Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN 1. NHỮNG NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Quá trình hình thành và tác động của các KCN đến phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ là chủ đề đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và công bố trong nhiều công trình khác nhau. Để có thể làm rõ hệ thống tri thức khoa học đã có liên quan đến đề tài “Phát triển bền vững các Khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên”, nghiên cứu sinh xin được trình bày thành quả nghiên cứu trong lĩnh vực này theo các vấn đề sau đây: 1. Các lý thuyết về phát triển công nghiệp 1.
Lý thuyết định vị công nghiệp Lý thuyết định vị công nghiệp (lựa chọn vị trí phân bố công nghiệp) lý giải sự hình thành các KCN dựa trên nguyên tắc tiết kiệm chi phí vận chuyển. Lý thuyết này do nhà kinh tế Alfred Weber xây dựng với nội dung cơ bản là mô hình không gian về phân bố công nghiệp trên cơ sở nguyên tắc tối thiểu hóa chi phí và tối đa hóa lợi nhuận. Mục tiêu của lý thuyết này là giảm tối đa chi phí vận chuyển trong tổng chi phí giá thành sản xuất toàn bộ để thực hiện mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của các nhà đầu tư. Cơ sở của lý thuyết này là: chi phí vận chuyển chiếm phần khá lớn trong cấu thành chi phí sản xuất vì liên quan đến vận chuyển đầu vào, đầu ra của nhà sản xuất.
Vì thế, cần lựa chọn vị trí xây dựng cơ sở sản xuất sao cho tiết kiệm chi phí vận chuyển ở mức cao nhất. Ngoài việc đưa ra mô hình bố trí tập trung các cơ sở sản xuất có mối quan hệ gần gũi với nhau về không gian và gần với thị trường tiêu thụ, Afred 10 Weber còn đề cập tới những ưu điểm và hạn chế của việc tập trung CN tại một vị trí. Về ưu điểm, ông cho rằng, tập trung phát triển CN theo vị trí sẽ tăng cường nguồn lực cho những vùng được hội tụ nhiều yếu tố thuận lợi cho sự phát triển. Sự tập trung nhiều DN tại một địa bàn có giới hạn hẹp về không gian sẽ tạo điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư chia sẻ chi phí do sử dụng kết cấu hạ tầng chung, thúc đẩy giảm giá thành sản phẩm do gia tăng khả năng cạnh tranh, tăng cường sự phân công chuyên môn hóa sản xuất theo cơ cấu ngành và kiến tạo các liên kết sản xuất.
Song Theo Alfred Weber [95], hạn chế là tập trung quá nhiều DNCN vào một không gian hẹp cũng gây lên những vấn đề khó khăn cho xử lý môi trường, tạo lên áp lực lớn đối với hệ thống kết cấu hạ tầng chung kết nối với khu vực liền kề, gây ra nạn khan hiếm về nguồn nhân lực trong một địa bàn hẹp, gia tăng chi phí vận chuyển khi phải đáp ứng khối lượng lớn các yếu tố đầu vào cho các đối tượng DN trong khu vực có tốc độ tăng trưởng cao [95]. Nhìn chung, lý thuyết định vị CN đã làm sáng tỏ lý do hình thành và phát triển các KCN dựa trên các lập luận về tập trung hóa sản xuất CN theo lãnh thổ, coi quá trình hình thành các KCN là một quá trình tích tụ sản xuất, thúc đẩy quá trình tập trung các cơ sở sản xuất CN vào khu vực nhất định. Tuy nhiên, lý thuyết này chưa chỉ ra được những ảnh hưởng của hệ thống cơ chế, chính sách đến PTBV các KCN, ảnh hưởng của các cơ quan quản lý Nhà nước trực tiếp đối với PTBV các KCN. Lý thuyết về phát triển công nghiệp theo lợi thế Lý thuyết về cạnh tranh vùng hay quốc gia là một trong những lý thuyết quan trọng được sử dụng làm luận cứ chứng minh sự hợp lý cho việc hình thành các KCN tập trung.
Chính Adam Smith trong “Nguồn gốc của cải của các dân tộc” [94] đã đưa ra quan điểm lợi thế giao thông góp phần tạo nên các khu kinh tế đô thị 11 tập trung, trong đó CN và thương mại là ngành chính. Ông viết: “bờ biển và các bờ sông cho phép giao thông thủy thuận lợi là nơi các ngành sản xuất khác nhau bắt đầu chia nhỏ một cách tự nhiên và tự cải tiến, dần dà không bao lâu sau chính những cải tiến đó đã tự lan rộng vào những vùng đất liền của đất nước”. Theo quan điểm này, sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia trong giai đoạn đầu có xu hướng đi theo những vùng miền có tiềm năng tiếp cận thị trường lớn nhất và nhờ đó tạo điều kiện tiếp cận đến những nơi có mật độ dân cư cao. Adam Smith tin rằng, lợi thế cạnh tranh của vùng trong một quốc gia xuất phát từ điều kiện lợi thế về khả năng tiếp cận thị trường thế giới (trong giai đoạn này là hệ thống giao thông đường thủy, đường sông).
Những vùng có lợi thế này là những vùng có điều kiện tăng trưởng mạnh mẽ. Các cơ sở sản xuất CN không dừng ở sức bật về tăng trưởng cho chính vùng, mà còn có tác động lan tỏa từ vùng này sang các vùng khác trong cả nước. Cũng theo quan điểm của Adam Smith, trong giai đoạn đầu của sự phát triển, để tạo ra những điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế phát triển, cần khai thác triệt để lợi thế, tiềm năng của những vùng thuận lợi [94]. Porter [105] đưa ra quan điểm hình thành các vùng kinh tế dựa trên lợi thế cạnh tranh.
Porter, khả năng cạnh tranh của một quốc gia phụ thuộc vào khả năng sáng tạo và sự năng động của quốc gia đó. Khi xu hướng kinh tế mang tính toàn cầu hóa thì cạnh tranh cũng mang tính chất toàn cầu hóa và những lợi thế cạnh tranh tuyệt đối hay lợi thế so sánh mang tính tự nhiên nhường chỗ cho những lợi thế cạnh tranh quốc gia được tạo ra do sự sáng tạo và sự năng động của DN trên trường quốc tế. Khi nền tảng cạnh tranh chuyển dịch sang sự sáng tạo, năng động và tri thức mới thì vị thế và vai trò của quốc gia tăng lên. Lợi thế cạnh tranh quốc gia được tạo ra và thông qua quá trình đô thị hóa cao độ.
12 Sự khác biệt giữa các quốc gia về giá trị, văn hóa, cấu trúc kinh tế, thiết chế và lịch sự sẽ tạo lên ưu thế quyết định cho sự thành công của quốc gia đó. Nhiều quốc gia thành công ở một số ngành kinh tế trên thị trường thế giới bởi vì thị trường trong nước năng động, đi tiên phong và phải chịu nhiều sức ép cạnh tranh thị trường. Các công ty của những quốc gia thành công này có được lợi thế so với các đối thủ quốc tế nhờ có động lực là các đối thủ mạnh trong nước với sự liên kết chặt chẽ về kinh tế và thị trường khách hàng tiềm năng kết hợp với các nhà cung cấp trong nước mạnh. Porter, lợi thế cạnh tranh được hiểu là những nguồn lực, lợi thế ngành, quốc gia mà nhờ đó những DN kinh doanh trên thị trường thế giới sẽ tạo ra một số ưu thế vượt trội hơn, ưu việt hơn so với những đối thủ cạnh tranh trực tiếp khác.
Lợi thế cạnh tranh quốc gia bắt nguồn từ lợi thế so sánh chứ không chỉ là lợi thế so sánh thuần túy. Lợi thế so sánh chỉ là những điều kiện đặc thù của một quốc gia, ngành tạo ra như điều kiện tự nhiên, tài nguyên khoáng sản, nguồn nhân lực,. Những điều kiện này chỉ là cơ sở để tạo ra một lợi thế cạnh tranh tốt chứ chưa phải là một lợi thế cạnh tranh mà cần có sự sáng tạo và năng động mới tạo ra lợi thế cạnh tranh để thành công trên thị trường quốc tế. Bản chất của lợi thế cạnh tranh quốc gia hay cạnh tranh DN là phải cung cấp giá trị gia tăng cho các đối tượng có liên quan như: quốc gia khác, nhà đầu tư, khách hàng, các đối tác và tác động tạo giá trị gia tăng cho các đối tác này.
Lý thuyết cạnh tranh của M.Porter cung cấp các luận cứ để giải thích tại sao các quốc gia lại tập trung phát triển một số ngành nào đó và tại sao các DN lại có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành các trung tâm CN có tính cạnh tranh toàn cầu. Lý thuyết này cũng gợi mở những ý tưởng về thu hút đầu tư vào KCN dựa trên lợi thế cạnh tranh của DN chứ không phải chỉ là lợi thế cạnh tranh của bản thân KCN [105]. Lý thuyết định vị trung tâm Lý thuyết Định vị trung tâm được các nhà khoa học người Đức là W.Losch đưa ra vào năm 1933. Sự ra đời của lý thuyết này đã góp phần quan trọng vào việc tìm kiếm những quy luật về bố trí không gian cho sự phát triển lực lượng sản xuất.
Lý thuyết Định vị trung tâm thừa nhận những ưu thế của tập trung hóa theo lãnh thổ với các lợi ích ngoại ứng, tạo cho các DN sản xuất sự gắn kết phù hợp với quy mô thị trường tương ứng với sự tập trung khiến các DN phân bổ gần nhau tại trung tâm thị trường. Sự tập trung này, giúp các DN có thể chia sẻ những gánh nặng về chi phí sử dụng hạ tầng chung (trong đó đặc biệt là hệ thống giao thông, cấp điện, cấp nước, thông tin liên lạc,…), từ đó các DN có thể liên kết, hỗ trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần tăng năng suất lao động, thực hiện phân công chuyên môn hóa, hợp tác hóa nhằm giảm giá thành sản phẩm, sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguồn nguyên liệu, năng lượng và các yếu tố đầu vào khác. Sự phân chia các địa điểm không gian cho các nhà sản xuất khác nhau sẽ tạo lên một trật tự thứ bậc của các vị trí trung tâm. Lý thuyết định vị trung tâm có điểm đáng lưu ý là xác định quy luật phân bố không gian tương quan giữa các điểm dân cư, để có thể quy hoạch các điểm cân cư và các vùng mới khai thác một cách hợp lý.
Lý thuyết này mang ý nghĩa thực tiễn và là cơ sở cho bố trí và xây dựng KCN, tạo nền tảng hạt nhân hình thành các khu dân cư, khu đô thị mới tại các khu đất còn trống liền kề KCN. Lý thuyết Cực phát triển Lý thuyết Cực phát triển do nhà kinh tế học người pháp Francois Peroux đưa ra vào năm 1950 và sau đó được Albert Hirshman, Myrdal, Fridman và Harry Richardson [104] tiếp tục nghiên cứu và phát triển.