Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Phát triển thị trường Dịch vụ môi trường ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế" do nghiên cứu sinh Nguyễn Duy Thái thực hiện tại Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương thuộc Bộ Công Thương, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Phạm Tất Thắng và PGS.TS. Nguyễn Văn Lưu, hoàn thành năm 2022 thuộc chuyên ngành Kinh doanh thương mại (mã số 62.21).

Về tính cấp thiết, công trình xuất phát từ thực tiễn quá trình đổi mới, công nghiệp hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam tạo ra tăng trưởng kinh tế nhưng đồng thời gây áp lực lớn làm suy thoái tài nguyên và ô nhiễm môi trường. Dịch vụ môi trường (DVMT) giữ vai trò ngăn ngừa, giảm thiểu ô nhiễm, xử lý chất thải phát sinh, kiến tạo môi trường sống trong lành, giảm thiểu phát thải khí nhà kính và nâng cao tỷ trọng của khu vực dịch vụ trong nền kinh tế. Dù được lồng ghép vào các chính sách phát triển bền vững và tăng trưởng xanh, thị trường DVMT tại Việt Nam vẫn bộc lộ nhiều hạn chế: phát triển chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước; doanh nghiệp đa phần có quy mô vừa và nhỏ, thiếu vốn ưu đãi và công nghệ hiện đại; giá dịch vụ duy trì ở mức thấp; năng lực cung ứng chỉ đáp ứng khoảng 5% nhu cầu xử lý nước thải đô thị, 15% nhu cầu chế biến chất thải rắn và 14% chất thải nguy hại, trong khi đóng góp vào GDP chỉ tăng từ 0,51% năm 2005 lên gần 0,57% năm 2013. Tình trạng độc quyền nhà nước, cơ chế bao cấp dịch vụ công ích và khung pháp lý thiếu cơ chế vận hành theo nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền là nguyên nhân chính cản trở thị trường. Trước các cam kết sâu rộng trong các hiệp định thương mại tự do (FTA) và WTO, việc thương mại hóa các sản phẩm DVMT theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước là yêu cầu cấp thiết.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm mục tiêu tổng quát và 3 mục tiêu cụ thể:

  1. Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất giải pháp phát triển thị trường DVMT ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế thời kỳ đến năm 2030.
  2. Mục tiêu cụ thể 1: Hệ thống hóa, làm rõ cơ sở lý luận, xây dựng khung lý thuyết về phát triển thị trường DVMT và thị trường dịch vụ chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH), tổng hợp kinh nghiệm quốc tế và rút ra bài học áp dụng tại Việt Nam.
  3. Mục tiêu cụ thể 2: Đánh giá thực trạng phát triển thị trường DVMT ở Việt Nam qua nghiên cứu điển hình tại thành phố Hà Nội giai đoạn 2008 - 2021; chỉ rõ kết quả đạt được, hạn chế, nguyên nhân và các vấn đề cần hoàn thiện.
  4. Mục tiêu cụ thể 3: Xác lập hệ thống quan điểm, định hướng và đề xuất các nhóm giải pháp phát triển thị trường DVMT ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế thời kỳ đến năm 2030.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển thị trường DVMT ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
  • Phạm vi nội dung: Mặc dù thị trường DVMT bao gồm 8 phân ngành, tác giả giới hạn nghiên cứu chuyên sâu vào "Phát triển thị trường dịch vụ thu gom, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế". Lý do lựa chọn là vì CTRSH là sản phẩm phụ tất yếu phát sinh từ sinh hoạt hàng ngày, là vấn đề bức xúc xã hội; dịch vụ CTRSH mang tính công ích thuộc trách nhiệm của Nhà nước gây áp lực ngân sách lớn; khối lượng phát sinh năm 2019 lên tới 64.221 tấn/ngày (tăng 46% so với năm 2010) và dự báo đạt 54 triệu tấn vào năm 2030; tỷ lệ chôn lấp chiếm tới 71% với đa phần bãi chôn lấp không hợp vệ sinh; đồng thời cần thực hiện mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng (đến năm 2025 tỷ lệ thu gom, xử lý CTRSH đô thị đạt quy chuẩn 90%) và các quy định mới của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu thị trường dịch vụ CTRSH tại Việt Nam, kinh nghiệm quốc tế và chọn thành phố Hà Nội làm địa bàn điển hình do Hà Nội có chi ngân sách cho dịch vụ CTRSH chiếm 3,9% chi thường xuyên, lượng CTRSH phát sinh đứng thứ hai cả nước (~6.500 tấn/ngày), tập trung 22 doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế giai đoạn 2008 - 2020 và có 17 khu xử lý quy hoạch.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát thực trạng giai đoạn 2008 - 2021; các định hướng và giải pháp đề xuất có tầm nhìn đến năm 2030.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan nghiên cứu của luận án được cấu trúc thành ba nhóm công trình chính:

Nhóm thứ nhất bao gồm các nghiên cứu chung về thị trường, môi trường và phát triển bền vững: Nguyễn Duy Gia (1993) phân tích vai trò quản lý của Nhà nước và việc sử dụng các công cụ kinh tế điều tiết thị trường; Trần Hậu Thư (1994) luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của Nhà nước trong quản lý giá cả; Trương Mạnh Tiến (1996) nghiên cứu tác động của thương mại tự do tới môi trường sinh thái và đề xuất giải pháp thể chế nhưng chưa đề cập giải pháp phát triển DVMT; Bùi Văn Dũng (1999) phân tích mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường dưới góc độ triết học; Hồ Trung Thanh (2003) nghiên cứu mối quan hệ giữa chính sách thương mại và chính sách môi trường nhằm phát triển thương mại bền vững; Sheperd Fairey (2006) phân tích lý thuyết cung, cầu và cân bằng thị trường hàng hóa; Đoàn Thị Thanh Hương (2008) đề xuất giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về môi trường trong hoạt động thương mại; Phí Mạnh Hồng (2010) hệ thống hóa lý luận cung - cầu và can thiệp thị trường; Nguyễn Hoài Nam (2018) nghiên cứu phát triển thị trường điện lực tại Việt Nam dưới góc độ kinh tế ngành.

Nhóm thứ hai là các công trình nghiên cứu trực tiếp về dịch vụ môi trường:

  • Các nghiên cứu trong nước: Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường (2005) nghiên cứu cơ sở lý luận và chính sách phát triển DVMT phù hợp hội nhập quốc tế; Hồ Trung Thanh (2007) khảo sát thực trạng 5 phân ngành DVMT cam kết trong WTO gồm xử lý nước thải (CPC 9401), xử lý rác thải (CPC 9402), làm sạch khí thải (CPC 94040), xử lý tiếng ồn (CPC 94050) và đánh giá tác động môi trường (CPC 97090); Nguyễn Ngọc Anh Đào (2013) nghiên cứu pháp luật về công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường; Báo cáo dự án EU-MUTRAP (2015) phân tích thực trạng tự do hóa thương mại đối với hàng hóa và DVMT; Võ Thị Kim Tuyến (2018) nghiên cứu toàn diện hệ thống pháp luật về phát triển DVMT ở Việt Nam.
  • Các nghiên cứu quốc tế: Norman Myers (1995) phân tích dịch vụ môi trường gắn với bảo tồn đa dạng sinh học; Aparna Sawhney (2003) đánh giá cơ hội và thách thức của Ấn Độ khi thực hiện cam kết mở cửa thị trường DVMT; Stefano Pagiola (2006) phân tích cơ chế chi trả dịch vụ môi trường (PES) của Ngân hàng Thế giới; Leslie Lipper và Bernardete Neves (2011) nghiên cứu vai trò của PES trong nông nghiệp bền vững của FAO; Sarah Milne và Colas Chervier nghiên cứu chính sách PES tại Campuchia; Colin Kirkpatrick (2006) đánh giá tác động của cam kết GATS đối với thị trường dịch vụ hạ tầng môi trường tại các quốc gia đang phát triển.

Nhóm thứ ba là các công trình về quản lý chất thải rắn: Nghiêm Xuân Đạt (1993) và Nguyễn Mạnh Ty (1994) nghiên cứu cơ chế quản lý, thu gom và vận chuyển chất thải rắn tại Hà Nội; Lưu Đức Cường (2009) nghiên cứu quy hoạch lựa chọn bãi chôn lấp chất thải rắn; Lưu Việt Hùng (2009) phân tích pháp luật về quản lý chất thải rắn thông thường; Lê Hoàng Việt cùng các cộng sự (2011) nghiên cứu phương thức quản lý tổng hợp CTRSH theo Chiến lược quốc gia đến năm 2025; Nghiêm Vân Khanh (2012) nghiên cứu công nghệ vi sinh xử lý chất thải hữu cơ; Nguyễn Viết Định (2015) đề xuất mô hình xã hội hóa quản lý CTRSH tại đô thị Vinh; Lê Huy Bá cùng các cộng sự (2016) nghiên cứu toàn diện vấn đề bảo vệ môi trường đô thị nhưng chỉ giới hạn trong phạm vi đô thị; Lê Quốc Be (2020) khảo sát thực tiễn pháp luật xử lý CTRSH tại Đà Nẵng; Nguyễn Trung Thắng (2020) tổng quan tình hình phát sinh và mô hình tài chính quản lý chất thải rắn trên thế giới.

Về khoảng trống nghiên cứu: Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận theo hướng pháp lý, kỹ thuật công nghệ xử lý rác thải hoặc quản lý hành chính nhà nước. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về lý luận và thực tiễn phát triển thị trường DVMT ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế dưới góc độ của chuyên ngành Kinh doanh thương mại. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng việc xây dựng khung lý thuyết thương mại hóa dịch vụ công ích CTRSH, khảo sát thực tiễn cung - cầu - giá - chất lượng - cạnh tranh và đề xuất giải pháp vận hành thị trường đồng bộ với các quy định mới của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và cam kết quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết, luận án tổng hợp các lý luận nền tảng về thị trường của Samuelson (cơ chế tương tác xác định giá và sản lượng), David Begg (sự dàn xếp giữa người mua và người bán), Phí Mạnh Hồng và Đại từ điển kinh tế thị trường, xác định 5 yếu tố cấu thành thị trường gồm chủ thể, hàng hóa, giá cả, thông tin thị trường và cơ chế quản lý nhà nước khắc phục các thất bại thị trường.

Đối với khái niệm DVMT, tác giả đối chiếu định nghĩa của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) gắn với Hệ thống phân loại sản phẩm trung tâm của Liên Hợp Quốc (CPC gồm 11 ngành và 160 phân ngành), khái niệm của OECD (1999), UNCTAD (chia DVMT thành 4 nhóm: hạ tầng môi trường cốt lõi; dịch vụ kỹ thuật xây dựng và vận hành; dịch vụ phục hồi; dịch vụ hỗ trợ môi trường), Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 (Điều 150) và Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 (Điều 144). Tác giả phân tích điểm hạn chế của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020: DVMT chưa được đưa vào Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam dẫn tới thiếu chỉ tiêu thống kê quốc gia và thiếu dữ liệu định lượng về giá trị sản xuất của ngành; đồng thời khái niệm quy định phạm vi quá rộng khi đưa cả các nghĩa vụ bắt buộc như bảo tồn đa dạng sinh học hay sử dụng hiệu quả tài nguyên vào phạm trù dịch vụ.

Từ đó, luận án đưa ra hai khái niệm công cụ:

  1. Thị trường dịch vụ môi trường: Là hệ thống cho phép đơn vị cung ứng DVMT và nhu cầu sử dụng DVMT tương tác với nhau để xác định giá và số lượng DVMT cần sử dụng nhằm thực hiện mục đích bảo vệ môi trường và thoả mãn các lợi ích kinh tế, hướng tới sự phát triển bền vững.
  2. Phát triển thị trường dịch vụ môi trường: Là quá trình tác động vào các yếu tố hình thành thị trường DVMT để thị trường DVMT hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, phù hợp với quan điểm và mục tiêu phát triển DVMT của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

Về phương pháp nghiên cứu, luận án kết hợp các phương pháp định tính và điều tra thực tế:

  • Phương pháp kế thừa có chọn lọc: Kế thừa lý luận và kinh nghiệm quốc tế tại Chương 1.
  • Phương pháp tổng hợp, thống kê và phân tích kinh tế: Thu thập và xử lý các chuỗi số liệu thứ cấp để phân tích thực trạng trong toàn bộ Chương 2 và xây dựng giải pháp tại Chương 3.
  • Phương pháp tham khảo chuyên gia: Tham vấn trực tiếp ý kiến chuyên gia tại các hội nghị ngành Công nghiệp môi trường Việt Nam để đúc kết quan điểm, định hướng ở Mục 3.3.
  • Phương pháp điều tra khảo sát bằng bảng hỏi (thực hiện từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2021 tại Hà Nội):
    • Khảo sát doanh nghiệp cung ứng dịch vụ CTRSH: Gửi 20 phiếu, thu về 13 phiếu hợp lệ (tỷ lệ 65%), gồm 8 doanh nghiệp nhà nước (5 doanh nghiệp 100% vốn, 3 doanh nghiệp cổ phần) và 5 doanh nghiệp tư nhân (3 liên danh, 2 độc lập). Bảng hỏi gồm 4 nội dung: thông tin gói thầu cung ứng; thông tin người lao động; chất lượng dịch vụ thu gom vận chuyển; tỷ lệ thu phí vệ sinh.
    • Khảo sát chủ nguồn thải CTRSH: Gửi 600 phiếu tại 30 quận/huyện, thu về 380 phiếu tại 19 quận/huyện, trong đó 350 phiếu trả lời đầy đủ (50 hộ kinh doanh, 330 hộ gia đình). Bảng hỏi gồm 5 nội dung: phương thức cung ứng dịch vụ; chất lượng thu gom vận chuyển; phí vệ sinh; phân loại và giảm thiểu rác thải; tiêu dùng sản phẩm tái chế.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn trực tiếp và qua điện thoại các cán bộ quản lý và nhà hoạch định chính sách về bảo vệ môi trường.
  • Phương pháp quan sát thực địa: Khảo sát tại các doanh nghiệp, điểm tập kết rác, trạm trung chuyển và địa bàn phân loại rác tại nguồn ở Hà Nội.
  • Phương pháp phân tích SWOT: Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức tác động đến thị trường dịch vụ CTRSH tại Chương 2.

Nguồn dữ liệu bao gồm số liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê, báo cáo kinh phí sự nghiệp môi trường toàn quốc, báo cáo quy hoạch chất thải của thành phố Hà Nội và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan, kết hợp với dữ liệu sơ cấp thu được từ hai cuộc điều tra khảo sát năm 2021.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về phát triển thị trường Dịch vụ môi trường trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Chương 1 xây dựng khung lý luận về thị trường DVMT và đặc thù của thị trường dịch vụ CTRSH. Tác giả phân loại thị trường DVMT thành 8 phân ngành theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và chỉ ra 3 vai trò lớn: tạo lập lợi ích môi trường, tạo lập lợi ích xã hội và tạo lập lợi ích kinh tế (coi rác thải là tài nguyên đầu vào).

Luận án chỉ ra sự khác biệt bản chất của thị trường dịch vụ CTRSH: đây là dịch vụ công ích thiết yếu do Nhà nước chịu trách nhiệm cung ứng trước xã hội; Cầu không chỉ là các chủ nguồn thải mà mở rộng ra là Nhà nước; Giá dịch vụ do Nhà nước quy định và áp dụng cơ chế trợ giá; Phương thức cung ứng chủ yếu thực hiện qua đấu thầu (đấu thầu hạn chế hoặc rộng rãi) hoặc đặt hàng các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước.

Đặc điểm các yếu tố thị trường dịch vụ CTRSH:

  • Cung: Hạ tầng do Nhà nước đầu tư và bảo đảm tài chính qua nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường. Lượng cung không tuân theo quy luật cung thông thường vì giá do Nhà nước ấn định và doanh nghiệp có nghĩa vụ phải thu gom toàn bộ lượng rác phát sinh bất kể mức phí. Doanh nghiệp cung ứng trong nước chủ yếu có quy mô vừa và nhỏ, sử dụng nhiều lao động thủ công; doanh nghiệp FDI bị giới hạn địa bàn thu gom do chính quyền cấp tỉnh chỉ định và tập trung vào khâu tái chế, xử lý công nghệ cao.
  • Cầu: Gồm hộ gia đình, khu thương mại - dịch vụ, công sở, khu công cộng, dịch vụ vệ sinh và hoạt động sinh hoạt tại cơ sở sản xuất. Lượng cầu không co giãn theo giá do phí vệ sinh thấp và được giữ cố định dài hạn; chủ nguồn thải không có quyền tự do lựa chọn đơn vị cung ứng.
  • Hàng hóa: Gồm dịch vụ thu gom, vận chuyển và dịch vụ tái chế, xử lý gắn liền với đối tượng CTRSH.
  • Giá: Bao gồm Phí vệ sinh (do HĐND cấp tỉnh quy định khung trần và UBND cấp tỉnh quy định mức thu cụ thể), Đơn giá thu gom vận chuyển và Đơn giá xử lý. Toàn bộ phần chi phí thu gom vận chuyển vượt thu từ phí vệ sinh và 100% chi phí xử lý được ngân sách nhà nước bù giá.

Nội dung phát triển thị trường dịch vụ CTRSH gồm 5 trụ cột: phát triển năng lực cung ứng (hạ tầng, doanh nghiệp, nguồn tài chính); phát triển hợp lý nhu cầu (gắn trách nhiệm chủ nguồn thải, áp dụng nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền, phân loại tại nguồn); nâng cao chất lượng dịch vụ (điều kiện hoạt động, chế tài xử phạt, quy chuẩn kỹ thuật QCVN); hoàn thiện giá dịch vụ (xây dựng đơn giá theo công nghệ, giảm dần bù giá ngân sách); và tăng cường năng lực cạnh tranh (công khai thông tin, đấu thầu rộng rãi, phát triển doanh nghiệp quy mô lớn).

Chương 1 cũng tổng kết các nhân tố tác động (chính sách pháp luật, quá trình phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập kinh tế quốc tế), hệ thống tiêu chí phát triển thị trường và kinh nghiệm quốc tế để rút ra bài học cho Việt Nam.

Chương 2: Thực trạng phát triển thị trường Dịch vụ môi trường ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Chương 2 đánh giá thực trạng các yếu tố thị trường dịch vụ CTRSH tại Việt Nam với trọng tâm khảo sát tại thành phố Hà Nội giai đoạn 2008 - 2021.

Quá trình phát triển kinh tế - xã hội đã làm gia tăng nhanh chóng khối lượng CTRSH: năm 2019 cả nước phát sinh 64.221 tấn/ngày (tăng 46% so với năm 2010), dự báo lên 54 triệu tấn vào năm 2030. Tỷ lệ thu gom rác tại đô thị đạt 92% nhưng nông thôn chỉ đạt khoảng 66%; 71% lượng rác phát sinh hàng ngày được xử lý bằng phương pháp chôn lấp với đa số bãi chôn lấp không hợp vệ sinh. Tại Hà Nội, lượng CTRSH phát sinh khoảng 6.500 tấn/ngày (đứng thứ 2 cả nước), chi ngân sách trực tiếp cho dịch vụ CTRSH chiếm tới 3,9% tổng chi thường xuyên.

Dưới đây là bảng tổng hợp các chỉ tiêu thống kê và danh mục dữ liệu thực trạng được nghiên cứu trong luận án:

STT Nội dung dữ liệu / Bảng thống kê trong luận án Dữ liệu định lượng và phát hiện thực trạng chính
1 Khối lượng CTRSH phát sinh toàn quốc giai đoạn 2010 - 2019 Phát sinh khoảng 64.221 tấn/ngày năm 2019, tăng 46% so với 2010; dự báo đạt 54 triệu tấn vào năm 2030.
2 Tỷ lệ thu gom và xử lý CTRSH toàn quốc Thu gom đô thị đạt 92%, nông thôn đạt 66%; công nghệ chôn lấp chiếm 71% khối lượng phát sinh hàng ngày.
3 Tỷ trọng đóng góp của DVMT trong GDP Đóng góp GDP tăng từ 0,51% (năm 2005) lên gần 0,57% (năm 2013); đáp ứng 5% nước thải đô thị, 15% chất thải rắn, 14% chất thải nguy hại.
4 Phát sinh CTRSH và ngân sách tại TP. Hà Nội Phát sinh khoảng 6.500 tấn/ngày; ngân sách chi cho CTRSH chiếm 3,9% tổng chi thường xuyên thành phố; quy hoạch 17 khu xử lý CTRSH.
5 Doanh nghiệp cung ứng dịch vụ CTRSH tại Hà Nội (2008 - 2020) Có 22 doanh nghiệp tham gia (gồm DNNN sở hữu 100%, DNNN cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, HTX và 01 dự án FDI xử lý rác lớn nhất cả nước).
6 Khảo sát doanh nghiệp cung ứng dịch vụ CTRSH Hà Nội (2021) 13/20 phiếu phản hồi hợp lệ (8 DNNN, 5 tư nhân); ghi nhận rào cản về cơ sở hạ tầng, e dè công khai thông tin, phụ thuộc bù giá.
7 Khảo sát chủ nguồn thải CTRSH tại TP. Hà Nội (2021) 350/600 phiếu hoàn thành (50 hộ kinh doanh, 330 hộ gia đình tại 19 quận/huyện); phản ánh mức phí thấp, phân loại tại nguồn chưa đồng bộ.
8 Hệ thống đơn giá và bù giá dịch vụ Gồm Phí vệ sinh, Đơn giá thu gom vận chuyển và Đơn giá xử lý chôn lấp; ngân sách bù giá toàn bộ chi phí xử lý và phần thiếu hụt của khâu thu gom.

Phân tích chuyên sâu Chương 2 chỉ rõ những nút thắt lớn:

  • Về nguồn cung: Cơ sở hạ tầng thu gom, vận chuyển còn lạc hậu; xe gom đẩy tay và phương tiện thô sơ chiếm tỷ lệ cao; các khu xử lý chậm tiến độ hoặc vận hành không đạt chuẩn kỹ thuật; doanh nghiệp trong nước thiếu vốn và công nghệ hiện đại.
  • Về cầu: Trách nhiệm phân loại rác tại nguồn chưa đi vào thực tế; công tác tuyên truyền hạn chế; chủ nguồn thải chưa có ý thức giảm thiểu rác thải nhựa.
  • Về giá: Phí vệ sinh quy định theo mức cào bằng hộ gia đình, mức thu quá thấp không phản ánh khối lượng rác phát sinh, tạo gánh nặng bao cấp cho ngân sách địa phương.
  • Về chất lượng và cạnh tranh: Thiếu quy chuẩn kỹ thuật đồng bộ; chế tài xử lý vi phạm chưa nghiêm; thông tin thị trường thiếu minh bạch; phương thức đặt hàng dịch vụ công ích vẫn chiếm tỷ trọng lớn làm hạn chế tính cạnh tranh của doanh nghiệp tư nhân.

Chương 3: Đề xuất giải pháp phát triển thị trường Dịch vụ môi trường ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Chương 3 xây dựng hệ thống quan điểm, định hướng và giải pháp phát triển thị trường dịch vụ CTRSH đến năm 2030 trong bối cảnh kinh tế tuần hoàn và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Luận án bám sát mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng (đến năm 2025 tỷ lệ thu gom, xử lý CTRSH đô thị đạt quy chuẩn 90%) và Nghị quyết Đại hội XVII Đảng bộ Hà Nội (đến năm 2025 tỷ lệ thu gom, xử lý rác đô thị và nông thôn đạt 100%).

Hệ thống 5 nhóm giải pháp phát triển thị trường đến năm 2030 gồm:

  1. Nâng cao năng lực cung ứng: Đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư hạ tầng thông qua cơ chế đối tác công tư (PPP); khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân tham gia đầu tư các trạm trung chuyển hiện đại và nhà máy xử lý rác quy mô lớn; cơ cấu lại mạng lưới doanh nghiệp cung ứng dịch vụ; bảo đảm và sử dụng hiệu quả nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường.
  2. Hoàn thiện và sử dụng hợp lý nhu cầu: Thể chế hóa đầy đủ nghĩa vụ của chủ nguồn thải theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2020; bắt buộc thực hiện phân loại CTRSH tại nguồn thành các nhóm có thể tái chế, chất thải thực phẩm và chất thải khác; áp dụng công cụ kinh tế theo nguyên tắc "người gây ô nhiễm phải trả tiền"; hạn chế sử dụng đồ nhựa dùng một lần; nâng cao ý thức chấp hành của cộng đồng dân cư.
  3. Nâng cao chất lượng dịch vụ: Chuẩn hóa điều kiện gia nhập thị trường đối với doanh nghiệp cung ứng dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý rác; siết chặt chế tài xử phạt hành chính và đình chỉ hoạt động đối với đơn vị vi phạm quy định bảo vệ môi trường; hoàn thiện và ban hành đầy đủ hệ thống Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) về công nghệ xử lý CTRSH.
  4. Hoàn thiện giá dịch vụ: Xác định đơn giá thu gom, vận chuyển, xử lý gắn liền với định mức kinh tế kỹ thuật và công nghệ hiện đại; chuyển đổi căn bản cơ chế thu phí vệ sinh cào bằng sang cơ chế giá dịch vụ tính theo khối lượng hoặc thể tích rác thải phát sinh; xây dựng lộ trình giảm dần tỷ lệ trợ giá từ ngân sách, tiến tới chấm dứt bù giá trực tiếp cho khâu thu gom, vận chuyển.
  5. Nâng cao tính cạnh tranh: Hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường dịch vụ môi trường công khai, minh bạch; xóa bỏ độc quyền hành chính; chuyển đổi triệt để phương thức đặt hàng sang đấu thầu rộng rãi công khai cho mọi thành phần kinh tế tham gia; hỗ trợ hình thành các doanh nghiệp Việt Nam có quy mô lớn, đủ năng lực làm chủ công nghệ xử lý tiên tiến cạnh tranh với các nhà đầu tư nước ngoài.

Phần cuối chương đề xuất các kiến nghị cụ thể đối với Chính phủ, các bộ ngành (Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công Thương, Bộ Tài chính) và UBND các tỉnh, thành phố nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý và tổ chức thực thi đồng bộ.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án có hai đóng góp chính:

  1. Hệ thống hóa và làm sáng tỏ khung lý luận về phát triển thị trường dịch vụ môi trường trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế; chỉ rõ những điểm chưa đồng bộ trong khái niệm DVMT của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 so với chuẩn mực quốc tế của OECD và UNCTAD.
  2. Xây dựng khung lý luận chuyên sâu về thị trường dịch vụ CTRSH: phân tích 5 điểm khác biệt bản chất của loại hình dịch vụ công ích này, xác lập đặc điểm cung - cầu - giá - hàng hóa, 5 nội dung phát triển thị trường, các nhân tố tác động và hệ thống tiêu chí phát triển thị trường.

Về mặt thực tiễn, luận án mang lại các kết quả:

  1. Đánh giá khách quan, toàn diện thực trạng phát triển thị trường dịch vụ CTRSH ở Việt Nam thông qua nghiên cứu thực nghiệm tại thành phố Hà Nội giai đoạn 2008 - 2021; làm rõ nguyên nhân của các điểm nghẽn về hạ tầng chôn lấp lạc hậu (chiếm 71%), bao cấp giá dịch vụ và hạn chế cạnh tranh.
  2. Đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ có tính khả thi đến năm 2030 nhằm chuyển dịch dịch vụ CTRSH từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước.
  3. Cung cấp cơ sở khoa học giúp hiện thực hóa các nội dung mới của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 (thu giá theo khối lượng, phân loại tại nguồn), phục vụ mục tiêu đạt tỷ lệ thu gom, xử lý CTRSH đô thị đạt 90% theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và đạt 100% trên địa bàn Hà Nội theo Nghị quyết Đại hội XVII Đảng bộ Thành phố.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế:

  • Luận án mới chỉ tập trung nghiên cứu sâu đối với phân ngành thị trường dịch vụ thu gom, vận chuyển, tái chế, xử lý CTRSH; chưa bao quát toàn bộ 7 phân ngành còn lại của thị trường DVMT (như xử lý nước thải, khí thải, quan trắc, kiểm toán môi trường...).
  • Không gian khảo sát thực nghiệm tập trung điển hình tại thành phố Hà Nội; chưa mở rộng phạm vi điều tra sang các vùng nông thôn xa hoặc các trung tâm kinh tế khác trên toàn quốc.
  • Quá trình điều tra doanh nghiệp cung ứng dịch vụ gặp khó khăn do các đơn vị còn e dè, thận trọng, ngại công khai đầy đủ thông tin tài chính, gói thầu và chi phí vận hành thực tế.

Về hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng nghiên cứu cơ chế thị trường đối với các phân khúc dịch vụ môi trường khác như xử lý nước thải đô thị, xử lý chất thải nguy hại, dịch vụ kiểm toán môi trường và chuyển giao công nghệ môi trường.
  • Tiếp tục khảo sát, đánh giá tác động cạnh tranh sâu rộng khi các cam kết mở cửa thị trường dịch vụ môi trường trong các FTA thế hệ mới có hiệu lực thi hành đầy đủ trong thời gian tới.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cho các nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước: Các bộ ngành (Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công Thương, Bộ Tài chính) và Ủy ban nhân dân các địa phương có thể sử dụng khung giải pháp tại Chương 3 để xây dựng lộ trình tính giá dịch vụ CTRSH theo khối lượng rác, hoàn thiện quy chế đấu thầu cung ứng dịch vụ công ích và ban hành tiêu chí lựa chọn công nghệ xử lý rác thải.
  • Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực môi trường: Tham khảo các tiêu chí phát triển thị trường, các điều kiện về chất lượng dịch vụ, quy chuẩn kỹ thuật và định hướng liên danh, đầu tư công nghệ hiện đại phục vụ tham gia đấu thầu rộng rãi.
  • Nghiên cứu sinh, giảng viên và học viên: Chuyên ngành Kinh doanh thương mại, Kinh tế phát triển và Quản lý môi trường có thể tham khảo phương pháp tiếp cận kinh tế thương mại đối với hàng hóa dịch vụ công ích, khung phân tích thị trường DVMT và các phát hiện điều tra thực nghiệm tại Hà Nội.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao lượng cung trong thị trường dịch vụ CTRSH không tuân theo quy luật cung hàng hóa thông thường? Trả lời: Do giá dịch vụ CTRSH được Nhà nước quy định cố định và áp dụng chính sách trợ giá sản phẩm; đồng thời, các doanh nghiệp cung ứng có nghĩa vụ bắt buộc phải thu gom, vận chuyển hết toàn bộ khối lượng CTRSH phát sinh trên địa bàn được giao mà không thể tự ý cắt giảm sản lượng cung ứng theo mức phí thu được.

  2. Tác giả chỉ ra những hạn chế nào trong khái niệm DVMT quy định tại Luật Bảo vệ môi trường năm 2020? Trả lời: Thứ nhất, DVMT được xác định là ngành kinh tế nhưng chưa được đưa vào Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam, dẫn đến thiếu mã sản phẩm và thiếu chỉ tiêu thống kê quốc gia về giá trị sản xuất và số lượng doanh nghiệp. Thứ hai, quy định phạm vi quá rộng với cụm từ "các dịch vụ khác có liên quan", đưa cả những nghĩa vụ bắt buộc như bảo tồn đa dạng sinh học và sử dụng hiệu quả tài nguyên vào phạm trù dịch vụ.

  3. Mẫu khảo sát thực nghiệm tại thành phố Hà Nội được thực hiện với quy mô và cơ cấu như thế nào? Trả lời: Khảo sát được thực hiện từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2021, gồm hai nhóm: (1) Nhóm doanh nghiệp: gửi 20 phiếu, thu về 13 phiếu hợp lệ (gồm 8 doanh nghiệp nhà nước và 5 doanh nghiệp tư nhân); (2) Nhóm chủ nguồn thải: gửi 600 phiếu tại 30 quận/huyện, thu về 380 phiếu từ 19 quận/huyện, trong đó 350 phiếu trả lời đầy đủ (50 hộ kinh doanh, 330 hộ gia đình).

  4. Cơ cấu giá dịch vụ CTRSH hiện hành gồm những yếu tố nào và cơ chế bù giá của Nhà nước vận hành ra sao? Trả lời: Giá dịch vụ CTRSH bao gồm Phí vệ sinh, Đơn giá thu gom vận chuyển và Đơn giá xử lý. Nhà nước bù giá toàn bộ chi phí thu gom vận chuyển cho doanh nghiệp sau khi trừ đi phần nguồn thu từ Phí vệ sinh; đồng thời chi trả 100% chi phí xử lý CTRSH cho các đơn vị cung ứng.

  5. Giải pháp trọng tâm nào được luận án đề xuất để thay đổi cơ chế giá dịch vụ CTRSH đến năm 2030? Trả lời: Chuyển đổi căn bản từ thu Phí vệ sinh cào bằng sang Giá dịch vụ tính đúng, tính đủ theo khối lượng hoặc thể tích CTRSH phát sinh theo nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền; đồng thời xây dựng lộ trình giảm dần và tiến tới xóa bỏ hoàn toàn cơ chế bù giá thu gom, vận chuyển từ ngân sách nhà nước.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Duy Thái đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển thị trường dịch vụ môi trường và thị trường dịch vụ chất thải rắn sinh hoạt dưới góc độ kinh doanh thương mại. Qua khảo sát thực nghiệm tại thành phố Hà Nội giai đoạn 2008 - 2021, công trình đã nhận diện toàn diện các rào cản về cơ sở hạ tầng, cơ chế bù giá, tính độc quyền và hạn chế cạnh tranh. Hệ thống 5 nhóm giải pháp được đề xuất đến năm 2030 cung cấp luận cứ khoa học có giá trị ứng dụng thực tiễn nhằm vận hành thị trường dịch vụ CTRSH theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, đáp ứng yêu cầu của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.