phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giáo viên THPT trong bối cảnh đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay. Chƣơng 2: Thực trạng đội ngũ và phát triển đội ngũ giáo viên trường THPT Phạm Ngũ Lão, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Chƣơng 3: Một số biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên trường THPT Phạm Ngũ Lão, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng bối cảnh đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC PHỔ THÔNG HIỆN NAY 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu ngoài nước Sử gia Daniel A.Wren đã nhận xét rằng: "Quản lý cũng xưa cũ như chính con người vậy", nhưng ông cũng ghi nhận rằng mới chỉ mới gần đây người ta mới chú ý đến " chất khoa học" của quá trình quản lý. Thuyết quản lý khoa học (Sciencific Management) sở dĩ có tên như vậy là nhờ tựa đề cuốn sách "Những nguyên tắc quản lý khoa học" (The Principles of Scientific Management) của Frederick Wuislow Taylor (1856 - 1915) xuất bản năm 1911. Hậu thế coi F.W Taylor là "cha đẻ của thuyết quản lý khoa học".
Bốn nguyên tắc quản lý khoa học của Taylor đưa ra: - Nghiên cứu một cách khoa học mỗi yếu tố của một công việc và xác định phương pháp tốt nhất để hình thành. - Tuyển chọn công nhân một cách cẩn trọng và huấn luyện họ hoàn thành nhiệm vụ bằng cách sử dụng các phương pháp có tính khoa học đã được hình thành. - Người quản lý hợp tác đầy đủ và toàn diện với công nhân để đảm bảo chắc rằng người công nhân sẽ làm việc theo những phương pháp đúng đắn. - Phải chia công việc và trách nhiệm sao cho người quản lý có bộ phận lập kế hoạch cho các phương pháp công tác khi sử dụng những nguyên lý khoa học, còn người công nhân có nhiệm vụ thực thi công tác theo đúng kế hoạch đó.
Trong bối cảnh những biến đổi sâu sắc về kinh tế - xã hội diễn ra trong các thập kỷ 20 - 30 của thế kỷ XX, một trào lưu - một học thuyết trong quản lý đã ra đời; đó là quan điểm hành vi, hay với tên gọi khác, quan điểm quan hệ con người. Học thuyết này giúp người quản lý ứng xử có hiệu quả 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hơn với những khía cạnh con người, khía cạnh nhân bản trong một tổ chức. Thay vì quá chú trọng đến chức năng của người quản lý, thuyết này gắng hướng dẫn cách (how) người quản lý thực hiện cái (what) họ phải làm; tức là họ phải làm thế nào để lãnh đạo, hướng dẫn người dưới quyền và giao tiếp với những người dưới quyền ra sao. Ở nước ngoài những nhà nghiên cứu về lý luận và thực tiễn quản lý giáo dục, nhất là ở các nhà trường phổ thông đã được quan tâm từ rất sớm.
Ngay từ thế kỷ XVII, nhà sư phạm lỗi lạc J. Cômenxki (1592 - 1670) khi đặt nền móng cho hệ thống các nhà trường - một tài sản quý báu còn tồn tại đến ngày nay đã tạo cơ sở ra đời của vấn đề quan trọng hàng đầu trong quản lý giáo dục là " tổ chức hệ thống giáo dục" trên quy mô toàn xã hội. Trong những năm gần đây ở Việt Nam đã dịch và giới thiệu nhiều công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu phương Tây về quản lý giáo dục điển hình là các công trình: "Hành vi tổ chức giáo dục"(organization Behavior in Education) của Robert J.Owens (1995), "Quản lý giáo dục - lý thuyết nghiên cứu và thực tiễn" (Educational Administration - Theory, Research and Practice) của Wayne. Nghiên cứu trong nước Cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ thì sự phát triển của giáo dục diễn ra ngày càng mạnh mẽ.
Phát triển giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu ở mỗi quốc gia, từ quốc gia đang phát triển đến quốc gia đã phát triển; nó là nhân tố quyết định sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi quốc gia. Để phát triển giáo dục cần nhiều yếu tố, trong đó yếu tố quan trọng nhất là đội ngũ giáo viên – nhân tố quyết định chất lượng giáo dục Nhận thức được vấn đề đó, Đảng và Nhà nước luôn coi trọng phát triển GD&ĐT, điều này được thể hiện qua các quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước về sự nghiệp giáo dục: trong Hiến pháp, trong Luật giáo dục 2005, các Nghị quyết TW 4 (khoá VII), TW2 (khoá VIII), Kết luận Hội nghị TW6 (khoá IX) và Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về ĐNGV khẳng định: - Nhà giáo và cán bộ quản lý là đội ngũ cán bộ đông đảo nhất, có vai trò quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp nâng cao dân trí, xây dựng con người, đào tạo nhân lực cho đất nước. Nhà nước ta tôn vinh nhà giáo, coi trọng nghề dạy học.
- Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là nhiệm vụ của các cấp uỷ Đảng và Chính quyền, coi đó là một bộ phận công tác cán bộ của Đảng và Nhà nước; trong đó ngành giáo dục giữ vai trò chính trong việc tham mưu và tổ chức thực hiện. - Phát triển ĐNGV và cán bộ quản lý giáo dục sao cho đảm bảo về số lượng, hợp lý về cơ cấu, chuẩn về chất lượng nhằm đáp ứng nhu cầu vừa tăng quy mô vừa nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục. - Chuẩn hoá đội ngũ về các mặt: Vững vàng về chính trị; Gương mẫu về đạo đức; Trong sạch về lối sống; Có trí tuệ, kiến thức và năng lực thực tiễn; Gắn bó với nhân dân. Trong những năm gần đây, nhiều đề án, giải pháp về quản lý phát triển đội ngũ nhà giáo ở các cấp học, bậc học đã được nghiên cứu và áp dụng: - “Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020” (QĐ số 711/2012/QĐ- TTg ngày 13 tháng 06 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ) - Đề án “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005 – 2010” (QĐ số 09/2005/QĐ- TTg ngày 11 tháng 1 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ).
Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý Hoạt động quản lý xuất hiện rất sớm từ khi con người biết hợp sức lại với nhau để thực hiện một mục đích nào đó. Từ thời thượng cổ, trung cổ đến thời hiện đại, trải qua hàng nghìn năm lịch sử phát triển hoạt động quản lý đã có những phát triển và trở thành bộ môn khoa học quản lý. Có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm quản lý.
Dưới đây là một số quan niệm chủ yếu: 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Mac đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều đều cần đến một sự chỉ đạo điều hành những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể, khác với sự vận động của các khí quan độc lập với nó. Một người độc tấu vĩ cầm thì tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”.180] Theo Frederick Wins TayLor (1856-1915) cho rằng: “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”[7]. Koontz thì lại khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức). Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”.327] Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: “Quản lý là chức năng của những hệ thống có tổ chức và bản chất khác nhau (xã hội, sinh vật, kỹ thuật), nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện những chương trình, mục đích hoạt động” [36, tr.
Theo Vũ Ngọc Hải “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra” [24, tr. Theo Đặng Quốc Bảo “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế, … bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [4, tr. Xuất phát từ những loại hình hoạt động quản lý, tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí cho rằng “Quản lý là quá trình đạt đến mục 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [7, tr. Tác giả Nguyễn Ngọc Quang quan niệm: “Quản lý là hoạt động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”.
Từ những quan niệm của các học giả đã nêu, chúng ta có thể rút ra nhận xét sau: Tuy cách diễn đạt khác nhau nhưng những định nghĩa trên đều thể hiện được bản chất của hoạt động quản lý đó là hoạt động quản lý nhằm cho hệ thống vận động theo mục tiêu đã đặt ra, tiến đến trạng thái có chất lượng mới. Quản lý là hoạt động có chủ đích, được tiến hành bởi một chủ thể quản lý nhằm tác động lên khách thể quản lý để thực hiện các mục tiêu xác định của công tác quản lý. Chủ thể tiến hành những hoạt động theo các chức năng quản lý như xác định mục tiêu, các chủ trương, chính sách; hoạch định kế hoạch, tổ chức và chỉ đạo thực hiện, kiểm tra để thực hiện các mục tiêu quản lý. Trong quản lý có hai bộ phận khăng khít, đó là chủ thể quản lý và khách thể quản lý.