Tổng quan về luận án
Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, Việt Nam đang đối mặt với bài toán nan giải giữa tăng trưởng kinh tế và suy thoái môi trường. Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Phát triển thị trường Dịch vụ môi trường ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế" (Chuyên ngành: Kinh doanh thương mại, Mã số: 62.21, Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương, 2022) do NCS. Nguyễn Duy Thái thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Phạm Tất Thắng và PGS.TS. Nguyễn Văn Lưu, là công trình tiên phong giải quyết khoảng trống học thuật về thương mại hóa dịch vụ môi trường (DVMT), đặc biệt tập trung vào phân khúc dịch vụ thu gom, vận chuyển, tái chế và xử lý chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH).
Khoảng trống nghiên cứu (Research Gap) cốt lõi xuất phát từ thực trạng ngành DVMT Việt Nam tồn tại nhiều nghịch lý: đóng góp của DVMT trong GDP chỉ tăng nhẹ từ 0,51% (năm 2005) lên gần 0,57% (năm 2013), mới đáp ứng khoảng 5% nhu cầu xử lý nước thải đô thị, 15% nhu cầu chế biến CTR và 14% chất thải nguy hại. Đồng thời, tổng khối lượng CTRSH toàn quốc năm 2019 đạt khoảng 64.221 tấn/ngày (tăng 46% so với năm 2010) và dự báo cán mốc 54 triệu tấn vào năm 2030, nhưng công nghệ xử lý chủ yếu vẫn là chôn lấp (chiếm 71%), đa phần không hợp vệ sinh. Luận án đặt ra các câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết trọng tâm:
- Câu hỏi nghiên cứu 1 (RQ1): Cơ sở lý luận và tiêu chí cấu thành thị trường dịch vụ CTRSH trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế là gì?
- Câu hỏi nghiên cứu 2 (RQ2): Thực trạng cung - cầu, giá cả, cơ chế cạnh tranh và rào cản thể chế của thị trường dịch vụ CTRSH tại Việt Nam (điển hình tại TP. Hà Nội giai đoạn 2008 - 2021) bộc lộ những điểm nghẽn nào?
- Câu hỏi nghiên cứu 3 (RQ3): Những giải pháp chiến lược và lộ trình nào giúp chuyển đổi thị trường dịch vụ CTRSH từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường cạnh tranh có sự điều tiết của Nhà nước đến năm 2030?
- Giả thuyết 1 (H1): Việc duy trì cơ chế bao cấp và định giá dịch vụ hành chính làm triệt tiêu động lực đầu tư công nghệ cao của khu vực tư nhân và FDI.
- Giả thuyết 2 (H2): Thực thi triệt để nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền (Polluter Pays Principle - PPP) kết hợp phân loại rác tại nguồn sẽ tối ưu hóa điểm cân bằng cung - cầu và nâng cao hiệu quả chuỗi giá trị DVMT.
Khung lý thuyết của công trình tích hợp học thuyết kinh tế thị trường (Samuelson, Begg), lý thuyết ngoại ứng và kinh tế học môi trường (Pigou, Coase), cùng các cam kết thương mại dịch vụ quốc tế (GATS/WTO, EVFTA, CPTPP). Phạm vi khảo sát điển hình tại TP. Hà Nội – đô thị phát sinh 6.500 tấn CTRSH/ngày (đứng thứ 2 cả nước), chi ngân sách trực tiếp cho DVMT chiếm tới 3,9% tổng chi thường xuyên – mang lại ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc hiện thực hóa mục tiêu Đại hội XIII của Đảng (đến 2025 tỷ lệ thu gom, xử lý CTRSH đô thị đạt quy chuẩn 90%) và Luật Bảo vệ Môi trường 2020.
Literature Review và Positioning
Tổng quan tài liệu nghiên cứu của luận án được cấu trúc qua ba dòng chảy học thuật (academic streams) chính:
Nhóm nghiên cứu về quản lý nhà nước, kinh tế thị trường và phát triển bền vững: Các tác giả Nguyễn Duy Gia (1993), Trần Hậu Thư (1994), Trương Mạnh Tiến (1996), Bùi Văn Dũng (1999) và Phí Mạnh Hồng (2010) đã xây dựng nền tảng về điều tiết giá, can thiệp vĩ mô và cân bằng cung - cầu. Tuy nhiên, các công trình này chủ yếu nhìn nhận môi trường như một đối tượng quản lý hành chính thuần túy thay vì một thị trường hàng hóa - dịch vụ có tính thương mại cao.
Nhóm nghiên cứu về dịch vụ môi trường và chi trả dịch vụ môi trường (PES): Viện Chiến lược, Chính sách TN&MT (2005), Hồ Trung Thanh (2007), EU-MUTRAP (2015), Võ Thị Kim Tuyến (2018) ở trong nước cùng các nghiên cứu quốc tế của Norman Myers (1995), Aparna Sawhney (2003), Stefano Pagiola (2006), Colin Kirkpatrick (2006), Leslie Lipper & Bernardete Neves (2011), Sarah Milne & Colas Chervier tập trung vào tự do hóa thương mại DVMT và cơ chế PES trong lâm nghiệp, nông nghiệp. Tranh biện học thuật xuất hiện giữa hai quan điểm đối lập: (1) Quan điểm công ích truyền thống cho rằng DVMT là hàng hóa công thuần túy phải do Nhà nước độc quyền bao cấp; (2) Quan điểm thị trường hóa hiện đại (Sawhney, Kirkpatrick) khẳng định tự do hóa thương mại và tư nhân hóa DVMT là động lực nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực.
Nhóm công trình kỹ thuật và quản lý chất thải rắn: Nghiêm Xuân Đạt (1993), Nguyễn Mạnh Ty (1994), Lưu Đức Cường (2009), Lê Hoàng Việt et al. (2011), Nghiêm Vân Khanh (2012), Nguyễn Viết Định (2015), Lê Huy Bá et al. (2016), Lê Quốc Be (2020), Nguyễn Trung Thắng (2020) giải quyết sâu khía cạnh công nghệ xử lý, địa điểm chôn lấp và quản lý đô thị nhưng thiếu vắng phân tích cấu trúc kinh tế - thương mại.
Vị thế học thuật của luận án: Luận án định vị tại điểm giao thoa giữa Kinh tế học Môi trường và Kinh doanh Thương mại. So với nghiên cứu của Aparna Sawhney (2003) tại Ấn Độ (tập trung vào rào cản tiếp cận thị trường DVMT khi mở cửa GATS) và nghiên cứu của Colin Kirkpatrick (2006) về các nước đang phát triển trong khuôn khổ WTO, luận án của NCS. Nguyễn Duy Thái tiến xa hơn khi xây dựng mô hình thị trường DVMT toàn diện, tích hợp đầy đủ chuỗi giá trị CTRSH (thu gom, vận chuyển, tái chế, xử lý) phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN tại Việt Nam.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án đã mở rộng và làm phong phú hệ thống lý luận kinh tế thương mại áp dụng cho lĩnh vực dịch vụ công ích môi trường qua các luận điểm khoa học then chốt:
- Mở rộng lý thuyết thị trường của Samuelson và David Begg vào lĩnh vực phi truyền thống: Luận án tái định nghĩa thị trường DVMT: "Thị trường DVMT là hệ thống cho phép đơn vị cung ứng DVMT và nhu cầu sử dụng DVMT tương tác với nhau để xác định giá và số lượng DVMT cần sử dụng nhằm thực hiện mục đích BVMT và thoả mãn các lợi ích kinh tế, hướng tới sự phát triển bền vững".
- Xác lập khái niệm phát triển thị trường DVMT: Tác giả luận giải: "Phát triển thị trường DVMT là quá trình tác động vào các yếu tố hình thành thị trường DVMT để thị trường DVMT hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, phù hợp với quan điểm và mục tiêu phát triển DVMT của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập KTQT".
- Định hình các mệnh đề lý thuyết (Theoretical Propositions):
- Mệnh đề P1: Cung - cầu dịch vụ CTRSH mang tính phi co giãn giả tạo do sự bao cấp giá của Nhà nước làm méo mó tín hiệu giá cả thị trường.
- Mệnh đề P2: Việc chuyển đổi từ "Phí vệ sinh" mang tính cào bằng sang "Giá dịch vụ định lượng theo khối lượng phát thải" là điều kiện tiên quyết kích hoạt quy luật cung - cầu và kinh tế tuần hoàn.
- Mệnh đề P3: Cạnh tranh trong thị trường CTRSH có sự phân hóa cấu trúc: công đoạn thu gom - vận chuyển mang tính cạnh tranh cục bộ thâm dụng lao động, trong khi công đoạn tái chế - xử lý là cạnh tranh độc quyền nhóm thâm dụng vốn và công nghệ cao.
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án tích hợp đa tầng ba lý thuyết nền tảng: Lý thuyết Cung - Cầu thị trường, Lý thuyết Ngoại ứng (Pigou) và Lý thuyết Thương mại dịch vụ quốc tế (GATS/WTO).
Khung tiếp cận này xác lập các điều kiện biên (boundary conditions): nghiên cứu áp dụng cho các quốc gia đang phát triển trong giai đoạn chuyển đổi kinh tế, nơi dịch vụ công ích đang từng bước được xã hội hóa và thị trường hóa dưới áp lực của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Luận án áp dụng thế giới quan thực chứng (positivism) kết hợp thực nghiệm diễn giải (interpretivism) thông qua thiết kế nghiên cứu hỗn hợp đa phương pháp (Mixed Methods Research Design) chặt chẽ:
- Phương pháp luận triết học: Tiếp cận duy vật biện chứng, nhìn nhận sự phát triển thị trường là quá trình tích lũy về lượng dẫn đến biến đổi về chất theo đường xoắn ốc đi lên.
- Thiết kế nghiên cứu đa cấp độ (Multi-level Design): Kết hợp phân tích thể chế vĩ mô (chính sách quốc gia, cam kết quốc tế), phân tích trung mô (cấu trúc thị trường ngành DVMT Hà Nội) và phân tích vi mô (hành vi của 13 doanh nghiệp cung ứng và 380 chủ nguồn thải).
Quy trình nghiên cứu rigorous
Quy trình thu thập và xử lý dữ liệu được thực hiện khoa học, minh bạch:
- Khảo sát doanh nghiệp cung ứng dịch vụ CTRSH: Tiến hành từ tháng 4 đến tháng 6/2021 tại TP. Hà Nội. Mẫu khảo sát gửi 20 phiếu, thu về 13 phiếu hợp lệ (tỷ lệ phản hồi 65%), gồm 8 doanh nghiệp Nhà nước/cổ phần (5 DNNN 100% vốn, 3 DN cổ phần) và 5 doanh nghiệp tư nhân (3 liên danh, 2 độc lập). Bộ công cụ gồm 4 khối nội dung: thông tin gói thầu, lao động - tiền lương, chất lượng thu gom, và tỷ lệ thu phí.
- Khảo sát chủ nguồn thải CTRSH: Phát 600 phiếu tại 30 quận/huyện TP. Hà Nội; thu về 380 phiếu phản hồi từ 19 quận/huyện; 350 phiếu trả lời đầy đủ 100% câu hỏi (đạt 58,3% mẫu khảo sát hợp lệ), gồm 50 hộ kinh doanh và 330 hộ gia đình. Bộ câu hỏi tập trung vào 5 nhóm chỉ báo: phương thức cung ứng, chất lượng dịch vụ, mức độ chấp nhận giá/phí, phân loại rác tại nguồn và tiêu dùng sản phẩm tái chế.
- Phỏng vấn chuyên sâu & Quan sát thực địa: Phỏng vấn bán cấu trúc các nhà quản lý, chuyên gia đầu ngành tại các hội thảo Công nghiệp Môi trường; quan sát trực tiếp tại các điểm tập kết rác, trạm trung chuyển và các khu liên hợp xử lý chất thải (như Khu LHXLCT Nam Sơn, Xuân Sơn).
- Tam giác đạc dữ liệu (Triangulation): Kết hợp chéo dữ liệu khảo sát thực chứng, báo cáo thống kê chính thống (Tổng cục Thống kê, Bộ TN&MT, Sở Xây dựng Hà Nội) và phân tích SWOT toàn diện cấu trúc thị trường.
Data và phân tích
| Chỉ tiêu / Tập dữ liệu |
Quy mô mẫu / Thông số kỹ thuật |
Ý nghĩa phân tích thực nghiệm |
| Mẫu Doanh nghiệp DVMT |
$N = 13$ DN (8 DNNN/CP, 5 DNTN) tại Hà Nội |
Đánh giá năng lực thiết bị, rào cản đấu thầu và bài toán bù giá |
| Mẫu Chủ nguồn thải |
$N = 380$ chủ nguồn thải (50 hộ KD, 330 hộ gia đình) |
Ước lượng độ sẵn sàng chi trả (WTP) và hành vi phân loại rác |
| Dữ liệu phát sinh CTRSH |
64.221 tấn/ngày (toàn quốc), 6.500 tấn/ngày (Hà Nội) |
Phân tích quy mô tổng cầu và áp lực tải trọng môi trường |
| Tỷ lệ xử lý chôn lấp |
71% khối lượng phát sinh hằng ngày |
Chứng minh sự lạc hậu công nghệ và sự thiếu hụt cung xử lý hiện đại |
| Tỷ trọng chi ngân sách |
3,9% chi thường xuyên ngân sách TP. Hà Nội |
Đánh giá gánh nặng tài khóa và tính cấp thiết thương mại hóa |
| Phần mềm & Kỹ thuật |
MS Excel, SPSS phân tích mô tả, thống kê kinh tế, SWOT |
Kiểm định độ tin cậy thông tin, phân tích cấu trúc chi phí và giá thành |
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
Công trình đã chỉ ra 5 phát hiện mang tính bước ngoặt về cấu trúc thị trường dịch vụ CTRSH tại Việt Nam:
- Nghịch lý bao cấp và méo mó tín hiệu giá: Toàn bộ chi phí thu gom, vận chuyển được Nhà nước bù giá sau khi trừ đi mức phí vệ sinh thu từ người dân; chi phí xử lý chôn lấp được ngân sách chi trả 100%. Cơ chế này tạo ra rào cản khiến giá dịch vụ không phản ánh chi phí biên xã hội (Marginal Social Cost), làm triệt tiêu động lực giảm thiểu rác thải từ nguồn.
- Sự phân hóa bất đối xứng trong năng lực cung ứng: Khối tư nhân chỉ chiếm lĩnh phân khúc thu gom sơ cấp thâm dụng lao động phổ thông, trong khi các dự án công nghệ cao (đốt rác phát điện WtE) phụ thuộc hoàn toàn vào các tập đoàn FDI lớn (như Nhà máy Điện rác Sóc Sơn 4.000 tấn/ngày). Doanh nghiệp nội địa thiếu vốn và công nghệ, không đủ năng lực cạnh tranh trong các gói thầu xử lý quy mô lớn.
- Độ co giãn của cầu không tuân theo quy luật thị trường thông thường: Do mức phí vệ sinh cố định và quá thấp trong thời gian dài, lượng cầu dịch vụ không biến thiên theo giá mà phụ thuộc hoàn toàn vào tốc độ tăng trưởng kinh tế, đô thị hóa và quy mô dân số.
- Thực trạng hạ tầng manh mún, thiếu đồng bộ: Hệ thống thu gom chủ yếu bằng xe đẩy tay thủ công, phương tiện vận chuyển thiếu chuẩn hóa gây ô nhiễm thứ cấp; quy hoạch 17 khu xử lý CTRSH tại Hà Nội triển khai chậm tiến độ nghiêm trọng, dẫn đến tình trạng quá tải và xung đột xã hội tại các bãi chôn lấp tập trung.
- Nhận thức cộng đồng chưa chuyển hóa thành hành động: 380 phiếu khảo sát chỉ ra rằng dù người dân đồng thuận cao về yêu cầu bảo vệ môi trường, nhưng tỷ lệ phân loại rác tại nguồn thực tế gần như bằng không do thiếu chế tài và hạ tầng thu gom phân loại tương ứng.
Implications đa chiều
- Hàm ý lý thuyết: Bổ sung cơ sở khoa học cho kinh tế học phát triển dịch vụ công, chứng minh rằng dịch vụ công ích môi trường hoàn toàn có thể vận hành theo quy luật giá trị và quy luật cạnh tranh khi được thiết kế cơ chế thị trường phù hợp.
- Hàm ý phương pháp luận: Cung cấp bộ chỉ tiêu và khung khảo sát hỗn hợp có khả năng nhân rộng cho các nghiên cứu đánh giá thị trường DVMT tại các vùng kinh tế trọng điểm khác.
- Hàm ý thực tiễn và chính sách:
- Chuyển đổi căn bản từ "Phí vệ sinh" sang "Giá dịch vụ CTRSH" tính theo khối lượng/thể tích rác thải theo quy định của Luật BVMT 2020.
- Xây dựng lộ trình cắt giảm dần trợ giá ngân sách cho công đoạn thu gom - vận chuyển, chuyển dịch nguồn vốn nhà nước sang hỗ trợ lãi suất cho các dự án công nghệ xử lý - tái chế tuần hoàn.
- Minh bạch hóa thông tin thị trường, mở rộng đấu thầu cạnh tranh quốc tế theo cam kết WTO/GATS (phân ngành CPC 9402) nhằm thu hút dòng vốn chất lượng cao.
Limitations và Future Research
Luận án thẳng thắn ghi nhận các giới hạn học thuật:
- Giới hạn không gian và mẫu: Nghiên cứu điển hình tập trung sâu tại TP. Hà Nội với mẫu 13 doanh nghiệp và 380 chủ nguồn thải, chưa bao quát toàn diện các vùng nông thôn sâu, hải đảo hoặc các đô thị đặc thù khác tại miền Trung và miền Nam.
- Độ trễ số liệu thống kê vĩ mô: Ngành DVMT chưa được tách thành mã ngành độc lập trong Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam (VSIC), khiến việc trích xuất số liệu doanh thu, giá trị gia tăng toàn ngành phải dựa vào các ước tính gián tiếp.
- Hạn chế mô hình định lượng phức hợp: Chưa áp dụng các mô hình kinh tế lượng không gian (Spatial Econometrics) hoặc phương trình cấu trúc (SEM) để lượng hóa tác động biên của giá đến hành vi giảm thải.
Chương trình nghiên cứu tương lai (Future Agenda):
- Thiết lập mô hình kinh tế lượng đo lường độ co giãn cầu dịch vụ CTRSH theo giá sau khi áp dụng chính sách thu phí theo khối lượng rác.
- Đánh giá tác động của cơ chế Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (Extended Producer Responsibility - EPR) đối với thị trường nguyên liệu thứ cấp.
- Nghiên cứu mô hình đối tác công - tư (PPP) trong đầu tư hạ tầng đốt rác phát điện tại các vùng đô thị liên tỉnh.
Tác động và ảnh hưởng
- Giá trị học thuật: Đặt nền móng lý luận kinh doanh thương mại cho ngành dịch vụ môi trường tại Việt Nam, mở ra hướng trích dẫn quan trọng cho các nghiên cứu tiến sĩ và công bố quốc tế về kinh tế tuần hoàn.
- Tác động chuyển dịch ngành công nghiệp môi trường: Cung cấp luận cứ thúc đẩy tái cơ cấu các công ty môi trường đô thị (URENCO), chuyển từ thế độc quyền hành chính sang mô hình doanh nghiệp cổ phần cạnh tranh bình đẳng.
- Tác động hoạch định chính sách: Trực tiếp đóng góp cơ sở thực chứng phục vụ việc ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật BVMT 2020 của Bộ TN&MT, Bộ Công Thương và Quyết định phê duyệt định mức kinh tế kỹ thuật dịch vụ CTRSH của UBND TP. Hà Nội.
- Lợi ích kinh tế - xã hội: Góp phần giảm tải gánh nặng ngân sách (tiết kiệm tỷ lệ chi thường xuyên 3,9%), cải thiện điều kiện an toàn lao động cho hàng chục vạn công nhân vệ sinh môi trường, và kiến tạo không gian sống trong lành cho cộng đồng đô thị.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh & Giới học thuật: Tiếp cận hệ thống lý luận hoàn chỉnh, bộ khung phân tích thị trường DVMT và các khoảng trống nghiên cứu sâu sắc về thương mại dịch vụ sinh thái.
- Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Công Thương, Bộ TN&MT, UBND các tỉnh): Nhận được các khuyến nghị chính sách cụ thể về định giá dịch vụ, lộ trình cắt giảm bù giá và hoàn thiện quy chuẩn kỹ thuật đấu thầu dịch vụ công ích.
- Cộng đồng doanh nghiệp DVMT & Nhà đầu tư: Nắm bắt cấu trúc chi phí, rủi ro pháp lý và cơ hội thương mại hóa từ các cam kết mở cửa thị trường dịch vụ CPC 9402 trong các FTA thế hệ mới.
- Cộng đồng dân cư & Tổ chức xã hội: Thấu hiểu quyền và nghĩa vụ kinh tế trong việc phân loại rác tại nguồn, thúc đẩy văn hóa tiêu dùng bền vững.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?
Luận án đã mở rộng lý thuyết kinh tế thị trường vào phân khúc dịch vụ công ích môi trường (CPC 9402), xây dựng định nghĩa khoa học chuẩn xác về "Thị trường DVMT" và "Phát triển thị trường DVMT" trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN có sự điều tiết của Nhà nước.
2. Đột phá phương pháp luận so với các nghiên cứu tiền nhiệm?
So với các nghiên cứu đơn thuần lý luận của Võ Thị Kim Tuyến (2018) hay nghiên cứu kỹ thuật của Nghiêm Xuân Đạt (1993), luận án kết hợp phương pháp hỗn hợp thực chứng sâu rộng: khảo sát trực tiếp 13 doanh nghiệp cung ứng, 380 chủ nguồn thải tại 19 quận huyện, phỏng vấn sâu chuyên gia và phân tích SWOT toàn diện chuỗi cung ứng.
3. Phát hiện bất ngờ nhất từ dữ liệu thực chứng là gì?
Nghịch lý giá và bù giá: 100% chi phí xử lý và phần lớn chi phí thu gom do Nhà nước bao cấp dẫn đến tình trạng "thị trường hình thức", nơi doanh nghiệp không có động lực nâng cao chất lượng dịch vụ và người dân không có động lực giảm thiểu rác thải phát sinh.
4. Quy trình nghiên cứu có khả năng lặp lại (Replication Protocol)?
Quy trình nghiên cứu, mẫu phiếu điều tra doanh nghiệp, phiếu khảo sát hộ dân và phương pháp phân tích thống kê được mô tả chi tiết, minh bạch tại Phụ lục, cho phép các nhà nghiên cứu dễ dàng nhân rộng kiểm chứng tại các địa phương khác.
5. Chương trình nghị sự nghiên cứu 10 năm tới?
Tập trung vào ba hướng trọng tâm: (1) Tác động của công cụ định giá carbon và EPR đến thị trường tái chế; (2) Tích hợp công nghệ số, AI và IoT trong tối ưu hóa mạng lưới logistics thu gom CTRSH; (3) Cạnh tranh thương mại quốc tế trong phân ngành dịch vụ môi trường xuyên biên giới.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của NCS. Nguyễn Duy Thái đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu với 5 đóng góp học thuật và thực tiễn cốt lõi:
- Hệ thống hóa và làm sâu sắc cơ sở lý luận về thị trường DVMT và phát triển thị trường dịch vụ CTRSH trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
- Đánh giá toàn diện thực trạng cung - cầu, giá cả và rào cản thể chế của thị trường dịch vụ CTRSH tại Việt Nam với nghiên cứu điển hình tại Hà Nội (2008 - 2021).
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ 5 nhóm chính sách: nâng cao năng lực cung ứng, điều tiết hợp lý nhu cầu, nâng cao chất lượng dịch vụ, hoàn thiện cơ chế giá và thúc đẩy cạnh tranh bình đẳng.
- Xác lập lộ trình chuyển đổi từ cơ chế bù giá hành chính sang cơ chế định giá thị trường theo nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền.
- Tạo lập tiền đề khoa học cho việc thực thi hiệu quả Luật Bảo vệ Môi trường 2020 và các cam kết mở cửa thị trường dịch vụ của Việt Nam tại WTO, CPTPP và EVFTA thời kỳ đến năm 2030.