Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ TỔ TRƯỞNG CHUYÊN MÔN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề TTCM đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả dạy và học trong nhà trường THCS. Họ chính là cầu nối giữa hiệu trưởng với giáo viên, là người trực tiếp đảm bảo nội dung chương trình dạy và học, là người trực tiếp chỉ đạo, thực hiện đổi mới phương pháp, chất lượng đầu ra của học sinh nhằm giúp hoạt động dạy và học của nhà trường đạt hiệu quả cao. Thế giới đang phát triển nhanh về KT - XH cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ.
Đây chính là lí do để các nước trên thế giới tập trung đầu tư cho GD&ĐT. Hiện nay, ngành Giáo dục nước ta đang tiến hành đổi mới căn bản, toàn diện, nó đặt ra cho giáo dục những cơ hội và nhiều thách thức. Chỉ thị 40- CT/TW của Bộ Chính trị tập trung vào việc xây dựng, nâng cao chất lượng ĐNNG và cán bộ QLGD. Dưới sự tổ chức và quản lí có hiệu quả, đội ngũ TTCM trong trường THCS có chất lượng sẽ góp phần rất lớn nâng cao chất lượng GD&ĐT, nguồn nhân lực đáp ứng sự nghiệp CNH, HĐH của nước ta trong xu thế hội nhập và phát triển [2].
Ở các trường THCS, TCM đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc chuẩn bị các điều kiện thực hiện các hoạt động dạy học trong nhà trường. Người TTCM được ví như “cánh tay nối dài của lãnh đạo nhà trường”, trực tiếp điều hành các công việc cụ thể trong hoạt động dạy học. Công tác lãnh đạo, quản lí của TTCM là một trong những yếu tố quyết định đến hiệu quả hoạt động của TCM, góp phần quan trọng đến chất lượng giáo 7 dục của các nhà trường. TCM là một nhóm nhỏ, đó là nhóm chính thức tồn tại trên cơ sở pháp quy.
TCM còn là tổ chức cơ sở giúp nhà trường thực thi các quy định về dạy học, mang tính thống nhất và chuyên sâu. Nếu có TTCM tốt, có năng lực, các cá nhân trong TCM sẽ nhận thức và thực hiện tốt nền nếp, kỉ cương trong dạy học, thực hiện được các mục tiêu giáo dục đề ra. Trong những năm qua, vấn đề bồi dưỡng, phát triển ĐNNG trong các nhà trường đã được Bộ GD&ĐT hết sức quan tâm. Tuy nhiên, đối với đội ngũ TTCM thì chưa có sự quan tâm thỏa đáng, chưa có những tài liệu mang tính đặc thù để tập huấn bồi dưỡng.
Việc nghiên cứu về đội ngũ TTCM trong các nhà trường phổ thông chưa nhiều và chưa thành hệ thống. Cụ thể: Thông tư số 32/2020/TT-BGDĐT ngày 15/9/2020 của Bộ GD&ĐT ban hành Điều lệ trường THCS, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học [11]; Thông tư số 14/2018/TT-BGDĐT ngày 20/7/2018 của Bộ GD&ĐT ban hành quy định chuẩn hiệu trưởng cơ sở GDPT [9]; Thông tư số 20/2018/TT-BGDĐT ngày 22/8/2018 của Bộ GD&ĐT ban hành quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở GDPT [10] chỉ mới tạo ra cơ sở pháp lí và điều kiện thuận lợi trong công tác chỉ đạo, quản lí, phát triển đội ngũ TTCM. Ở nước ta, đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về đội ngũ TTCM của hiệu trưởng trường THCS. Về lý luận quản lý có nhiều công trình nghiên cứu có liên quan của các tác giả: Phạm Minh Hạc, Nguyễn Ngọc Quang, Đặng Quốc Bảo, Trần Kiểm, Nguyễn Lộc, Nguyễn Văn Lộc,.
Đội ngũ TTCM có một vai trò rất quan trọng trong việc chỉ đạo trực tiếp hoạt động chuyên môn trong nhà trường THCS. Xây dựng đội ngũ TTCM có phẩm chất tốt, có năng lực chuyên môn vững vàng, có khả năng quản lý giỏi, nhiệt tình, mẫu mực, năng động, sáng tạo, tổ chức tốt các hoạt động là yếu tố quyết định chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường, là nền tảng cho chiến lược phát triển giáo dục đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. 8 Để đội ngũ TTCM thực sự là hạt nhân trong hoạt động chuyên môn của trường THCS, vai trò của người hiệu trưởng trong việc xây dựng và quản lý đội ngũ TTCM là hết sức quan trọng. Những năm qua, dưới ánh sáng nghị quyết Đại hội Đảng, ngành GD&ĐT luôn được Đảng và nhân dân quan tâm đúng mức.
Nhờ đó, hoạt động của nhà trường THCS từng bước được vận hành theo đúng nguyên lý giáo dục của Đảng. Tuy vậy, GD&ĐT Gia Nghĩa trong quá trình phát triển còn gặp nhiều khó khăn và thách thức, chất lượng và hiệu quả còn thấp, còn bất cập; năng lực chuyên môn của một bộ phận giáo viên còn hạn chế. Việc phân công, phân cấp và cơ chế phối hợp giữa ngành giáo dục và các ngành hữu quan còn bộc lộ những bất cập, chưa tạo được sự chủ động trong quản lý và điều hành. Một số CBQL thiếu chủ động trong suy nghĩ, chưa theo kịp tình hình phát triển KT- XH trong thời kỳ mới.
Người hiệu trưởng đã nhận thức được vai trò, vị trí của TTCM nhưng các biện pháp xây dựng và quản lý đội ngũ TTCM chưa thật chặt chẽ, khoa học. Việc bố trí tổ trưởng còn mang tính chủ quan, cảm tính, chưa có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng. Tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá các hoạt động chuyên môn chưa thật cụ thể; công tác giao ban giữa hiệu trưởng và TTCM chưa thường xuyên và kịp thời. Những nguyên nhân trên ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả giảng dạy, giáo dục hiện nay.
Các khái nhiệm chính của luận văn 1. Quản lý, quản lý giáo dục a. Quản lý Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý để chỉ huy, điều khiển, liên kết các yếu tố tham gia vào hoạt động thành một chỉnh thể thống nhất, điều hoà hoạt động của các khâu một cách hợp quy luật nhằm đạt đến mục tiêu xác định trong điều kiện biến động của môi trường. 9 Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa động từ quản lý, theo đó, quản lý gồm hai yếu tố.
“Quản” là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định và “Lý” là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định. Như vậy, công tác “quản lý” là thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau là “quản” và “lý”. Quản lý là khái niệm có ý nghĩa rất tổng quát, từ khi xã hội loài người hình thành và phát triển, hoạt động tổ chức quản lý đã được quan tâm. Hoạt động quản lý được bắt nguồn từ sự phân công lao động trong xã hội nhằm đạt được hiệu quả cao hơn.
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Quản lý là tổ chức, điều khiển hoạt động của đơn vị, cơ quan…, là chăm nom và sắp đặt công việc trong một tổ chức hoặc phụ trách việc chăm nom và sắp đặt công việc trong một tổ chức” [43]. Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung” [7, tr. Tác giả Hồ Văn Vĩnh cho rằng: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra” [41, tr. Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: Quản lý là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất [30].
Theo Nguyễn Lộc: “Quản lý được định nghĩa như việc tập trung vào các công việc cụ thể như tổ chức nhân lực, đánh giá phân phối nguồn lực, vận dụng các quy chế,… nhằm vận hành tổ chức một cách hiệu quả nhất [21, tr. Tổng hợp những quan niệm trên, chúng tôi cho rằng: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý 10 nhằm đạt mục tiêu đề ra. Người quản lý là những người làm việc trong tổ chức, điều khiển công việc của người khác và chịu trách nhiệm trước kết quả hoạt động của họ, người quản lý còn là người là người lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát con người, tài chính, vật chất và thông tin một cách có hiệu quả để đạt được mục tiêu. Quản lý giáo dục Nhà nước quản lý mọi hoạt động của xã hội, trong đó có hoạt động giáo dục.
Nhà nước QLGD thông qua tập hợp các tác động hợp quy luật được thể chế hoá bằng pháp luật của chủ thể quản lý, nhằm tác động đến các phân hệ quản lý để thực hiện mục tiêu giáo dục mà kết quả cuối cùng là chất lượng, hiệu quả đào tạo thế hệ trẻ. Theo Nguyễn Ngọc Quang: “QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [30, tr. Theo Phạm Minh Hạc: “QLGD là quản lý trường học, thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành Giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [17, tr. Kônđacôp: QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ quản lý ở các cấp khác nhau, đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ Bộ đến trường) nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em [19, tr.
11 Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục là sự điều hành các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội” [7].