Chương 1 : cơ sở lý luận phát triển đội ngũ nữ Cán bộ quản lý các trường Đại học việt Nam theo quan điểm bình đẳng giới 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề - Nghiên cứu ở nước ngoài Nghiên cứu về vai trò của phụ nữ trong giáo dục đại học ở Mỹ Theo nghiên cứu của tác giả Jacquelyn A. Mattfesd (2008), “Women in Higher Education” [123] thì hệ thống giáo dục ĐH của Mỹ có xu hướng tư nhân hoá và phân quyền. Chính phủ Liên bang Mỹ không quản lý giáo dục ĐH, trách nhiệm chính về quản lý giáo dục ĐH Mỹ thuộc chính phủ của các bang.
Chính phủ Liên bang có thể quan sát xem luật chung có được tăng cường ở các trường cao đẳng, đại học, nhưng không trực tiếp kiểm soát, quản lý chất lượng đào tạo. Nghiên cứu cho biết, vào những năm 1970 ở Mỹ phụ nữ vẫn gần như bị đặt ngoài guồng máy của Văn phòng hiệu trưởng ĐH, ngoại trừ ở các trường nữ sinh Công giáo do các nữ tu sỹ điều hành. Chỉ có dưới 10 trường ĐH đào tạo hệ 4 năm có hiệu trưởng là nữ và 5 trường ĐH trong số này là trường của nữ sinh. Cũng tại thời điểm đó, có 60 hiệu trưởng của các trường nữ sinh là nam giới, nhưng không có hiệu trưởng của trường nam sinh là nữ giới.
Hơn nữa, có rất ít phụ nữ giữ những vị trí QL cao như hiệu trưởng hay trưởng BM ở các trường nam sinh và nữ sinh. Trong lĩnh vực nghiên cứu, phụ nữ đã có những bước tiến dài, song việc thiết lập nghiên cứu vẫn chủ yếu do nam giới đảm nhiệm. Phụ nữ vẫn hiện diện ít ở những lĩnh vực như toán, lý (tỷ lệ tiến sỹ nữ/nam là 1/5); trong lĩnh vực công nghệ (tỷ lệ này là dưới 1/9). Ở các ngành này, tỷ lệ nữ ít, đặc biệt là ở vị trí GS.
Vì vậy, phụ nữ cũng khó khăn hơn so với nam trong việc giành vị trí hiệu trưởng ở các trường ĐH trong lĩnh vực này. Năm 1993, ở Mỹ có 29% nữ là chủ nhiệm khoa trong trường cao đẳng và ĐH. Tuy nhiên, nữ vẫn hiện diện chủ yếu ở các trường đào tạo trình độ cử nhân, cao đẳng hơn là ở các trường đào tạo tiến sỹ. Nữ cũng có nhiều hơn ở các vị trí như trợ giảng, hướng dẫn thực hành hơn là các vị trí cao như PGS, GS.
Thêm nữa, nam thường được hợp đồng dài hạn và cũng được trả lương cao hơn nữ. 74% nam ở cấp khoa có hợp đồng dài hạn so với chỉ 46% nữ. Mức lương cho cùng một vị trí có khác nhau khoảng 10% giữa nam và nữ. 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Mức lương của nam và nữ theo chức danh khoa học của trường ĐH ở Mỹ (Đơn vị tính : Đô la Mỹ) Năm học Chức vụ Nam Nữ 1991 - Giáo sư 59.530 Hướng dẫn thực hành 28.963 Hướng dẫn thực hành 49.713 [Nguồn : [128]; [129]; [130] Công trình đã đưa ra số liệu về số lượng phụ nữ là các giám đốc điều hành (Hiệu trưởng) trong các trường CĐ và ĐH ở Mỹ đã tăng lên nhanh chóng qua hơn hai chục năm qua.
Từ con số 148 người năm 1975 lên tới 348 người vào giữa năm 1992 và lên tới 500 người năm 2005. Trên 200 giám đốc điều hành là nữ ở các trường CĐ, ĐH tư thục. Số lượng nữ Hiệu trưởng tăng nhiều nhất trong khoảng từ năm 1975 - 1992 là ở khu vực các trường ĐH công, từ 5 lên 58 nữ hiệu trưởng. Tuy bức tranh về sự thay đổi con số tăng lên một cách lạc quan, nhưng trong thực chất các trường ĐH Mỹ có lãnh đạo nữ thường là các trường ít danh tiếng hoặc khó khăn về tài chính.
Các trường nổi tiếng ở Mỹ thường là thuộc một trong các loại sau: (1) có tài trợ lớn; (2) có kinh phí NCKH hàng năm lớn; (3) có chương trình thể thao cạnh tranh nhất; (4) có tiêu chuẩn tiếp nhận sinh viên khắt khe nhất, thì do nam giới lãnh đạo. Các trường ĐH ở Mỹ, có 4 yếu tố được sử dụng để tìm hiểu mối quan hệ giữa thể thao, tài chính, nghiên cứu và sự lựa chọn một phụ nữ làm hiệu trưởng đó là : (1) Tỷ lệ các trường cấp bằng tiến sỹ do nữ lãnh đạo; (2) tỷ lệ các cơ sở nghiên cứu 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com do nữ lãnh đạo; (3) Tỷ lệ các cơ sở với tài trợ lớn nhất do nữ lãnh đạo; (4) Tỷ lệ các cơ sở thuộc hiệp hội thể thao ĐH quốc gia do nữ lãnh đạo. Cụ thể hiện nay: (i) Chỉ có một số hạn chế các trường ĐH ở Mỹ được coi là trường đào tạo trình độ tiến sỹ, trong số 213 trường loại trên thì chỉ có 11 trường có nữ hiệu trưởng (1992), chiếm 5,1%. Cho đến năm 2009, tỷ lệ này đã tăng lên gần 11%; (ii) Ở các cơ sở nghiên cứu, nữ lãnh đạo chỉ chiếm 4,4%; (iii) Các trường ĐH có tài trợ mạnh chỉ có 5% lãnh đạo là nữ; (iv) Các trường ĐH mạnh về thể thao chỉ có 2,4% do nữ làm lãnh đạo.
Số nữ lãnh đạo các trường thuộc Hiệp hội các trường ĐH ở Mỹ là 5,1%. Như vậy, phụ nữ được lựa chọn chủ yếu để lãnh đạo ở các trường ĐH Mỹ ít thâm niên, ít định hướng NCKH, ít cạnh tranh thể thao và cũng ít tài trợ. Công trình nghiên cứu đã thống kê từ năm 1979 số lượng sinh viên nữ đăng ký vào trường ĐH nhiều hơn nam. Cụ thể, niên khoá 1989 - 1990 tỷ lệ nữ theo học các ngành Luật, Y, Nha khoa là : 53% trình độ ĐH; 53% trình độ thạc sỹ.
Nhưng ở trình độ tiến sỹ thì tỷ lệ nữ chỉ chiếm 38%. Nguyên nhân của thực trạng này được tác giả nêu lên là: (1) Việc kết hôn và sinh con đã cản trở phụ nữ không có thời gian và thu nhập để tiếp tục học lên cao; (2) Mong ước truyền thống về việc ưu tiên cho sự nghiệp của chồng cũng buộc nhiều phụ nữ phải rời bỏ chương trình nghiên cứu sinh; (3) Sự quấy rối tình dục, bởi vì nam giới thường chiếm ưu thế ở hầu hết các vị trí lãnh đạo khoa có đào tạo chương trình sau đại học. Các trường hợp nam lãnh đạo khoa thường xuyên gợi ý các nữ SV về tình dục cũng được báo cáo thường xuyên trong nhà trường, thông tin do các nữ SV cung cấp. Tác giả cũng nhận định còn phải mất nhiều thời gian dài hơn nữa thì phụ nữ ở Mỹ mới đạt tới sự bình đẳng với đồng nghiệp nam và mặc dù phụ nữ Mỹ đã có những tăng trưởng đáng kể trong việc tiếp cận giáo dục ĐH, song họ vẫn còn rất xa trong việc có đại diện bình đẳng ở mức cao cấp trong QLGD đại học.
Công trình đã đưa ra minh chứng điển hình về một mô hình đã được thực hiện có hiệu quả nhằm thu hẹp khoảng cách giới trong môi trường giáo dục ĐH ở Mỹ, đó là mô hình của trường ĐH công Minnesota. Trong tổng số các trường ĐH và 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cao đẳng ở Mỹ bao gồm cả trường công và trường tư, thì số trường công chỉ chiếm 42%, nhưng số SV theo học ở trường công lại chiếm gần 80% trong tổng số SV toàn quốc. Các trường công ở Mỹ được kỳ vọng là nơi cung các dịch vụ giáo dục tiên tiến cho các SV trong nước và nước ngoài. Trong ĐH Minnesota có các trường ĐH thành viên, là trường có các chương trình được hỗ trợ về tài chính và có các chương trình NCKH chuyên sâu; số lượng SV đăng ký học lớn, các chương trình đào tạo từ hệ cao đẳng, đại học đến đào tạo và cấp bằng tiến sỹ; Năm 1975, Hội Phụ nữ của ĐH Minnesota đã được thành lập nhằm cải thiện môi trường làm việc cho phụ nữ.
Những điều lệ của Hội được ban hành để đảm bảo theo dõi việc hợp đồng giảng dạy, biên chế và thăng tiến cho phụ nữ. Các hướng dẫn chặt chẽ được thiết lập cho các quy trình nhằm bảo đảm việc tiếp cận với các cơ hội cho phụ nữ, do vậy tỷ lệ nữ tham gia QL đã tăng lên. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, với mô hình hoạt động của Hội phụ nữ trong nhà trường, đã có những nữ trưởng BM, nữ giám đốc trung tâm máy tính ở các lĩnh vực như sinh học, hoá học - là những lĩnh vực mà trước kia không có phụ nữ tham gia. Nghiên cứu về vai trò của phụ nữ trong giáo dục đại học ở Pháp Theo nghiên cứu thống kê của Bộ Giáo dục Pháp (2004) [126] thì trong vòng 30 năm (từ 1960 đến 1990) số lượng trường ĐH ở Pháp đã tăng lên gấp 5 lần.
Trường ĐH ngày càng hướng đến sự dân chủ hoá trong GD, chuyển dần giáo dục “tinh hoa” thành giáo dục “đại chúng”. Tỷ lệ SV/GV trung bình các ngành là 25 (cao nhất ở Châu Âu), cụ thể : KHTN là 9; Y tế là 13-14; Văn học là 28; Luật là 45. Tuy nhiên tỷ lệ nữ GV cũng ít ở các ngành mà tỷ lệ SV/GV cao. Số lượng các GV được tuyển dụng đã tăng lên qua các năm, tăng nhiều từ sau năm 1982 và đặc biệt là sau năm 1986 sau vài thập kỷ tương đối trì trệ.
Tuy nhiên, số lượng nữ GV được tuyển dụng dường như không tăng trong vòng 25 năm qua, chỉ chiếm tỷ lệ 26% trong tổng số GV đại học của toàn quốc. Tỷ lệ phụ nữ còn ít hơn khi nhìn vào các vị trí giảng dạy khác nhau. Có 3 vị trí chính danh cho đội ngũ giảng dạy ĐH: thứ nhất, là vị trí Giáo sư (nữ chiếm 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11,5%); thứ hai, là vị trí GV và GV chính (nữ chiếm 33,3%); thứ ba, là vị trí trợ giảng (nữ chiếm 36,8%). Điều này có nghĩa là ở vị trí chức danh giảng dạy càng cao thì phụ nữ chiếm tỷ lệ càng thấp, đặc biệt ngành Y-Dược chiếm thấp nhất.
cho thấy tỷ lệ nữ GV có học vị, học hàm cao (PGS, GS) trong các ngành khoa học chiếm tỷ lệ rất ít. Cho đến năm 2003-2004, tỷ lệ nữ giáo sư ở Pháp chiếm khoảng 15%, tuy khiêm tốn nhưng so với các nước ở châu Âu, Pháp vẫn là nước có tỷ lệ cao. Nghiên cứu về các lớp tuổi và vị trí công việc cho thấy ở Pháp, ở vị trí trợ giảng thì phụ nữ có độ tuổi già hơn so với nam giới. Tức là đã không có thay đổi nào từ cuộc điều tra của UNESCO năm 1987, số nữ độ tuổi 60 không có thăng tiến trong nhiều năm chiếm tỷ lệ cao.