Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài có liên quan đến đề tài 1. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến phát triển dịch vụ y tế David Bloom và David Canning (2000), “Health and wealth of nations” [103] (Sức khoẻ và sự giàu có của các quốc gia), Science, Vol. Nghiên cứu cho thấy mối quan hệ giữa sức khoẻ và sự phát triển của các quốc gia, cải tiến về sức khỏe cung cấp một sự thúc đẩy đáng kể cho tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển.
Điều này dẫn đến quan điểm rằng sức khỏe và giáo dục, là một trong những thành phần cơ bản của vốn nhân lực và khái niệm về tăng trưởng là do sức khỏe dẫn dắt. Đồng thời, nhóm tác giả đã chỉ ra mối quan hệ giữa sức khoẻ và thu nhập. Sức khỏe tốt hơn dẫn đến thu nhập cao hơn, như vậy sức khoẻ có tác động đến thu nhập. Chính vì vậy, để chăm sóc sức khoẻ tốt cho người dân cần nâng cao chất lượng các dịch vụ dịch vụ y tế từ đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế.
Peters, Sameh El-Saharty, Banafsheh Siadat, Katja Janovsky, Marko Vujicic (2009), “Improving Health Service Delivery in Developing Countries, From Evidence to Action” [104] (Cải thiện việc cung cấp dịch vụ y tế ở các nước đang phát triển, từ bằng chứng đến hành động), World Bank, Washington DC. Cuốn sách đưa ra một thông điệp: Có nhiều cách thức để cải thiện dịch vụ y tế. Đánh giá các thay đổi và sử dụng thông tin để định hướng cho các quyết định và cung cấp thông tin cho các bên liên quan là các yếu tố cực kỳ quan trọng để có thể thực hiện thành công các chiến lược cải thiện dịch vụ y tế. Sự thiếu hụt thông tin về tác động của các chiến lược y tế đối với người nghèo là một vấn đề đáng lo ngại, nhưng vấn đề này có thể khắc phục được.
Cần phải tập trung làm rõ việc các chiến lược có tác động như thế nào luan an 11 đối với các nhóm dân số nghèo và dễ tổn thương. Một vấn đề quan trọng khác là phải thúc đẩy các bên liên quan và các tổ chức tham gia vào việc tìm kiếm các cách thức cải thiện dịch vụ y tế, vì chỉ có nỗ lực của các chính phủ, các nhà nghiên cứu, các chuyên gia thì chưa đủ. Bradley, Sarah Pallas, Chhitij Bashyal, Peter Berman and Leslie Curry (2010), Developing strategies for improving health care delivery [105] (Phát triển các chiến lược để cải thiện việc cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ), World Bank's Human Development Network, Washington, Mỹ. Trong bài viết này các tác giả đã đưa ra một quy trình chung có thể được áp dụng trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động và các biện pháp can thiệp, nhằm giúp các nhà quản lý trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe và các cơ quan có thẩm quyền xem xét một cách có hệ thống hiệu quả hoạt động của các tổ chức cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe và các biện pháp để cải thiện hiệu quả hoạt động.
US Department of Health and Human Services (2010), “National Action Plan to Improve Health Literacy” [117] ( Kế hoạch hành động quốc gia để cải thiện kiến thức về sức khỏe). Bài viết đã đề cập đến các mục tiêu nhằm nâng cao nhận thức về sức khoẻ, dựa trên các nguyên tắc: mọi người đều có quyền tiếp cận các thông tin về sức khỏe để giúp họ đưa ra các quyết định có căn cứ rõ ràng và các dịch vụ y tế nên được cung cấp theo các cách thức dễ hiểu và có lợi cho sức khỏe, tuổi thọ và chất lượng cuộc sống. Thông qua đó nhà nước cần có những chương trình hành động để nâng cao chất lượng cung ứng DVYT. Kutzin J, Cashing C, Jakab M, Editors (2010), “Implementing health financing reform: lessons from countries in transition” [112] (Thực hiện cải cách tài chính y tế: Bài học từ các nước trong quá trình chuyển đổi), Copenhagen, WHO for the European Observatory on Health systems and policies.
Cuốn sách này phân tích hệ thống tài chính y tế, cải cách ở ở Liên Xô và Trung Đông Âu trước năm 1990 và hậu quả của quá trình chuyển đổi luan an 12 đối với tổ chức và hoạt động của các quốc gia này. Trên cơ sở đó đã đề xuất một số giải pháp về tài chính, mối quan hệ giữa cải cách tài chính y tế và hệ thống tài chính công; trách nhiệm của các tổ chức tài chính y tế nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ y tế. Berman, Peter, Pallas, Sarah, Smith, Amy, Curry, Leslie, Bradley, Elizabeth (2011), “Improve the delivery of health services” [99] (Cải thiện việc cung cấp các dịch vụ y tế), Report at the Conference on Health, Nutrition and Population, World Bank, Washington, DC. Các tác giả đã nhấn mạnh có đủ điều kiện tài chính và sử dụng hiệu quả công nghệ có thể là điều kiện cần thiết để đạt được lợi ích về sức khoẻ.
Việc cung cấp dịch vụ có hiệu quả là thời điểm mà tại đó tiềm năng của hệ thống y tế cải thiện, cuộc sống đáp ứng được cơ hội để đạt được lợi ích về sức khoẻ. Hoạt động cung cấp DVYT là sự tiếp cận và sử dụng dịch vụ của người có nhu cầu, đủ chất lượng chăm sóc để mang lại lợi ích cho sức khoẻ; sử dụng hiệu quả các nguồn lực khan hiếm; các cơ sở y tế có thể học hỏi, thích ứng và cải tiến trong tương lai. Mặt khác, các cơ sở y tế phải kết hợp tài chính, vật chất và nguồn nhân lực để cung cấp các dịch vụ y tế có hiệu quả. London (2013), “The promises and perils of hospital autonomy reform by decree in Viet Nam” [111] (Lời hứa và những nguy cơ của cải cách tự chủ bệnh viện theo nghị định tại Việt Nam), Department of Asian and International Studies, City University of Hong Kong.
Bài viết nghiên cứu các tác động của tự chủ hóa bệnh viện ở Việt Nam bằng cách sử dụng một khung nghiên cứu “quyết định - không gian”, xem xét cách thức các bệnh viện sử dụng quyền tự quyết của mình và hiệu quả của việc sử dụng đó. Các phân tích cho thấy tự chủ đem lại sự tăng doanh thu, tăng lương cho cán bộ nhân viên, tăng mức đầu tư vào cơ sở hạ tầng và thiết bị từ đó phát triển được dịch vụ y tế. luan an 13 Richard B.Saltman, JuhaTeperi (2016), “Health reform in Finland” [116] (Cải cách y tế ở Phần Lan), Journal of Medical Economics, policy and law, volume 13, number 3. Các tác giả đã phân tích thực trạng hệ thống y tế ở Phần Lan.
Vào đầu những năm 1990, suy thoái kinh tế nghiêm trọng ở Phần Lan đã làm giảm tài trợ công và làm suy yếu mô hình quản lý chăm sóc sức khỏe phi tập trung của hệ thống y tế ở Phần Lan. Trong thời gian qua, chính phủ Phần Lan đã tập trung vào cải cách hành chính trong khu vực công đặc biệt là hội nhập các dịch vụ y tế. Chính phủ Phần Lan đã đề xuất thay thế cấu trúc tài trợ công đa kênh hiện tại (bao gồm trợ cấp bảo hiểm y tế cho các dịch vụ y tế nghề nghiệp) bằng cơ cấu tài trợ công một kênh. Trong bài viết đưa ra 8 đề xuất có mối quan hệ qua lại với nhau và cần phải được thực hiện một cách đồng bộ để thúc đẩy hơn nữa việc cải cách y tế ở Trung Quốc.
Về tổng thể, 8 đề xuất này hướng tới việc cải thiện năng lực cung cấp dịch vụ ở “cấp dưới” và tạo ra một môi trường thể chế và tài chính thuận lợi ở “cấp trên”. Các đề xuất này được coi là các định hướng thực thi chính sách cho chính quyền các cấp từ đó thực hiện tốt chính sách cải cách hệ thống y tế. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến phát triển dịch vụ y tế công Alexander S. Preker - April Harding (2000), “The Economics of Public and private Roles in Health Care” [97] (Vai trò của kinh tế công cộng và kinh tế tư nhân trong chăm sóc sức khoẻ), World Bank, Washington, DC.
Nghiên cứu đã khái quát vai trò của kinh tế công cộng trong chăm sóc sức khoẻ, đặc điểm thị trường DVYT, bao gồm thị trường đầu vào và đầu ra với những đặc điểm và rào cản gia nhập ngành khác luan an 14 nhau giữa các loại hàng hóa của thị trường DVYT. Theo nhóm nghiên cứu, cần phải tạo cơ hội bình đẳng giữa các chủ thể trong nền kinh tế trong việc tiếp cận tới các nguồn lực. Saltman RB, Duran A, Dubois HFW (2011), “Governing Public Hospitals: Recent Strategies and the Movement Toward Institutional Autonomy” [115] (Quản lý bệnh viện công: Các chiến lược hiện nay và xu hướng tự chủ ở các bệnh viện), Brussels, European Observatory on Systems and Policies. Nghiên cứu đã phân tích thực trạng quản trị các bệnh viện công ở Châu Âu, mối quan hệ giữa việc ra quyết định của các bệnh viện công lập công và hành vi tổ chức, cùng với xu hướng tự chủ ở các bệnh viện.
Jakubowski E, Saltman RB (2013), “The changing national role in health system governance” [110] (Vai trò của nhà nước trong quản lý hệ thống y tế), A case based study of 11 European countries and Australia, Copenhagen, WHO for the European Observatory on Health Systems and Policies. Trong bài viết này các tác giả đã nhấn mạnh vai trò của Nhà nước trong việc ra quyết định và đóng vai trò chi phối đối với việc cung cấp dịch vụ y tế, điển hình là điều hành các bệnh viện thông qua chính phủ quốc gia hoặc khu vực trên cơ sở chỉ huy và kiểm soát. Tuy nhiên, ở một số quốc gia, vai trò nhà nước này đã bắt đầu thay đổi, với việc các chính phủ lần đầu tiên bước ra khỏi việc cung cấp dịch vụ trực tiếp và đã đẩy mạnh tập trung nhiều hơn vào các tổ chức cung cấp chỉ đạo thay vì quản lý công trực tiếp. Pamela Halse, Nonkululeko Moeketsi, Sipho Mtombeni, Genna Robb, Thando Vilakazi and Yu-Fang Wen (2014), “The role competition policy in healthcare markets” [113] (Chính sách cạnh tranh trong thị trường chăm sóc sức khoẻ), Competition Commission of Sout Africa.
Nghiên cứu đã khái quát được bức tranh tổng thể thị trường chăm sóc sức khỏe Nam Phi và khẳng định thị trường chăm sóc sức khoẻ là thị trường đặc biệt; thông tin trong thị trường luan an 15 này không hoàn hảo và bất đối xứng. Do đó, nó hoạt động không giống thư các thị trường bình thường nên rất cần phải có những quy định chặt chẽ. Dale Huntington và Krishna Hort (2015), “Public Hospital Governance in Asia and the Pacific” [102] (Quản trị bệnh viện công ở Châu Á và Thái Bình Dương), Asia Pacific Observatory on Health Systems and Policies Comparative Country Studies, Vo1, No 1.