Chương 1. Cơ sở lý luận của vấn đề phát triển đội ngũ cán bộ. Thực trạng phát triển đội ngũ cán bộ ở cơ quan Trung ƣơng Đoàn Chương 3. Biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ ở cơ quan Trung ƣơng Đoàn.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ 1. Các khái niệm cơ bản của đề tài: 1. Đội ngũ: Theo từ điển tiếng Việt định nghĩa thì "đội ngũ là một tập hợp số đông ngƣời cùng chức năng hoặc nghề nghiệp, thành một lực lƣợng" Theo tác giả Đặng Quốc Bảo, chúng ta có thể hiểu đội ngũ là một tập thể ngƣời gắn kết với nhau, cùng chung lý tƣởng, mục đích, ràng buộc nhau về vật chất, tinh thần và hoạt động theo một nguyên tắc. Với nhiều cách diễn đạt khác nhau các định nghĩa đều nêu rõ đội ngũ là một nhóm ngƣời đƣợc tổ chức và tập hợp thành một lực lƣợng để cùng thực hiện một hay nhiều chức năng có thể cùng nghề nghiệp hoặc khác nhau về công việc nhƣng cùng chung một mục đích nhất định và cùng hƣớng tới mục đích đó.
Đội ngũ bao gồm những ngƣời lao động, tức là nguồn nhân lực đƣợc sử dụng vào một công việc nào đó do bộ phận hoặc đơn vị quản lý. Đội ngũ này nằm trong nguồn nhân lực. Đội ngũ cán bộ: Từ đó cho thấy, đội ngũ cán bộ là tập hợp những cán bộ đƣợc tổ chức thành một lực lƣợng có cùng chung một nhiệm vụ là thực hiện các mục tiêu đặt ra. Tập hợp cán bộ của một cơ quan, tổ chức nhất định thì đƣợc gọi là đội ngũ cán bộ của cơ quan đó hoặc tổ chức đó.
Khi nói đến đội ngũ cán bộ ta phải hiểu và xét trên quan điểm hệ thống đó không phải là một tập hợp rời rạc mà các thành tố trong đó có mối quan hệ lẫn nhau, bị ràng buộc bởi những cơ chế nhất định nào đó. Vì vậy, mỗi tác động vào một thành tố đơn lẻ của hệ thống vừa có ý nghĩa cục bộ, vừa có ý nghĩa trên toàn thể. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phát triển: Theo từ điển tiếng Việt, phát triển là "biển đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp" Phát triển là thuật ngữ đƣợc sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực nhƣ phát triển kinh tế, phát triển xã hội, phát triển nguồn nhân lực, phát triển đội ngũ.
Còn theo quan điểm triết học, phát triển là khái niệm biểu hiện sự thay đổi tăng tiến cả về chất, cả về không gian lẫn thời gian của sự vật hiện tƣợng và con ngƣời trong xã hội. Nhƣ vậy, phát triển đƣợc hiểu là sự tăng trƣởng, là sự chuyển biến theo chiều hƣớng tích cực, tiến lên. Theo tác giả Đặng Bá Lãm thì "phát triển là một quá trình vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, theo đó cái cũ biến mất và cái mới ra đời. Phát triển là một quá trình nội tại: bƣớc chuyển từ thấp lên cao xảy ra bởi vì trong cái thấp đã chứa đựng dƣới dạng tiềm tàng những khuynh hƣớng dẫn đến cái cao.
Còn cái cao là cái thấp đã phát triển". Nhƣ vậy, sự vật, hiện tƣợng, con ngƣời, xã hội biến đổi để tăng tiến về số lƣợng, chất lƣợng dƣới dạng tác động của bên trong hoặc bên ngoài đều đƣợc coi là sự phát triển. Phát triển đội ngũ: Phát triển đội ngũ chính là việc tạo ra các giá trị mới cho đội ngũ để đội ngũ đó đƣợc thay đổi, hoàn thiện theo một chiều hƣớng tích cực. Phát triển đội ngũ cán bộ tức là nhằm vào hoàn thiện kết quả lao động tổng thể của ngƣời cán bộ trong cƣơng vị công tác hiện tại của họ và chuẩn bị cho họ đảm nhận những trách nhiệm cao hơn, nặng nề hơn và phức tạp hơn.
Phát triển đội ngũ cán bộ là một bộ phận của hệ thống phát triển nguồn nhân lực. Phát triển đội ngũ cán bộ là một khái niệm tổng hợp bao gồm cả đào tạo, bồi dƣỡng, phát triển nghề nghiệp, cả tăng tiến về số lƣợng lẫn chất lƣợng và sử dụng có hiệu quả đội ngũ này. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trƣớc sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và công nghệ đã dẫn tới xu hƣớng hội nhập và toàn cầu hoá và vậy là đòi hỏi phải có sự thay đổi trong mọi lĩnh vực. Phát triển đội ngũ cán bộ trong một tổ chức, đơn vị là xây dựng một đội ngũ cán bộ đủ về số lƣợng, đảm bảo về chất lƣợng, đồng bộ về cơ cấu, loại hình, đoàn kết nhất trí trên cơ sở đƣờng lối giáo dục của Đảng và ngày càng vững mạnh về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đủ sức thực hiện thắng lợi mục tiêu và nhiệm vụ của tổ chức, đơn vị.
Biện pháp phát triển: Khi nói đến biện pháp là nói đến “ cách thức giải quyết một vấn đề nào đó”; và trong thực tế đôi lúc ngƣời ta cũng dung giải pháp thay cho biện pháp. Theo từ điển tiếng Việt: "Giải pháp là phƣơng pháp giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó". Với quan niệm này giải pháp đƣợc hiểu là một tập hợp các biện pháp. Trong hoạt động thực tiễn, giải pháp đƣợc quan niệm là yếu tố hợp thành phƣơng pháp, phụ thuộc vào phƣơng pháp.
Có thể lấy ví dụ: Để tác động vào đối tƣợng bị quản lí ngƣời ta có thể đƣa ra các biện pháp khác nhau: biện pháp tâm lí xã hội. Với ý nghĩa nhƣ vậy thì đôi khi giải pháp đƣợc dùng thay cho biện pháp. Tóm lại, ta có thể hiểu giải pháp nhƣ là cách thức giải quyết một vấn đề cụ thể. Các giải pháp đƣợc đánh giá theo các tiêu chí sau: - Tính kế thừa: Không làm xáo trộn, hay quá thay đổi những cái đã có mà kế thừa có chọn lọc.
- Tính phù hợp: Giải pháp đƣa ra phải là những giải pháp phù hợp với điều kiện hoàn cảnh cụ thể. - Tính khả thi: Giải pháp không bị các yếu tố chi phối nó ràng buộc ở mức độ cao. - Tính thực tiễn: Giải pháp phải gắn với thực tiễn, phải luôn bám sát sự biến đổi của thực tiễn để điều chỉnh cho phù hợp 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Tính hiệu quả: Giải pháp giải quyết đƣợc vấn đề đặt ra và không làm nảy sinh những vấn đề mới phức tạp hơn Từ phân tích trên có thể hiểu rằng giải pháp phát triển đội ngũ cán bộ là hoạt động cụ thể (gắn với các biện pháp cụ thể) đƣợc chủ thể quản lý sử dụng để tác động đến các thành tố cấu trúc của đội ngũ cán bộ nhằm giải quyết vấn đề tồn tại của đội ngũ cán bộ, phát triển nó theo mục tiêu đã đƣợc xác định, đáp ứng với yêu cầu của tình hình mới, bối cảnh mới. Một số vấn đề lý luận về phát triển nguồn nhân lực và quản lý đội ngũ cán bộ: 1.
Phát triển nguồn nhân lực: - Nội dung phát triển nguồn nhân lực (đội ngũ): + Nguồn nhân lực: Trong lý thuyết phát triển, nguồn nhân lực, theo nghĩa rộng đƣợc hiểu nhƣ nguồn lực con ngƣời của quốc gia, một vùng lãnh thổ, là một bộ phận của các nguồn lực có khả năng huy động, tổ chức, quản lý để tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội nhƣ nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính. Nguồn nhân lực theo nghĩa hẹp và có thể lƣợng hoá đƣợc, là một bộ phận dân số, bao gồm những ngƣời trong độ tuổi quy định, từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, hay còn gọi là lực lƣợng lao động. Trong bất kỳ tổ chức nào, (tổ chức xã hội, kinh tế lớn hay một tổ chức đơn lẻ) đều có bộ phận lãnh đạo, quản lý và nhân lực thừa hành, tác nghiệp theo từng lĩnh vực, từng công việc với chức năng nhiệm vụ cụ thể. + Phát triển nguồn nhân lực là quá trình tạo ra sự biến đổi về cơ cấu, về số lƣợng và chất lƣợng nguồn nhân lực phù hợp với giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội ở các cấp độ khác nhau, đáp ứng nhu cầu nhân lực cần thiết cho các lĩnh vực hoạt động lao động và đời sống xã hội, nhờ đó mà phát triển đƣợc năng lực, tạo đƣợc công ăn việc làm, nâng cao mức sống và chất lƣợng cuộc sống cho các tầng lớp dân cƣ và cuối cùng là đóng góp chung cho sự nghiệp phát triển của xã hội.
13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Tƣ tƣởng chỉ đạo về phát triển nguồn nhân lực là lấy phát triển bền vững làm trung tâm. Mỗi con ngƣời là một cá nhân độc lập, làm chủ quy trình lao động của mình. Mỗi con ngƣời là một chủ thể tâm lý khác nhau; Phải lấy lợi ích của ngƣời lao động làm nguyên tắc cơ bản của quản lý; Đảm bảo môi trƣờng dân chủ, thuận lợi cho tiến hành giao lƣu đồng thuận; Có chính sách giải phóng và phát huy tiềm năng của ngƣời lao động; Phát triển nguồn nhân lực phải bám sát thị trƣờng lao động, tránh tình trạng đào tạo ra không biết nhân lực có đáp ứng đƣợc công việc hay không, có chỗ làm hay không; Phải có chính sách phát triển nguồn nhân lực nhƣ: Sử dụng, phân công lao động, đào tạo bồi dƣỡng, thi đua khen thƣởng v. để tạo ra động lực để kích thích ngƣời chăm học, chăm làm, động viên tính tích cực của ngƣời lao động để họ năng động, thiện chí, cầu tiến, tự nguyện, tự giác làm việc cho tổ chức.
Quản lý nguồn nhân lực cuối cùng là vì con ngƣời, cho con ngƣời, do con ngƣời thực hiện và đƣợc con ngƣời cân bằng tâm lý, phát triển toàn diện, cần gắn chặt nhu cầu và lợi ích kinh tế thì kết quả lao động của con ngƣời mới có chất lƣợng và bền vững. Con ngƣời tham gia vào quá trình đó một cách tích cực và có trách nhiệm, sáng tạo, trung thực và phải đƣợc hƣởng hạnh phúc. Tác động vào nhu cầu, lợi ích con ngƣời là biện pháp thƣờng xuyên thoả mãn nhu cầu và lợi ích của họ là mục tiêu của quản lý. Giữ gìn và phát huy thƣờng xuyên tính tích cực sáng tạo của họ là yêu cầu trung tâm của quản lý nguồn nhân lực.
Để khai thác tối đa tiềm năng của con ngƣời tạo ra lợi thế cạnh tranh đòi hỏi tập trung vào 3 khía cạnh: Thiết kế cơ cấu, sắp xếp và tổ chức công việc; quản lý văn hoá tổ chức; quản lý chính sách và nhân sự.