Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG DẠY NGHỀ THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ngoài nước Nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên, giảng viên là vấn đề được nhiều nước trên thế giới quan tâm, Norihiro KURODA (2009) cùng nhiều tác giả khác nghiên cứu về phát triển nghề dạy học dựa trên quan điểm tiếp cận phát triển, các tác giả coi sự phát triển năng lực dạy học của giáo viên là một quá trình liên tục, kéo dài suốt cả quá trình lao động nghề nghiệp của giáo viên và thực hiện qua các giai đoạn khác nhau và có nhiều thay đổi khác nhau [96], tuy nhiên những thay đổi trong phát triển nghề nghiệp của giáo viên được xác định cụ thể trong từng giai đoạn như thế nào thì chưa được các tác giả khai thác sâu. Lênin coi trọng các nghiên cứu về giáo viên và phát triển đội ngũ giáo viên, tác giả đề cao vị trí vai trò của giáo viên trong giáo dục, đào tạo và trong xã hội, đồng thời đề xuất biện pháp cần phải nâng cao một cách có hệ thống, đồng bộ về phẩm chất, năng lực của giáo viên theo quan điểm thường xuyên, liên tục và một trong những biện pháp đó là phải quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của giáo viên nhằm tạo động lực để giáo viên phát triển, tác giả thể hiện quan điểm: “Chúng ta phải làm cho giáo viên ở nước ta có một địa vị mà trước đây họ chưa từng có, hiện nay vẫn không có.
Và yêu cầu phải nâng cao một cách có hệ thống, kiên trì, liên tục trình độ, tinh thần của giáo viên. Nhưng điều chủ yếu, chủ yếu và chủ yếu là cải thiện đời sống vật chất cho họ” [53, tr241]. Raja Roy Singh nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên thông qua việc nghiên cứu xác định vai trò, vị trí của giáo viên trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp và nội dung phát triển đội ngũ giáo viên, theo tác giả: Giáo viên không chỉ là nhà chuyên môn mà còn là nhà giáo dục, nhà khoa học, người tư vấn, hướng dẫn, người học tập suốt đời [dẫn theo 52]. Tác giả Tian Ye (Trung Quốc) đề cập đến chương trình phát triển NLTH cho giảng viên trong các cơ sở giáo dục và đào tạo nghề ở Bắc Kinh.
Đây là một dự án đặc biệt của chính quyền địa phương nhằm mục đích cải thiện việc giảng dạy ở bậc chuyên nghiệp. Trong đó, năng lực thực hành sư phạm của giảng viên được đặc biệt quan tâm. Ủy ban giáo dục thành phố Bắc Kinh (Trung Quốc) và Sở tài chính hợp 9 tác tiến hành các dự án từ năm 2007 đến năm 2010. Chương trình phát triển NLTH bao gồm chín nội dung cần thực hiện, bao gồm: Đào tạo tại chức, xây dựng đội ngũ giảng viên, xây dựng cơ sở vật chất, tuyển dụng giảng viên trợ giảng,… Chương trình được tiến hành trong tất cả các trường đào tạo kỹ thuật - dạy nghề ở Bắc Kinh để nâng cao chất lượng và phát triển giáo dục và đào tạo nghề.
Tại “Diễn đàn Giáo dục cho mọi người”, do UNESCO (Dakar, Senégal Tháng 4/2000), coi chất lượng GV là một trong mười yếu tố cấu thành chất lượng giáo dục. Quan điểm và nhận thức về vị trí, vai trò của GV, đội ngũ GV ngày càng đúng đắn, toàn diện hơn. Bàn về chất lượng của ĐNGV các nhà khoa học giáo dục ở các nước trên thế giới đã có nhiều công trình đã được công bố đều có sự thống nhất về quan niệm và nội dung chất lượng ĐNGV. Kết quả của một công trình nghiên cứu của các thành viên OECD (Tổ chức Hợp tác Phát triển Châu Âu) đã đưa ra nội dung chất lượng giáo viên gồm 5 mặt: (1).
Kiến thức phong phú về phạm vi chương trình và nội dung bộ môn mình giảng dạy; (2) Kỹ năng sư phạm, kể cả việc có được “kho kiến thức” về phương pháp giảng dạy, về năng lực sử dụng những phương pháp đó; (3) Có tư duy phản ánh trước mỗi vấn đề và có năng lực tự phê bình, nét rất đặc trưng của nghề dạy học; (4) Biết cảm thông và cam kết tôn trọng phẩm giá của người khác; (5) Có năng lực quản lý, kể cả trách nhiệm quản lý trong và ngoài lớp học. Các công trình nghiên cứu phục vụ đào tạo nguồn nhân lực khoa học - kỹ thuật ở các nước phát triển thể hiện quan điểm: Chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế; đội ngũ GV là yếu tố quyết định chất lượng đào tạo nguồn nhân lực của mỗi quốc gia. Trong quá trình nghiên cứu, xác định về vị trí, vai trò, chất lượng, phẩm chất nhà giáo… các nhà khoa học giáo dục ở mỗi nước, các tổ chức giáo dục quốc tế đã chú trọng nghiên cứu và đi đến thống nhất những tiêu chí chuẩn hóa ĐNGV cùng những biện pháp, kinh nghiệm nhằm phục vụ cho xây dựng, phát triển ĐNGV, đáp ứng cải cách giáo dục; đồng thời đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực mới cho thời kỳ hội nhập quốc tế. 10 Lousks - Horsley (1990) nghiên cứu về đặc điểm lao động của giáo viên, vị trí, vai trò của giáo viên và sự phát triển nghề nghiệp của giáo viên, tác giả khẳng định: Sự phát triển nghề nghiệp giáo viên là một quá trình cải tiến kỹ xảo công tác, tri thức và thái độ của giáo viên trong hoạt động dạy học, giáo dục của nhà trường.
Mặc dù chưa đề cập đến phát triển giáo viên theo tiếp cận năng lực nhưng tác giả đã quan tâm đến vấn đề phát triển hệ thống tri thức, kỹ năng làm việc và phẩm chất của giáo viên đây là một cách tiếp cận các thành phần cấu thành nên năng lực của người giáo viên. Warren - Piper và Glatter (1997) nghiên cứu phát triển giáo viên thông qua việc đề xuất các biện pháp có hệ thống nhằm thúc đẩy hoạt động của giáo viên bao gồm nghiên cứu nhu cầu, nguyện vọng của giáo viên, khảo sát nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng giáo viên để giúp giáo viên phát triển nghề nghiệp [dẫn theo 52]. Mô hình cơ sở BLS do Cục Thống kê lao động của Mỹ (US. Bureau of Labor Statistics) thực hiện để nghiên cứu dự báo nhu cầu nguồn nhân lực của các ngành nghề khác nhau trong đó có nguồn nhân lực giáo dục, trên cơ sở đó có các giải pháp phát triển nguồn nhân lực cho từng ngành nói chung và phát triển đội ngũ giáo viên nói riêng.
Đây là mô hình dự báo mang tính vĩ mô cung cầu, sản phẩm chia theo ngành; Đầu ra - đầu vào; Nhân lực theo ngành; Nhân lực theo nghề. Mỗi thành phần được giải quyết tuần tự, với kết quả của từng yếu tố đầu vào cho các thành phần kế tiếp và với một số kết quả cho phép quay trở lại bước trước đó. Một trong những thế mạnh của mô hình BLS là kết quả dự báo chi tiết cho các ngành và nghề nghiệp, điều này đặc biệt hữu ích khi dự báo cho nhóm ngành nghề cụ thể như nhu cầu phát triển đội ngũ giáo viên và định hướng phát triển đội ngũ giáo viên của quốc gia. Một số nước quan tâm đến phát triển giáo viên thông qua việc nghiên cứu ban hành chuẩn nghề nghiệp giáo viên, thông qua đó giúp giáo viên tự phấn đấu rèn luyện để đạt chuẩn đồng thời là căn cứ để cơ sở giáo dục đánh giá giáo viên theo đó xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng phát triển nghề nghiệp cho giáo viên: Australia xây dựng chuẩn nghề nghiệp giáo viên dựa trên tiếp cận phát triển các năng lực nghề nghiệp (bao gồm việc học tập, thực hành và đóng góp cho sự phát triển nghề nghiệp giáo viên.
Các thành tố chính được miêu tả trong chuẩn nghề nghiệp giáo viên của Australia đều quan tâm đến chất lượng dạy học của giáo viên, kì vọng của người giáo viên trong 4 giai đoạn phát triển nghề: mới vào nghề, thành 11 thạo nghề, giỏi nghề và dẫn dắt/dẫn đầu trong nghề. Bộ chuẩn nghề nghiệp dành cho giáo viên được phân thành 3 lĩnh vực của việc dạy học, 7 tiêu chuẩn, 37 tiêu chí với 148 chỉ báo mô tả (dấu hiệu) theo 4 giai đoạn phát triển nghề của giáo viên [93]. Bộ chuẩn không đề cập đến hệ thống năng lực đặc thù của giáo viên mà trực tiếp chỉ ra các nhiệm vụ gắn với yêu cầu về chất lượng của hoạt động chuyên môn giáo viên cần phải thực hiện. Chuẩn nghề nghiệp giáo viên của Australia được thiết lập theo hệ thống chặt chẽ, khá chi tiết, dễ hiểu, dễ sử dụng cho giáo viên phù hợp với văn hóa của Australia có tác dụng định hướng cho giáo viên phát triển nghề nghiệp và là căn cứ để nhà quản lý đánh giá giáo viên và tổ chức bồi dưỡng, đào tạo phát triển đội ngũ giáo viên.
Bộ Giáo dục Singapore (MOE) xây dựng bộ chuẩn dựa trên khung năng lực nghề nghiệp của viên chức giáo dục và hệ thống quản lí các hoạt động giáo dục (Educational Performance Management System - EPMS). Hệ thống này chỉ rõ những yêu cầu đối với giáo viên về kiến thức, kĩ năng, năng lực và “cụm năng lực” (competency cluster), mối liên hệ giữa hành vi và kết quả thực hiện mà giáo viên cần phải đạt được, các phẩm chất đặc trưng đảm bảo cho quá trình được thực hiện hiệu quả một cách bền vững, thành công lâu dài. Chuẩn năng lực nghề nghiệp giáo viên của Singapore được phân thành 4 nhóm chính (hay còn gọi là cụm năng lực): Nuôi dưỡng kiến thức; Thắp sáng trái tim và khối óc; Biết mình biết người; Biết làm việc cùng người khác. Cụm năng lực được tổ hợp bởi các thành tố cụ thể và được mô tả chi tiết hơn trong phạm vi 2 đối tượng giáo viên: dành cho tất cả giáo viên đại trà và giáo viên cốt cán.
Các chỉ báo nêu trên không xếp theo mức. Chuẩn nghề nghiệp giáo viên của bang New Jersey - Hoa kỳ gồm 10 tiêu chuẩn: Kiến thức môn học; Sự phát triển và trưởng thành của học sinh; Người học đa dạng; Lập kế hoạch và chiến lược giảng dạy; Đánh giá; Môi trường học tập; Nhu cầu đặc biệt; Giao tiếp; Cộng tác và đối tác; Phát triển nghề nghiệp (chuyên môn). Chuẩn nghề nghiệp giảng viên của Ohio - Columbus, Mỹ. Chuẩn nghề nghiệp giảng viên của Ohio bao gồm 3 mảng như sau: Dạy học, đảm bảo các điều kiện dạy học, mức độ thuần thục nghề dạy học và 7 tiêu chuẩn gồm: Hiểu biết về 12 người học; Nội dung dạy học; Đánh giá; Giảng dạy; Môi trường học tập; Phối hợp và giao tiếp; Trách nhiệm và sự trưởng thành về chuyên môn.