các nhà sản xuất, kinh doanh với nhau dựa trên chế độ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất nhằm đạt được những điều kiện sản xuất và tiêu thụ có lợi nhất, đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển". Kinh doanh trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, các doanh nghiệp bắt buộc phải chấp nhận cạnh tranh, ganh đua với nhau, phải luôn không ngừng phát triển để giành được ưu thế tương đối so với đối thủ.
Nếu như lợi nhuận là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh thì cạnh tranh bắt buộc họ phải tiến hành các hoạt động một cách có hiệu quả cao nhất nhằm thu được lợi nhuận tối đa. Kết quả cạnh tranh sẽ loại bỏ được các doanh nghiệp yếu kém và thúc đẩy các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả. Ở Việt Nam, cùng với sự chuyển đổi của nền kinh tế, cạnh tranh được thừa nhận là một quy luật kinh tế khách 5 quan và được coi như là một nguyên tắc cơ bản trong tổ chức điều hành kinh doanh của các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ TTDĐ đứng trước những thách thức cạnh tranh ngày càng khốc liệt.
Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ viễn thông đã đưa lại cho khách hàng nhiều sự lựa chọn khác nhau để thoả mãn nhu cầu về thông tin của mình. Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ TTDĐ không chỉ cạnh tranh với nhau mà còn cạnh tranh gay gắt với các dịch vụ thay thế khác. Năng lực cạnh tranh. Theo quan niệm của Humbert Lesca: “Năng lực cạnh tranh là năng lực của doanh nghiệp có thể tự duy trì lâu dài một cách có ý chí trên thị trường cạnh tranh và tiến triển bằng cách thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất cũng đủ để trang trải cho việc thực hiện những mục tiêu của doanh nghiệp” [12].
Như vậy, một doanh nghiệp được coi là có năng lực cạnh tranh phải là doanh nghiệp dám chấp nhận cạnh tranh trên thương trường, chấp nhận sự tồn tại của đối thủ cạnh tranh, chấp nhận việc phải giành giật những điều kiện thuận tiện có lợi cho chính mình. Cùng với việc chấp nhận cạnh tranh, doanh nghiệp phải có ý chí và khả năng duy trì các hoạt động kinh doanh và thực hiện được những mục tiêu phát triển đã đề ra. Chính do tác động của cạnh tranh mà một doanh nghiệp muốn có vị trí vững chắc trên thị trường và thị phần ngày càng mở rộng thì cần phải có tiềm lực đủ mạnh như năng lực tài chính, năng lực sản xuất, nguồn nhân lực … để đảm bảo đứng vững trong cạnh tranh, đó chính là năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đặc thù trong cạnh tranh của viễn thông Việt Nam.
Ngày 15/8/1987 Chính phủ ra nghị định số 121/HĐBT ban hành điều lệ Bưu chính Viễn thông. Theo Nghị định này, việc cung cấp các dịch vụ Bưu chính, Viễn thông thuộc độc quyền Nhà nước, phù hợp với đường lối, chính sách phát triển kinh tế và cơ chế quản lý Nhà nước lúc bấy giờ và đã tạo ra hành lang pháp luật rất quan trọng trong việc quản lý và phát triển ngành Bưu chính Viễn thông. Như vậy độc quyền của ngành Bưu điện là độc quyền tự nhiên mang tính lịch sử. Thực hiện chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN được đề ra từ Đại hội Đảng lần thứ VI, các chính sách của nhà nước về Bưu chính, Viễn thông đã từng 6 bước được thay đổi phù hợp với yêu cầu thực tế cho mỗi giai đoạn.
Quá trình mở cửa thị trường, xoá bỏ độc quyền doanh nghiệp viễn thông ở nước ta đã được khởi động từ năm 1995, Chính phủ đã chính thức cho phép hai doanh nghiệp nhà nước là Công ty điện tử viễn thông quân đội (Viettel) và Công ty cổ phần dịch vụ bưu chính viễn thông Sài gòn (SPT) được phép thành lập và cung cấp dịch vụ viễn thông trong nước và quốc tế bên cạnh doanh nghiệp chủ lực của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam. Điều 95 nghị định số 109/1997NĐ-CP ngày 12/11/1997 của chính phủ về bưu chính, viễn thông cũng nêu rõ: “doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông là doanh nghiệp nhà nước hoặc công ty cổ phần mà nhà nước chiếm cổ phần chi phối hoặc cổ phần đặc biệt, được Thủ tướng chính phủ quyết định hoặc cho phép thành lập để cung cấp các dịch vụ bưu chính, viễn thông trong nước và quốc tế”. Như vậy, hình thức độc quyền nhà nước cũng đã có sự thay đổi từ hình thức độc quyền một công ty sang nhiều công ty. Hiện nay, thị trường viễn thông đã có 7 doanh nghiệp cùng được cung cấp hạ tầng mạng và kinh doanh tất cả các dịch vụ viễn thông.
Ngoài ra còn có hơn 20 doanh nghiệp kinh doanh các dịch vụ Internet và hàng nghìn doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Từ chỗ có một mình hoạt động trên thị trường, tới nay Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam phải đối mặt với nhiều đối thủ cạnh tranh mới. Với chủ trương mở cửa thị trường dịch vụ bưu chính, viễn thông và hội nhập kinh tế quốc tế, việc thâm nhập của các công ty nước ngoài vào thị trường dịch vụ bưu chính, viễn thông Việt Nam đã được xác định là tất yếu và sẽ trở nên rất mạnh mẽ trong những năm tới. Trong bối cảnh như vậy, cạnh tranh trong kinh doanh dịch vụ viễn thông xảy ra là tất yếu.
Đây là một trong những chính sách có tính chất quyết định thúc đẩy các công ty kinh doanh dịch vụ viễn thông phải nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP CUNG CẤP DỊCH VỤ THÔNG TIN DI ĐỘNG 1. Dịch vụ thông tin di động. Dịch vụ TTDĐ là dịch vụ thông tin vô tuyến hai chiều cho phép thuê bao đăng ký sử dụng dịch vụ có thể sử dụng các loại hình dịch vụ thoại và phi thoại trong phạm vi vùng phủ sóng của nhà cung cấp dịch vụ.
Các đặc điểm chính của dịch vụ TTDĐ: 7 - Dịch vụ TTDĐ là loại sản phẩm tiêu dùng một lần. - Dịch vụ TTDĐ mang lại hiệu quả thông tin liên lạc tới mọi nơi, mọi lúc; có tính bảo mật cao vì thông tin trong lúc truyền đi đã được mã hóa. - Dịch vụ TTDĐ được tiêu thụ ngay trong quá trình tạo ra nó. - Giá thành sản xuất ra một đơn vị giá trị sử dụng của dịch vụ TTDĐ rất khác nhau ở những vùng khác nhau.
- Dịch vụ TTDĐ có tính chất kinh tế mạng và tính hai chiều. Do đó việc phát triển thêm thuê bao là yếu tố quan trọng bậc nhất trong kinh doanh dịch vụ này (Phụ lục I). Cạnh tranh và động lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ TTDĐ. Xuất phát từ mô hình năm áp lực cạnh tranh của Micheal Porter, ta có thể thấy được các động lực thúc đẩy cạnh tranh (hình 1.
Mức độ đối đầu giữa các nhà cung cấp dịch vụ TTDĐ là động lực lớn nhất để thúc đẩy sự cạnh tranh. Mức độ đối đầu trong một ngành là đáng kể khi có sự cạnh tranh mạnh về giá cả, các chi phí quảng cáo cao hơn các ngành khác và có rào cản ra khỏi ngành giữa các thành viên trong ngành. Các rào cản ra khỏi ngành tồn tại khi các thành viên không có lợi nhuận không rút khỏi ngành. Nguy cơ xâm nhập sẽ ảnh hưởng đến hành vi cạnh tranh vì các đối thủ cạnh tranh mới sẽ có nguồn lực, có công nghệ hiện đại và họ muốn chiếm thị phần.
Khi gia nhập thị trường dễ dàng, các đối thủ cạnh tranh sẽ nhảy vào chừng nào ngành còn có lợi nhuận cao hơn các ngành khác. Đăng ký bản quyền và sự tiếp cận các kênh phân phối là một trong các rào cản để gia nhập ngành. Sự đe doạ của các sản phẩm thay thế là một yếu tố thị trường khác ảnh hưởng đến động lực cạnh tranh. Sản phẩm có thể được coi là thay thế nếu chúng có các đặc tính tương tự, được sử dụng trong các hoàn cảnh tương tự và được bán trong cùng một phạm vi lãnh thổ.
Lợi thế mặc cả của người mua và người bán cũng ảnh hưởng nhiều đến động lực cạnh tranh của các doanh nghiệp. 8 Các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn Đe doạ của các đối thủ mới Lợi thế của nhà cung cấp Các đối thủ cạnh tranh Nhà cung Người cấp Mức độ đối đầu giữa các mua d.nghiệp trong ngành Lợi thế mặc cả của người mua Đe dọa của các hàng hoá thay thế Hàng hoá thay thế Hình 1.1: Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Micheal Porter 1. Nâng cao năng lực cạnh tranh và các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ TTDĐ. Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh.
Năng lực cạnh tranh được đánh giá một cách tổng thể nhất thông qua các chỉ tiêu sau: - Sản lượng, doanh thu: Đánh giá kết quả hoạt động của doanh nghiệp, thể hiện năng lực đầu ra của doanh nghiệp.