Chương 1 TỎNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐÉN PHÁT TRIEN DOI NGU DOANH NHAN TRE 1. CAC NGHIEN CUU VE PHAT TRIEN DOI NGU DOANH NHAN TRE DA DUOC CÔNG BÓ Ở NGOÀI NƯỚC Trên thế giới, chủ đề về doanh nhân (DN), các đặc điểm thường thấy ở một doanh nhân thành đạt hay bí quyết để trở thành doanh nhân thành dat, v. luôn là chủ đề được thảo luận sôi nổi trong cả giới học thuật, giữa các nhà quản lý với nhau cũng như trong phạm vi toàn xã hội vì nói đến DN là nói đến thành công, giàu có, tài năng và rất nhiều các đặc trưng cá nhân khác nữa. Tương tự như vậy, khi đứng trên góc độ khoa học, khái niệm và các vấn đề liên quan tới đội ngũ doanh nhân cũng được các nhà nghiên cứu tiếp cận ở nhiều góc độ đa dạng và phong phú.
Các nghiên cứu về đội ngũ doanh nhân như một chủ thể quan trọng của nền kinh tế - xã hội Thứ nhất, khái niệm doanh nhân, so với nhiều phạm trù kinh tế khác có lịch sử ra đời khá tương đồng, bởi lẽ khi nói đến hoạt động kinh tế là thường gắn với những con người thực hiện hoạt động sản xuất - kinh doanh (SX - KD), cung cấp hàng hóa dịch vụ cho thị trường, mà điển hình là DN. Khái niệm doanh nhân được nhà kinh tế học người Pháp Richard Cantillon đề cập lần đầu tiên vào giữa thế kỷ XVIII trong tác phẩm “Essay on the Nature of Trade in General” được ông viết trong khoảng những năm 1730 và xuất bản lần đầu năm 1755. Khi thảo luận về khái niệm “doanh nhân”, ông đặt DN trong mối quan hệ đối lập với những người làm việc để nhận được khoản thu nhập có định, và định nghĩa doanh nhân là những người chấp nhận chỉ trả những khoản chi phí đã được tính toán cho hoạt động sản xuất và thu về những khoản thu nhập không có định hay được biết trước, thông qua việc dự 11 báo nhu cầu của thị trường đối với sản phâm họ sản xuất ra, theo Cantillon (1755) [52]. Với quan điểm như vây, ông khẳng định doanh nhân đóng vai trò quan trọng trong việc đưa thị trường đạt đến điểm cân bằng thông qua việc dự đoán chính xác nhu cầu của người tiêu ding.
Cantillon không chỉ là người đầu tiên đưa ra khái niệm doanh nhân mà còn là người khởi xướng của nhóm nhà nghiên cứu coi DN là những người gắn liền với lợi nhuận và rủi ro. Các nhà nghiên cứu khác có cùng quan điểm này có Joseph A. Schumpeterkhi ông cho rằng doanh nhân là những người có khả năng kết hợp các yếu tô đầu vào theo một cách thức phù hợp và sáng tạo để tạo ra giá trị cho khách hàng với kì vọng rằng giá trị này sẽ lớn hơn chi phí các yếu tố đầu vào, vì vậy sẽ tạo ra siêu lợi nhuận, theo Schumpeter (1934) [101]. Quan điểm này của Schumpeter đã bắt đầu thể hiện Sự quan tâm tới khía cạnh sáng tạo trong hoạt động của DN.
Quan điểm của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) khá tương đồng với Schumpeter khi xác định doanh nhân đóng vai trò là tác nhân của những thay đổi và sự tăng trưởng trong một nền kinh tế thị trường và họ có thể hành động đề thúc đây việc tạo ra, truyền bá và ứng dụng các ý tưởng sáng tạo, v. Chính vì vây, hoạt động của các DN không chỉ nhằm mục tiêu tìm kiếm các cơ hội kinh doanh, xác định lợi nhuận tiềm năng mà còn sẵn sàng chấp nhận rủi ro đối với chính các kỳ vọng của họ. Cùng có quan điểm tương tự, Bách khoa thư Oxford về buôn bán định nghĩa: Doanh nhân là người đảm nhiệm việc cung cấp một loại hàng hoá hay dịch vụ nhất định cho thị trường để thu được lợi nhuận cá nhân, thường thì họ đầu tư vốn cá nhân vào việc kinh doanh, chấp nhận rủi ro liên quan đến số đầu tư đó”. Như vậy, những quan điểm về doanh nhân theo trường phái này thường nhắn mạnh vào 3 yếu tố cơ ban: (i) loi nhuận; (ii) rủi ro; và (iii) kỳ vọng và các ý tưởng sáng tạo.
Nhóm quan niệm thứ hai nhấn mạnh chức năng quản lí và điều hành 12 của doanh nhân đối với các doanh nghiệp; tiêu biểu như Carton và cộng sự (1998) [Š1], và Gibson và cộng sự (1976) [65].Gibson, nhà kinh tẾ - chính trị học hiện đại người Mỹ đã đưa ra định nghĩa ngắn gọn về doanh nhân là người sáng lập và quản trị doanh nghiệp; tức là, doanh nhân là người bỏ vốn vào kinh doanh và chịu trách nhiệm quản lý số vốn đó [65]. Cùng với quan điểm tương tự, [51] cho rằng, doanh nhân là một cá nhân hay một nhóm người xác định cơ hội, tập hợp các nguồn lực cần thiết, chịu trách nhiệm cao nhất về hoạt động của tổ chức, theo đuổi, tìm kiếm các cơ hội, tham gia vào việc thành lập ra một tổ chức với kỳ vọng tạo ra giá trị cho những người tham gia. Các nhà nghiên cứu theo quan niệm này nhắn mạnh vai trò của DN trong nội bộ một doanh nghiệp, với chức năng chủ yếu là của một nhà quản lý. Như vậy, tùy theo các mục tiêu nghiên cứu khác nhau, các học giả đã xác định khái niệm, phạm vi hoạt động và vai trò của DN không hoàn toàn tương đồng.
Đối với những nghiên cứu mang tính hướng nội, các nhà nghiên cứu xác định doanh nhân đóng vai trò qua trọng trong việc quản lý, điều hành doanh nghiệp; ngược lại, khi xem xét những đóng góp của DN như là một thành viên quan trọng của nền kinh tế, họ lại nhắn mạnh mục tiêu lợi nhuận và khả năng chấp nhận rủi ro của chính những doanh nhân này. Một điều thú vị là, quan điểm đầy đủ về doanh nhân với vai trò vừa là người điều hành doanh nghiệp, vừa là một nhân tố quan trọng trong tăng trưởng và phát triển kinh tế đã được Adam Smith đưa ra từ rất sớm. Trong tác phâm “Của cải của các dân tộc”, Smith (1776) [102] đã mở rộng khái niệm doanh nhân của Cantillon với 3 chức năng cơ bản bao gồm: () chủ sở hữu, (1) nhà quản lý và (11) người chấp nhận rủi ro. Thứ hai, các nghiên cứu về tố chất và bí quyết thành đạt của DN tập trung nghiên cứu đến các yếu tố thuộc về tính cách, khả năng của các cá nhân được xác định đóng vai trò quyết định tới sự thành công của các doanh nhân.
Các nghiên cứu theo hướng này cho rằng, để đảm bảo sự thành công khi khởi 13 nghiệp kinh doanh, doanh nhân thường hội tụ đủ bốn nhóm nhân tố, bao gồm: Một là, các doanh nhân có tiềm năng đạt được những thành công trong kinh doanh thường có đầy đủ 4 tố chất liên quan đến (¡) khát vọng, (ii) động lực; (11) kỷ luật; (1v) quyết tâm. Đề rút ra được các đặc trưng chung trong tính cách và đặc điểm của các cá nhân có tiềm năng trở thành các doanh nhân thành đạt, đa phần các tác giả dành thời gian để nghiên cứu về các doanh nhân thành đạt như Jack Welch - Chủ tich General Electronic, Morita - chu tich cua Sony, Kuné - nguyén Chu tich Nissan, Bill Gate, Warrant Buffett, v. Dién hình cho những nghiên cứu nay 1a téng két cia Warren Blank (2001) [45]. Trong nghiên cứu của mình, Warren chia các kỹ năng cần thiết của các nhà lãnh đạo thành 3 nhóm: (i) nhóm kỹ năng nền tảng, (1) nhóm kỹ năng định hướng và (ii) nhóm kỹ năng tạo ảnh hưởng.
Trong đó nhóm kỹ năng thứ nhất giúp cá nhân nhận ra khát vọng, động lực và quyết tâm của bản thân để đạt được thành công nói chung và khi bước vào gây dựng sự nghiệp kinh doanh như một doanh nhân nói riêng. Hai nhóm kỹ năng còn lại nhằm giúp các doanh nhân gây dựng được các phẩm chất giúp lôi cuốn người xung quanh hưởng ứng và đi theo con đường cá nhân người lãnh đạo đã chọn. Với mối quan tâm sâu sắc tới đội ngũ DN thành đạt trong các nền kinh tế châu Á mới nổi, các chuyên gia kinh tế thuộc tạp chí Nihon Keizai (Nhật Bản) đã đặt trọng tâm nghiên cứu của mình vào đối tượng là tang lớp doanh nhân thành đạt ở Trung Quốc. Thông qua nghiên cứu các hành vi trong kinh doanh, phương thức ra quyết định và cả cuộc sống cá nhân của những DN này, các nhà nghiên cứu đã đưa ra công thức tổng quát cho đặc điểm cá nhân đóng vai trò quan trọng trong thành công của các DN này bao gồm: Cách nhìn mới mẻ, mạnh bạo trong kinh doanh; Cân trọng và hiệu quả trong quản lý; Giàu có nhưng không hoang phí; Phải có khả năng suy tính và phán đoán; Coi trọng nội lực và những giá trị truyền thống: Quan tâm đúng mức đến giải trí ngoài công sở.
Những tổng kết này vừa nhấn mạnh được những đặc điểm cơ 14 bản mà DN dù ở thời kỳ nào, bối cảnh nào, quốc gia nào cũng cần có là sự táo bạo, khả năng phán đoán và ra quyết định, quyết tâm mạnh mẽ và kỷ luật - không hoang phí cũng là một loại kỷ luật, đặc biệt là với những người giàu có; đồng thời cũng nêu lên được những đặc điểm mang tính đặc thù của văn hóa châu á như giá trị truyền thống, hay thời gian cần thiết dành riêng cho mỗi người đề khôi phục được thể lực và trí lực sau thời gian làm việc. Hai là, doanh nhân cũng cần có đủ những kiến thức và bí quyết riêng về kinh doanh để tồn tại và phát triển trên thương trường. Bên cạnh những tố chất cá nhân giúp doanh nhân có đủ vững vàng trong sự nghiệp kinh doanh, kiến thức luôn là vấn đề thứ hai được các học giả đề cao trong nghiên cứu bí quyết thành công của các doanh nhân. Vấn đề này được MacLaughlin và các cộng sự (2016) [76] phân tích và trả lời thông qua những kinh nghiệm kinh doanh của bản thân các tác giả, và xây dựng một lộ trình khởi nghiệp gồm 16 bước.
Trong đó các tác giả nhắn mạnh rằng, các DN cần xác định được những khó khăn, thách thức sẽ phải đối mặt, đồng thời biết tận dụng các năng lực của bản thân đề giảm thiểu rủi ro và lập kế hoạch kinh doanh một cách linh hoạt dé kịp thời điều chỉnh với những thay đối từ phía thị trường. Không chỉ thế, khi hướng dẫn về khởi nghiệp, Aulet (2013) [40] đã nhân mạnh việc doanh nhân cần phải xây dựng được chiến lược kinh doanh cũng như có kiến thức đầy đủ về khách hàng và thị trường của mình.