Tổng quan luận án
Vấn đề phát triển nguồn nhân lực quản lý giáo dục, đặc biệt là đội ngũ cán bộ quản lý (CBQL) nữ, là một nội dung quan trọng trong chiến lược đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam. Theo thống kê nêu trong luận án, tính đến tháng 12/2009, tỷ lệ nữ trong toàn ngành Giáo dục và Đào tạo chiếm tới 76,1%; đồng thời, theo Báo cáo Hội thảo khoa học "Nữ trí thức Việt Nam đối với sự nghiệp CNH-HĐH đất nước" (2010), phụ nữ chiếm 53,2% trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Mặc dù các văn bản chỉ đạo của Đảng và Nhà nước như Nghị quyết số 11/NQ-TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ, Nghị quyết Đại hội Đảng X và XI, Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011–2020 đã xác định rõ mục tiêu tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí lãnh đạo, song tỷ lệ nữ cán bộ quản lý tại các cơ sở giáo dục đại học nói chung và các trường đại học y nói riêng vẫn còn nhiều hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng thực tế.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra là sự thiếu vắng các công trình nghiên cứu hệ thống, toàn diện và chuyên biệt về công tác phát triển đội ngũ nữ cán bộ quản lý tại các trường đại học đào tạo khối ngành y tế dưới lăng kính lý thuyết phát triển nguồn nhân lực và bình đẳng giới. Do đó, tác giả Lương Hoài Nga thực hiện luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục (mã số 62.01) với đề tài: "Phát triển đội ngũ nữ cán bộ quản lý các trường Đại học Y Việt Nam theo quan điểm bình đẳng giới" tại Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Võ Kỳ Anh và PGS. Đặng Bá Lãm (năm bảo vệ: 2012).
Mục tiêu nghiên cứu tổng thể của luận án là làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng phát triển đội ngũ nữ CBQL các trường Đại học Y theo lý thuyết phát triển nguồn nhân lực và quan điểm bình đẳng giới, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp phát triển đội ngũ này nhằm nâng cao chất lượng quản lý giáo dục đại học y tế và đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân.
Các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được xác định gồm:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ nữ CBQL trường đại học và trường đại học y theo lý thuyết phát triển nguồn nhân lực và quan điểm bình đẳng giới.
- Khảo sát và đánh giá thực trạng công tác phát triển đội ngũ nữ CBQL tại các trường đại học y ở Việt Nam trong giai đoạn 2000–2010 theo quan điểm bình đẳng giới.
- Đề xuất các giải pháp phát triển đội ngũ nữ CBQL các trường đại học y phù hợp với đặc thù giới và nghề nghiệp y tế, đồng thời khảo sát tính cần thiết, khả thi và tổ chức thử nghiệm một giải pháp trọng tâm.
Giả thuyết khoa học của luận án: Sự phát triển đội ngũ nữ CBQL các trường đại học y ở Việt Nam hiện nay còn bộc lộ những bất cập bắt nguồn từ nhận thức chưa toàn diện về bình đẳng giới và các khâu quản lý nhân lực (quy hoạch, tạo nguồn, sử dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, chính sách và môi trường làm việc) chưa được triển khai đồng bộ. Nếu các trường đại học y thực hiện các chính sách bình đẳng giới triệt để, gắn liền lý thuyết phát triển nguồn nhân lực với đặc điểm giới tính và đặc thù nghề nghiệp chăm sóc sức khỏe, thì sẽ nâng cao được chất lượng và hiệu quả của đội ngũ nữ CBQL.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Khách thể nghiên cứu: Hoạt động quản lý đội ngũ nữ CBQL tại các trường đại học y.
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động phát triển đội ngũ nữ CBQL các trường đại học y Việt Nam theo lý thuyết phát triển nguồn nhân lực và quan điểm bình đẳng giới.
- Phạm vi không gian và tổ chức: Luận án tập trung vào các cấp quản lý trực thuộc trường gồm cấp bộ môn, phòng, ban và ban giám hiệu (các trường đại học y không tổ chức cấp khoa trung gian) tại 5 trường đại học y đại diện cho 3 miền đất nước: Trường Đại học Y Hà Nội, Trường Đại học Y Thái Bình, Trường Đại học Y Hải Phòng (miền Bắc); Trường Đại học Y Huế (miền Trung); và Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh (miền Nam).
- Phạm vi thời gian: Khảo sát số liệu thực trạng trong 10 năm học, từ năm học 2000–2001 đến năm học 2009–2010.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến sự tham gia của phụ nữ trong giáo dục đại học và công tác quản lý:
Nghiên cứu quốc tế
- Tại Mỹ: Tác giả Jacquelyn A. Mattfesd (2008) trong công trình "Women in Higher Education" đã phân tích cơ chế phân quyền quản lý giáo dục đại học tại Mỹ, phản ánh thực trạng chênh lệch giới tại các vị trí quản lý cấp cao và các rào cản phụ nữ gặp phải trong nghiên cứu khoa học thuộc các ngành tự nhiên, kỹ thuật. Nghiên cứu chỉ ra rằng năm 1993, nữ giới chiếm 29% chủ nhiệm khoa nhưng chủ yếu ở bậc đào tạo cử nhân và cao đẳng; tỷ lệ giáo sư nữ hưởng lương thấp hơn nam giới khoảng 10% cho cùng vị trí. Luận án cũng điểm lại mô hình Hội Phụ nữ Đại học công Minnesota thành lập từ năm 1975 nhằm giám sát hợp đồng giảng dạy, biên chế và thăng tiến cho cán bộ nữ.
- Tại Pháp: Báo cáo thống kê của Bộ Giáo dục Pháp (2004) cho thấy giai đoạn 1980–1990, tỷ lệ nữ giảng viên giữ chức danh giáo sư rất thấp (ngành Y–Dược chỉ chiếm 5,8% năm 1980 và 7,6% năm 1990; ngành Luật chiếm 7,4% năm 1980 và 10,3% năm 1990; Khoa học tự nhiên chiếm 7,4% năm 1980 và 8,5% năm 1990). Các khảo sát từ năm 1991 chỉ ra các rào cản chính gồm: sự gián đoạn nghề nghiệp do thiên chức gia đình, khó khăn trong việc kết hợp nghiên cứu khoa học với giảng dạy, độ tuổi bổ nhiệm muộn và tuổi nghỉ hưu sớm.
- Tại Úc: Các công trình tại Hội nghị quốc tế ATN/WEDEX (2006) tại Adelaide ("Prospective for Gender Equality in Universities"), cùng các nghiên cứu của Kamoche (1996), Blackmore (2001), Joyner & Preston (1998), Probert (2005), Aitkin (2001), Werner & Desimone (2006), Dychtwald & Baxter (2007) đã phân tích xu hướng già hóa của đội ngũ nữ quản lý cấp trung, sự thiếu hụt "nguồn vốn con người" do thiếu cơ hội phát triển sự nghiệp và sự vắng bóng các kế hoạch kế nhiệm dài hạn trong các trường đại học Úc.
Nghiên cứu tại Việt Nam
- Các nghiên cứu lý luận chung về giới và vai trò lãnh đạo: Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng (1996) với "Phụ nữ, giới và phát triển"; Trần Thị Tuy Hòa (1977) với "Phụ nữ tham gia lãnh đạo quản lý"; Võ Thị Mai (2003) với "Vai trò của nữ cán bộ quản lý nhà nước trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá"; Đỗ Thị Thạch (2005) với "Phát huy nguồn lực trí thức nữ Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá"; Nguyễn Đức Hạt (2009) với "Nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ nữ trong hệ thống chính trị"; Nguyễn Thu Linh (2002) với Đề tài 99-98-140 "Giới và phát triển trong môi trường quản lý Nhà nước"; đề tài nghiên cứu của Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (2003); dự án VIE-96-001 (2002) và báo cáo của UNDP (2004).
- Các nghiên cứu trong môi trường giáo dục đại học: Vũ Thị Thanh Bình (2009) với đề tài B2007-37-50 về nhu cầu học tập của nữ nhà giáo vùng khó khăn; Trần Thị Bạch Mai (2006) với luận án tiến sĩ "Cơ sở lý luận và thực tiễn các giải pháp tăng cường vai trò đội ngũ cán bộ nữ trong hoạt động quản lý nhà trường ĐH"; Nguyễn Thị Tuyết (2007) với luận án tiến sĩ "Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý hoạt động NCKH ở các trường ĐH Việt Nam theo định hướng bình đẳng giới".
Khoảng trống học thuật: Mặc dù các công trình trên đã phân tích nhiều khía cạnh về phụ nữ tham gia quản lý nhà nước và quản lý giáo dục đại học đại trà, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về các trường đại học y khoa – nơi cán bộ quản lý vừa thực hiện chức năng sư phạm, quản lý giáo dục, vừa trực tiếp khám chữa bệnh lâm sàng và nghiên cứu y học. Luận án của tác giả Lương Hoài Nga định vị nghiên cứu vào khoảng trống đặc thù này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm công cụ
- Lý thuyết phát triển nguồn nhân lực (Human Resource Development - HRD): Tiếp cận theo quan điểm của Gary Becker, R. Nonan, Đỗ Minh Cương, Nguyễn Thị Doan, Phan Văn Kha. Phát triển nguồn nhân lực trong tổ chức giáo dục là quá trình biến đổi có chủ đích về số lượng, chất lượng và cơ cấu, bao gồm 6 khâu chức năng: (1) Quy hoạch nguồn nhân lực; (2) Tạo nguồn; (3) Tuyển chọn, sử dụng và bổ nhiệm; (4) Đào tạo, bồi dưỡng; (5) Đánh giá nhân lực; (6) Xây dựng chính sách đãi ngộ và môi trường làm việc.
- Lý thuyết quản lý và vai trò quản lý: Sử dụng khung lý thuyết cấu trúc kỹ năng của nhà quản lý (kỹ năng chuyên môn, kỹ năng quan hệ liên nhân cách, kỹ năng tư duy khái quát) và phân loại 3 nhóm vai trò của Henry Mintzberg (nhóm vai trò quan hệ, nhóm vai trò thông tin, nhóm vai trò ra quyết định); quan điểm quản lý giáo dục của Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Bùi Hiển, Nguyễn Văn Giao.
- Khái niệm và các quan điểm bình đẳng giới: Tiếp cận theo Luật Bình đẳng giới năm 2007. Luận án phân tích 4 quan điểm bình đẳng giới:
- Bình đẳng là "đối xử như nhau" (chưa tính đến sự bất lợi lịch sử của phụ nữ).
- Bình đẳng giới có nhận thức giới (thừa nhận sự khác biệt và định kiến giới).
- Bình đẳng giới là "đối xử đặc biệt" để đạt được kết quả bình đẳng (hỗ trợ bù đắp các rào cản sinh học và xã hội).
- Bình đẳng giới dựa trên tiếp cận quyền và tăng quyền năng cho phụ nữ (trao quyền, tăng cường năng lực và cơ hội tiếp cận nguồn lực).
- Bình đẳng giới trong trường đại học: Luận án cụ thể hóa thành 3 phương diện: Bình đẳng về vai trò, vị trí công tác; Bình đẳng về thụ hưởng thành quả phát triển; Bình đẳng về cơ hội phát triển năng lực và thăng tiến.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp nhóm phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật, nghị quyết của Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, cùng các tài liệu, số liệu quốc tế về giới và quản lý giáo dục.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Điều tra xã hội học bằng bảng hỏi: Thu thập dữ liệu thực trạng số lượng, chất lượng, cơ cấu đội ngũ và lấy ý kiến khảo sát của CBQL, giảng viên, chuyên gia giáo dục và y tế tại 5 trường đại học y.
- Phỏng vấn sâu và tọa đàm: Trao đổi trực tiếp với các chuyên gia quản lý giáo dục, lãnh đạo nhà trường và cán bộ quản lý các cấp.
- Nghiên cứu trường hợp điển hình: Phân tích kinh nghiệm thực tiễn từ các nữ CBQL tiêu biểu trong ngành y tế.
- Khảo sát chuyên gia và thử nghiệm giải pháp: Đánh giá mức độ cần thiết, tính khả thi của 6 giải pháp đề xuất và tiến hành thử nghiệm giải pháp "Đánh giá đội ngũ cán bộ nữ theo hướng tạo động lực phát triển".
- Phương pháp xử lý số liệu: Sử dụng các thuật toán thống kê mô tả, phân tích tần số, tỷ lệ phần trăm và phần mềm SPSS để xử lý số liệu khảo sát thực nghiệm.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận phát triển đội ngũ nữ CBQL các trường Đại học Việt Nam theo quan điểm bình đẳng giới
Chương này tập trung xác lập hệ thống khái niệm, cơ sở lý luận và đặc trưng nghề nghiệp của đội ngũ nữ cán bộ quản lý trường đại học y:
- Phân định rõ các khái niệm: Phát triển, nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực, đội ngũ, cán bộ quản lý giáo dục, nữ CBQL trường đại học, giới, giới tính, định kiến giới và bình đẳng giới.
- Phân tích đặc thù sứ mệnh đào tạo của các trường đại học y: Hoạt động theo Luật Giáo dục năm 2005 (Điều 42) và Quyết định số 12/2001/QĐ-BGD&ĐT, đào tạo bậc đại học cho 6 ngành chính (Y học đa khoa, Y học cổ truyền, Răng-Hàm-Mặt, Kỹ thuật y học, Điều dưỡng, Y tế công cộng), các hệ đào tạo liên thông (theo Quyết định 153/2006/QĐ-TTg), cử tuyển (theo Quyết định 1544/QĐ-TTg), đào tạo theo địa chỉ (theo Quyết định 1025/QĐ-BYT). Bậc sau đại học gồm cả hệ hàn lâm (Thạc sĩ, Tiến sĩ) và hệ thực hành bệnh viện (Chuyên khoa 1, Chuyên khoa 2, Bác sĩ nội trú).
- Xác định mô hình cơ cấu tổ chức bộ môn trường y trực thuộc Ban Giám hiệu gồm 4 khối: (1) Khối Y học dự phòng; (2) Khối Y học cơ bản; (3) Khối Y học cơ sở; (4) Khối Y học lâm sàng.
- Làm rõ đặc trưng "ba trong một" của người nữ CBQL trường y: Vừa là nhà quản lý giáo dục, vừa là nhà giáo giảng dạy/nghiên cứu khoa học, vừa là bác sĩ trực tiếp khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe bệnh nhân. Do tính chất đào tạo gắn liền giữa giảng đường và bệnh viện (dạy nghề, dạy phương pháp luận, dạy y đức), người nữ CBQL chịu áp lực công việc kép từ môi trường y tế và gia đình.
- Phân tích 3 nhóm nguyên nhân dẫn đến định kiến giới đối với cán bộ nữ trong trường đại học: (1) Nhóm nguyên nhân gia đình (gánh nặng chăm sóc gia đình, nuôi con); (2) Nhóm nguyên nhân chủ quan (tâm lý tự ti, an phận, ngại va chạm); (3) Nhóm nguyên nhân khách quan từ môi trường xã hội và tổ chức (tư tưởng Nho giáo truyền thống, quy định tuổi nghỉ hưu và tuổi quy hoạch đào tạo chưa bình đẳng).
Chương 2: Thực trạng phát triển đội ngũ nữ CBQL các trường Đại học Y Việt Nam theo quan điểm bình đẳng giới
Chương 2 trình bày kết quả khảo sát toàn diện trong 10 năm học (2000–2001 đến 2009–2010) tại 5 trường đại học y (Y Hà Nội, Y Thái Bình, Y Hải Phòng, Y Huế, Y Dược TP.HCM):
- Về số lượng và tỷ lệ: Mặc dù tỷ lệ nữ sinh viên tuyển sinh vào các trường y duy trì ở mức cao, song tỷ lệ nữ tham gia vào bộ máy quản lý cơ hữu còn thấp và có sự phân hóa rõ rệt giữa các cấp quản lý. Tỷ lệ nữ tham gia Ban Giám hiệu rất ít; đa số nữ CBQL tập trung ở cấp bộ môn và phó bộ môn, trưởng/phó phòng ban chức năng.
- Về chất lượng (trình độ chuyên môn, học hàm, học vị): Số lượng nữ CBQL có học vị Thạc sĩ và Bác sĩ chuyên khoa tăng dần qua các năm, nhưng tỷ lệ đạt học vị Tiến sĩ, chức danh Phó Giáo sư, Giáo sư còn thấp hơn nhiều so với nam giới.
- Về cơ cấu độ tuổi và chuyên môn: Đội ngũ nữ CBQL có xu hướng già hóa; độ tuổi tập trung lớn ở nhóm trên 45 tuổi và cận kề tuổi nghỉ hưu (55 tuổi đối với nữ theo quy định hiện hành tại thời điểm nghiên cứu), tạo ra khoảng trống kế cận cho đội ngũ trẻ. Phân bố theo chuyên môn cho thấy nữ CBQL chiếm tỷ lệ cao hơn ở các khối Khoa học cơ bản, Y tế công cộng, Điều dưỡng, nhưng chiếm tỷ lệ thấp ở khối Y học lâm sàng (đặc biệt là các chuyên khoa ngoại, phẫu thuật).
- Thực trạng các khâu quản lý nhân lực theo quan điểm bình đẳng giới:
- Công tác quy hoạch cán bộ nữ: Tỷ lệ nữ đưa vào quy hoạch cấp trưởng/phó trường và trưởng bộ môn chưa đạt chỉ tiêu đề ra tại Chỉ thị 15/CT-GD-ĐT và Kế hoạch 5475/KH-BGD&ĐT (yêu cầu tối thiểu 30% nữ trong quy hoạch và ít nhất 1 nữ trong ban lãnh đạo).
- Tạo nguồn, tuyển dụng, bổ nhiệm: Chưa có cơ chế nhạy cảm giới để bù đắp khoảng cách thời gian gián đoạn do sinh con và nuôi con nhỏ; độ tuổi bổ nhiệm quy định đối với nữ bị hạn chế do khoảng cách 5 năm nghỉ hưu sớm hơn nam.
- Đào tạo, bồi dưỡng: Cán bộ nữ gặp rào cản về thời gian khi tham gia các khóa đào tạo sau đại học dài hạn, học tập tập trung hoặc đào tạo tại nước ngoài.
- Chính sách và môi trường làm việc: Chưa có nhiều chính sách đặc thù nhằm giảm tải áp lực vừa trực bệnh viện vừa giảng dạy và nghiên cứu cho nữ cán bộ; thiếu các điều kiện hỗ trợ thiết thực về nhà trẻ, thời gian làm việc linh hoạt.
Chương 3: Giải pháp phát triển đội ngũ nữ CBQL các trường Đại học Y Việt Nam theo quan điểm bình đẳng giới
Dựa trên nguyên tắc đồng bộ, khả thi, kế thừa và đáp ứng yêu cầu bình đẳng giới thực chất, luận án đề xuất hệ thống 6 nhóm giải pháp:
- Giải pháp 1: Nâng cao nhận thức về công tác phát triển đội ngũ nữ CBQL đối với các cấp quản lý: Đẩy mạnh tuyên truyền Luật Bình đẳng giới năm 2007; xóa bỏ định kiến giới trong cấp ủy, ban giám hiệu và đội ngũ cán bộ, giảng viên; nâng cao nhận thức tự vươn lên của chính bản thân cán bộ nữ.
- Giải pháp 2: Xây dựng quy hoạch phát triển đội ngũ cán bộ nữ theo hướng tăng quyền năng cho phụ nữ: Đảm bảo tỷ lệ nữ trong nguồn quy hoạch đạt tối thiểu 30–40%; xây dựng lộ trình quy hoạch liên tục, dài hạn, tạo nguồn kế cận từ các giảng viên nữ trẻ, bác sĩ nội trú.
- Giải pháp 3: Tạo nguồn, sử dụng và bổ nhiệm đội ngũ cán bộ nữ phù hợp với năng lực và hoàn cảnh trên cơ sở đáp ứng yêu cầu bình đẳng giới: Chuẩn hóa tiêu chuẩn chức danh quản lý; quy định chỉ tiêu bắt buộc có cán bộ nữ tham gia ban lãnh đạo nhà trường và các bộ môn; linh hoạt độ tuổi bổ nhiệm lần đầu đối với cán bộ nữ có trình độ cao.
- Giải pháp 4: Đổi mới quản lý trong đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nữ: Đa dạng hóa hình thức đào tạo (đào tạo tại chỗ, từ xa, ngắn hạn theo chuyên đề quản lý y tế); ưu tiên phân bổ học bổng, đề tài nghiên cứu khoa học cho cán bộ nữ; nới rộng khung tuổi quy định cử đi đào tạo tiến sĩ và sau đại học.
- Giải pháp 5: Đánh giá đội ngũ cán bộ nữ theo hướng tạo động lực phát triển: Xây dựng bộ công cụ đánh giá theo bảng điểm định lượng kết hợp định tính, tính toán giảm trừ hợp lý định mức giờ chuẩn giảng dạy và nghiên cứu khoa học cho cán bộ nữ trong thời gian nuôi con nhỏ và đảm nhiệm công tác quản lý.
- Giải pháp 6: Xây dựng chính sách và tạo môi trường làm việc thuận lợi trên cơ sở xác định rõ các ưu tiên chiến lược: Xây dựng môi trường văn hóa tổ chức công bằng; hỗ trợ cơ sở vật chất, chế độ phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp ưu đãi nghề y tế theo Nghị định 56/2011/NĐ-CP; tạo điều kiện cân bằng giữa công việc giảng dạy - điều trị lâm sàng và đời sống gia đình.
Kết quả khảo sát tính cần thiết, khả thi và thử nghiệm:
- Kết quả khảo sát bằng phiếu hỏi về mức độ cần thiết và tính khả thi của 6 giải pháp đối với cán bộ quản lý và chuyên gia đạt tỷ lệ đồng thuận cao.
- Luận án đã tiến hành thử nghiệm Giải pháp 5 ("Đánh giá đội ngũ cán bộ nữ theo hướng tạo động lực phát triển") thông qua việc áp dụng bảng điểm đánh giá mới. Kết quả so sánh trước và sau thử nghiệm cho thấy sự chuyển biến tích cực về động lực làm việc, mức độ hài lòng và sự tự tin phấn đấu vươn lên của đội ngũ cán bộ nữ.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ nữ cán bộ quản lý trường đại học theo lý thuyết phát triển nguồn nhân lực gắn với quan điểm bình đẳng giới.
- Xác định và luận giải rõ nét tính đặc thù nghề nghiệp của đội ngũ nữ CBQL các trường đại học y (vừa là nhà quản lý, vừa là giảng viên, vừa là bác sĩ lâm sàng), từ đó bổ sung luận cứ khoa học về việc lồng ghép giới trong quản lý nhân lực giáo dục y tế.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp bức tranh thực trạng chân thực, chi tiết trong 10 năm (2000–2010) về số lượng, chất lượng, cơ cấu và các khâu quản lý đội ngũ nữ CBQL tại 5 trường đại học y đại diện cho ba miền Bắc, Trung, Nam.
- Đề xuất hệ thống 6 giải pháp khả thi, đồng bộ và xây dựng bộ tiêu chí/bảng điểm đánh giá cán bộ nữ có lồng ghép yếu tố nhạy cảm giới, góp phần nâng cao hiệu quả công tác cán bộ tại các cơ sở đào tạo y khoa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Mẫu khảo sát của luận án giới hạn tại 5 trường đại học y công lập lớn của Việt Nam; thời gian nghiên cứu tập trung vào giai đoạn 2000–2010; đối tượng khảo sát tập trung ở cấp bộ môn, phòng, ban và lãnh đạo trường (do đặc thù tổ chức các trường y tại thời điểm nghiên cứu không thành lập cấp khoa).
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các cơ sở giáo dục đại học tư thục có đào tạo khối ngành sức khỏe; nghiên cứu tác động của cơ chế tự chủ đại học và quy định mới về tuổi nghỉ hưu đối với công tác phát triển đội ngũ nữ cán bộ quản lý y tế trong giai đoạn hiện nay.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ): Cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu thực chứng để ban hành các chính sách, quy chế có nhạy cảm giới trong quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm cán bộ ngành y tế và giáo dục.
- Đối với Ban Giám hiệu các trường Đại học Y: Cung cấp khung giải pháp thực tế, đặc biệt là quy trình quy hoạch và công cụ đánh giá cán bộ nữ theo hướng tạo động lực, giúp hoàn thiện công tác quản trị nhân lực của nhà trường.
- Đối với nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Là tài liệu tham khảo trong các chuyên ngành Quản lý giáo dục, Quản trị nhân lực, Xã hội học giới và Chính sách công.
Câu hỏi thường gặp
1. Đội ngũ nữ cán bộ quản lý các trường Đại học Y có điểm đặc thù gì so với các trường đại học khác?
Trả lời: Đội ngũ nữ CBQL trường y mang đặc thù "ba trong một": họ vừa là cán bộ quản lý giáo dục, vừa là giảng viên giảng dạy lý thuyết/thực hành, vừa là bác sĩ trực tiếp khám chữa bệnh tại các bệnh viện thực hành. Họ phải đảm nhiệm đồng thời 3 mục tiêu đào tạo (dạy nghề y, dạy phương pháp luận, dạy y đức) và làm việc trong môi trường chăm sóc sức khỏe có áp lực cao.
2. Khung tổ chức bộ môn của các trường Đại học Y trong luận án được phân chia như thế nào?
Trả lời: Theo luận án, các trường đại học y không tổ chức cấp khoa trung gian mà các bộ môn trực thuộc Ban Giám hiệu, được phân chia thành 4 khối: (1) Khối Y học dự phòng; (2) Khối Y học cơ bản; (3) Khối Y học cơ sở; (4) Khối Y học lâm sàng.
3. Khảo sát thực trạng trong luận án được thực hiện tại những trường nào và trong giai đoạn nào?
Trả lời: Luận án khảo sát dữ liệu trong 10 năm học (từ năm học 2000–2001 đến năm học 2009–2010) tại 5 trường đại học y: Trường Đại học Y Hà Nội, Trường Đại học Y Thái Bình, Trường Đại học Y Hải Phòng, Trường Đại học Y Huế và Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Luận án đề xuất bao nhiêu giải pháp và đã tổ chức thử nghiệm giải pháp nào?
Trả lời: Luận án đề xuất 6 giải pháp cụ thể nhằm phát triển đội ngũ nữ CBQL theo quan điểm bình đẳng giới. Trong đó, tác giả đã tổ chức khảo sát chuyên gia về tính cần thiết, khả thi của cả 6 giải pháp và tiến hành thử nghiệm thực tế đối với Giải pháp 5: "Đánh giá đội ngũ cán bộ nữ theo hướng tạo động lực phát triển" (sử dụng bảng điểm đánh giá có tính đến yếu tố giới và chức danh quản lý).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Lương Hoài Nga là một công trình nghiên cứu hệ thống về phát triển đội ngũ nữ cán bộ quản lý các trường đại học y tại Việt Nam dưới góc độ lý thuyết nguồn nhân lực và bình đẳng giới. Thông qua việc phân tích dữ liệu 10 năm (2000–2010) tại 5 trường đại học y đại diện ba miền, luận án đã chỉ rõ thực trạng số lượng, chất lượng, cơ cấu và các rào cản giới trong công tác cán bộ. Hệ thống 6 giải pháp và công cụ đánh giá cán bộ đề xuất trong luận án có giá trị thực tiễn đối với công tác quản lý giáo dục đại học y tế và thúc đẩy bình đẳng giới trong ngành giáo dục Việt Nam.