Chương 1. Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giáo viên trung học cơ sở huyện Chư Sê tỉnh Gia Lai đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông. Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên trung học cơ sở huyện Chư Sê tỉnh Gia Lai đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông. Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên trung học cơ sở huyện Chư Sê tỉnh Gia Lai đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông.
5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ngo i nước Giáo dục là một bộ phận cấu thành quan trọng đặc biệt của xã hội, là lĩnh vực liên quan mật thiết nhất tới sự phát triển toàn diện con người cũng như sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Trong lịch sử của nhân loại, từ rất sớm các nước trên thế giới đã nghiên cứu về sự phát triển của giáo dục cùng với sự phát triển của ĐNGV, phát triển ĐNGV sẽ góp phần rất lớn trong việc phát triển nguồn nhân lực của ngành GD&ĐT.
Sự phát triển của giáo dục mà ở đó giáo dục phổ thông đã và đang đặt ra những yêu cầu mới ngày càng cao đối với - những chủ thể quan trọng của quá trình giáo dục trong nhà trường. Vì vậy các nghiên cứu về ĐNGV ngày càng được chú trọng. Nhà xã hội học người Mỹ, Leoard Nadle đã đưa ra hồ sơ quản lý nguồn nhân lực với ba nhiệm vụ chính đó là: phát triển nguồn nhân lực (giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển, nghiên cứu, phục vụ); sử dụng nguồn nhân lực (tuyển dụng, sàng lọc, bố trí, đánh giá, đãi ngộ, kế hoạch hóa sức lao động); môi trường nguồn nhân lực (mở rộng chủng loại làm việc, mở rộng qui mô làm việc, phát triển tổ chức [26]. Ở các nước có nền giáo dục phát triển, yêu cầu và tiêu chí của chất lượng GV cũng được đặt ra theo yêu cầu của sự phát triển giáo dục - đào tạo và nhu cầu tăng trưởng kinh tế.
Vì thế, chất lượng ĐNGV đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm. Tháng 4 năm 2000, tại Dakar - Senégal, Diễn đàn giáo dục cho mọi người do UNESCO tổ chức đã coi chất lượng GV là một trong mười yếu tố cấu thành chất lượng giáo dục, tức là GV có động cơ tốt, được động viên tốt và có năng lực chuyên môn cao. Năng lực chuyên môn cần phải có để đảm bảo chất lượng giáo dục: hiểu biết sâu sắc về nội dung môn học, có tri thức sư phạm, có tri thức về sự phát triển, có sự hiểu biết về sự khác biệt, hiểu biết về động cơ, có tri thức về việc học tập, làm chủ được các chiến lược dạy học, hiểu biết về việc đánh giá học sinh, hiểu biết về các nguồn của chương trình và công nghệ, am hiểu và sự đánh giá cao về sự cộng tác, có khả năng phân tích và phản ánh trong thực tiễn dạy học. Một trong những yếu tố then chốt quyết định thành công trong đổi mới giáo dục của các quốc gia trên thế giới là chú trọng sự phát triển nghề nghiệp của ĐNGV.
Trong thời gian gần đây, những nghiên cứu trên thế giới đều dành sự quan tâm đặc biệt đến chuẩn nghề nghiệp GV đối với sự phát triển công nghệ dạy học. Một trong những nghiên cứu về phát triển nghề nghiệp GV là nghiên cứu xây dựng và chuyển giao các mô hình phát triển nghề nghiệp của GV. Nhiều mô hình được phát 6 triển và thực hiện ở nhiều quốc gia để phát huy và hỗ trợ GV phát triển nghề nghiệp từ khi họ bắt đầu khởi nghiệp đến khi nghỉ hưu. Nhiều nước đã xây dựng bộ chuẩn cho nước mình (chuẩn chất lượng GD, chuẩn nhà trường, chuẩn CBQL, chuẩn GV…).
Theo đánh giá tổng quát của White, Makkonen và Stewart (2009) về chuẩn nghề nghiệp GV các bang Ohio, Illinois, North Carolina và California của Hoa Kỳ đã phát triển chuẩn nghề nghiệp bao phủ tất cả các đối tượng GV, từ GV mới vào nghề cho đến GV chuyên nghiệp, với cấu trúc, đối tượng mục tiêu và nội dung phù hợp với quan điểm của mỗi bang. Một số nhà nghiên cứu cũng nêu lên tầm quan trọng của các chuẩn như: Nghiên cứu của Bercaw và Stooksberry nhấn mạnh tầm quan trọng của các tiêu chuẩn đối với những GV mới vào nghề, vì các tiêu chuẩn này giúp hiểu rõ quá trình phát triển thực tiễn giảng dạy. Yêu cầu và tiêu chí của chất lượng GV Ở các nước phát triển hiện nay cũng được đặt ra theo yêu cầu của sự phát triển giáo dục và đào tạo và yêu cầu phát triển kinh tế. Vì thế, chất lượng ĐNGV là vấn đề luôn được các nước trên thế giới quan tâm.
Công trình nghiên cứu chung của các nước thành viên OECD đã chỉ ra yêu cầu đối với một cần có các phẩm chất, đó là: Có kiến thức phong phú về phạm vi chương trình và nội dung bộ môn mình dạy; có kĩ năng sư phạm về phương pháp giảng dạy, về năng lực sử dụng những phương pháp; có tư duy phản ánh trước mỗi vấn đề và có năng lực tự phê, nét rất đặc trưng của nghề dạy học; có năng lực quản lí, kể cả trách nhiệm quản lí trong và ngoài lớp học; biết cảm thông và cam kết tôn trọng phẩm giá của người khác [19]. Liên minh Châu Âu cho rằng, phát triển ĐNGV là vấn đề trọng tâm để nâng cao chất lượng giáo dục của các trường học. Chất lượng giáo dục cao chỉ có thể được đảm bảo bằng việc đào tạo, bồi dưỡng GV một cách liên tục và bằng chất lượng rèn tay nghề cho GV và các nhân viên phục vụ hoạt động giáo dục và dạy học trong nhà trường. GV không chỉ là người giỏi về chuyên môn mà còn phải là người học liên tục, suốt đời.
Bồi dưỡng phát triển chuyên môn cho GV là chính bản thân giáo viên tham gia vào quá trình bồi dưỡng và quản lý các hoạt động bồi dưỡng của mình chứ không chỉ là việc cấp trên quản lý hoạt động bồi dưỡng này. Vì vậy, các Quốc gia có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới cần chú trọng phát triển ĐNGV trong quá trình đổi mới và phát triển giáo dục. Các nghiên cứu trong nước Đội ngũ giáo viên là lực lượng nòng cốt để phát triển một nền giáo dục có chất lượng, công bằng và hiệu quả, đồng thời nâng cao cơ hội học tập suốt đời cho tất cả mọi người, đảm bảo những điều kiện cơ bản thích ứng với xu thế phát triển của thế giới. Do vậy, đến nay có rất nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước về phát triển ĐNGV nói chung và phát triển ĐNGV THCS nói riêng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến chất lượng giáo dục, đặc biệt là 7 ĐNNG, Người đã chỉ rõ: “Vấn đề then chốt, quyết định chất lượng giáo dục là phải xây dựng được đội ngũ đông đảo những người làm công tác giáo dục yêu nghề, yêu trường, hết lòng thương yêu, chăm sóc, giáo dục học sinh, không ngừng trau dồi đạo đức, tự bồi dưỡng nâng cao tay nghề để thực sự là tấm gương sáng cho học sinh noi theo” [28]. Đó là tư tưởng chiến lược để xây dựng và phát triển nền quốc học Việt Nam, sự nghiệp giáo dục của nước nhà. Thực hiện tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, suốt hơn nửa thế kỷ qua, Đảng và Nhà nước ta đã luôn quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng và phát triển ĐNGV, trong đó có việc nghiên cứu về ĐNGV. Theo đó, nhiều công trình nghiên cứu về ĐNGV đã được triển khai trong các giai đoạn lịch sử phát triển của nền giáo dục Việt Nam.
Bàn về tính chất nghề nghiệp của ĐNGV, Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2003) nhấn mạnh vấn đề “lý tưởng sư phạm” - yếu tố tạo nên động cơ cho việc thực hành nghề dạy học của GV, thôi thúc người GV sáng tạo, thúc đẩy người GV không ngừng học hỏi, nâng cao trình độ. Từ đó, tác giả đề xuất cần phải xây dựng tập thể sư phạm theo mô hình “đồng thuận” mà ở đó GV trong quan hệ với nhau có sự chia sẻ “bí quyết nhà nghề”; đồng thời, những yêu cầu về năng lực chuyên môn của người GV là nền tảng của mô hình đào tạo giáo viên thế kỷ XXI “ Sáng tạo và hiệu quả” [24]. Bàn về chất lượng ĐNGV, Trần Kiểm (2004) coi đó là yếu tố quan trọng hàng đầu và đặt ra vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục thì không thể không chú ý trước hết về chất lượng ĐNGV đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và tay nghề ngày càng được nâng cao [21]. Dựa trên kết quả nghiên cứu về chất lượng giáo viên của các nước thành viên OECD, Nguyễn Thanh Hoàn (2003) đã đưa ra các đặc điểm và năng lực đặc trưng của một GV có năng lực thông qua phân tích 22 năng lực cụ thể trên góc độ tiếp cận năng lực giảng dạy và giáo dục.
Tác giả cũng đề cập những chính sách cải thiện và duy trì chất lượng giáo viên ở cấp vĩ mô và vi mô, từ đó nhấn mạnh đến ba vấn đề quyết định chất lượng GV bao gồm: bản thân người giáo viên, nhà trường và môi trường chính sách bên ngoài [18]. Trong bài viết “Chất lượng giáo viên” đăng trên tạp chí Giáo dục tháng 11/2001, tác giả Trần Bá Hoành đã đề xuất cách tiếp cận chất lượng GV từ các góc độ: đặc điểm lao động của người GV, sự thay đổi chức năng của người GV trước yêu cầu đổi mới giáo dục, mục tiêu sử dụng giáo viên, chất lượng từng giáo viên và chất lượng ĐNGV. Các thành tố tạo nên chất lượng GV là phẩm chất và năng lực. Theo tác giả, phẩm chất của GV biểu hiện ở thế giới quan, lòng yêu trẻ và yêu nghề; năng lực người GV bao gồm: năng lực chẩn đoán nhu cầu và đặc điểm đối tượng dạy học, năng lực thiết kế kế hoạch, năng lực tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học, năng lực quan sát, đánh giá kết quả các hoạt động dạy học, năng lực giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tế dạy học [17].
8 Ba nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng GV là: Quá trình đào tạo - sử dụng - bồi dưỡng GV, hoàn cảnh, điều kiện lao động sư phạm của GV, ý chí thói quen và năng lực tự học của GV. Tác giả cũng đề ra ba giải pháp cho vấn đề GV: phải đổi mới công tác đào tạo, công tác bồi dưỡng và đổi mới việc sử dụng GV.