Luận văn thạc sĩ hus phát hiện mycobacterium tuberculosis kháng isoniazid rifampin và ethambutol bằng kỹ thuật real time pcr

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu phát hiện mycobacterium tuberculosis kháng isoniazid, rifampin và ethambutol qua kỹ thuật real time PCR.

Chuyên ngành

Vi sinh vật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ khoa học

2014

118
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1. Tình hình nhiễm lao trên thế giới và tại Việt Nam

1.1.1. Trên thế giới

1.1.2. Bệnh lao kháng thuốc và cơ chế kháng thuốc của vi khuẩn lao

1.2. Vi khuẩn lao

1.2.1. Phân loại vi khuẩn lao

1.2.2. Hình thể vi khuẩn lao

1.2.3. Cấu trúc vi khuẩn lao

1.2.4. Đặc điểm sinh học và nuôi cấy vi khuẩn lao

1.2.5. Cơ chế tác động của isoniazid và cơ chế kháng isoniazid của vi khuẩn lao

1.2.6. Cơ chế tác động của Rifampin và cơ chế kháng Rifampin của vi khuẩn lao

1.2.7. Cơ chế tác động của ethambutol và cơ chế kháng ethambutol của vi khuẩn lao

1.3. Các phương pháp xác định lao kháng thuốc

1.3.1. Phương pháp xác định kiểu hình

1.3.2. Các phương pháp nuôi cấy cải tiến

1.3.3. Một số phương pháp kiểu hình mới

1.3.4. Phương pháp xác định kiểu gen

2. CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Vật liệu nghiên cứu

2.1.1. Vật liệu sinh học

2.1.2. Dụng cụ và thiết bị

2.1.3. Hóa chất sử dụng

2.2. Nội dung nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Phương pháp thiết kế và kiểm tra các oligonucleotide (mồi và mẫu dò) bằng cơ sở dữ liệu trên IDT và các phần mềm sinh học chuyên dụng như ClustalX và Annhyb

2.3.2. Phương pháp lấy mẫu, xử lý bệnh phẩm

2.3.3. Phương pháp tối ưu hóa các điều kiện phản ứng real-time PCR

2.3.4. Thiết lập quy trình chẩn đoán và thực hiện trên mẫu bệnh phẩm

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1. Đánh giá các thông số của các oligonucleotide thiết kế

3.1.1. Trình tự và vị trí của các oligonucleotide

3.1.2. Đặc tính của các oligonucleotide

3.1.3. Khả năng bắt cặp của hệ mồi, mẫu dò trên lý thuyết

3.2. Đánh giá khả năng bắt cặp của hệ mồi và mẫu dò

3.2.1. Khảo sát nhiệt độ lai của phản ứng

3.2.1.1. Khảo sát nhiệt độ lai phản ứng 1
3.2.1.2. Khảo sát nhiệt độ lai phản ứng 2
3.2.1.3. Khảo sát nhiệt độ lai phản ứng 3
3.2.1.4. Khảo sát nhiệt độ lai phản ứng 4

3.2.2. Khảo sát nồng độ mồi của phản ứng

3.2.2.1. Khảo sát nồng độ mồi phản ứng 1
3.2.2.2. Khảo sát nồng độ mồi phản ứng 2
3.2.2.3. Khảo sát nồng độ mồi phản ứng 3
3.2.2.4. Khảo sát nồng độ mồi phản ứng 4
3.2.2.5. Khảo sát nồng độ mẫu dò (mẫu dò)
3.2.2.5.1. Khảo sát nồng độ mẫu dò phản ứng 1
3.2.2.5.3. Khảo sát nồng độ mẫu dò phản ứng 3
3.2.2.5.4. Khảo sát nồng độ mẫu dò phản ứng 4

3.2.3. Khảo sát nồng độ Mg++

3.2.3.1. Khảo sát nồng độ Mg++ phản ứng 1
3.2.3.2. Khảo sát nồng độ Mg++ phản ứng 2
3.2.3.3. Khảo sát nồng độ Mg++ phản ứng 3
3.2.3.4. Khảo sát nồng độ Mg++ phản ứng 4

3.2.4. Khảo sát độ lặp lại của phản ứng

3.2.4.1. Khảo sát độ lặp lại trong cùng một lần thí nghiệm
3.2.4.2. Khảo sát độ lặp lại của các phản ứng trong các lần thí nghiệm khác nhau

3.2.5. Khảo sát độ nhạy của phản ứng

3.2.5.1. Phản ứng 1- xác định đột biến kháng isoniazid
3.2.5.2. Phản ứng 2- xác định đột biến kháng Rifampin
3.2.5.3. Phản ứng 3 và phản ứng 4- xác định đột biến kháng ethambutol

3.2.6. Khảo sát độ đặc hiệu của các phản ứng

3.2.6.1. Khảo sát độ đặc hiệu của phản ứng 1- xác định đột biến kháng isoniazid
3.2.6.2. Khảo sát độ đặc hiệu của phản ứng 2- xác định đột biến kháng Rifampin
3.2.6.3. Khảo sát độ đặc hiệu của phản ứng 3 và 4 - xác định đột biến kháng ethambutol

3.2.7. Quy trình phát hiện đột biến kháng isoniazid, Rifampin và ethambutol của MTB

3.2.7.1. Thành phần phản ứng và chu trình nhiệt
3.2.7.2. Quy trình xác định các đột biến kháng isoniazid, Rifampin và ethambutol

3.3. Ứng dụng quy trình trên mẫu bệnh phẩm

3.3.1. Mẫu bệnh phẩm
3.3.2. Ứng dụng quy trình trên 50 mẫu bệnh phẩm lao
3.3.3. Xác định độ đồng thuận của phương pháp real time PCR với phương pháp kháng sinh đồ

4. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về phát hiện Mycobacterium tuberculosis kháng thuốc

Bệnh lao do vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis gây ra đã trở thành một trong những vấn đề sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng trên toàn cầu. Việc phát hiện sớm và chính xác các chủng vi khuẩn kháng thuốc là rất quan trọng để đảm bảo hiệu quả điều trị. Kỹ thuật Real-Time PCR đã được áp dụng rộng rãi trong việc phát hiện nhanh chóng các đột biến kháng thuốc, giúp cải thiện khả năng điều trị cho bệnh nhân.

1.1. Tình hình nhiễm lao và kháng thuốc trên thế giới

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hàng năm có khoảng 8-9 triệu ca nhiễm lao mới và 2 triệu ca tử vong do bệnh này. Tình trạng kháng thuốc đang gia tăng, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Việc phát hiện các chủng vi khuẩn kháng thuốc là rất cần thiết để ngăn chặn sự lây lan của bệnh.

1.2. Tình hình nhiễm lao tại Việt Nam

Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ bệnh lao cao nhất thế giới. Theo thống kê, khoảng 200.000 người mắc bệnh lao, trong đó có nhiều trường hợp kháng thuốc. Việc áp dụng các phương pháp phát hiện nhanh như Real-Time PCR là cần thiết để cải thiện tình hình.

II. Thách thức trong việc phát hiện Mycobacterium tuberculosis kháng thuốc

Việc phát hiện các chủng vi khuẩn lao kháng thuốc gặp nhiều thách thức. Các phương pháp truyền thống như nuôi cấy vi khuẩn mất nhiều thời gian và không đảm bảo độ chính xác cao. Hơn nữa, sự xuất hiện của các chủng vi khuẩn kháng đa thuốc đã làm cho việc điều trị trở nên phức tạp hơn.

2.1. Các phương pháp phát hiện truyền thống

Các phương pháp như nuôi cấy vi khuẩn và kháng sinh đồ thường mất từ 2 đến 3 tháng để có kết quả. Điều này không chỉ làm chậm quá trình điều trị mà còn tạo cơ hội cho vi khuẩn phát triển và lây lan.

2.2. Khó khăn trong việc phát hiện kháng thuốc

Nhiều bệnh nhân không tuân thủ điều trị, dẫn đến sự phát triển của các chủng vi khuẩn kháng thuốc. Việc phát hiện sớm và chính xác các đột biến kháng thuốc là rất quan trọng để ngăn chặn tình trạng này.

III. Phương pháp Real Time PCR trong phát hiện Mycobacterium tuberculosis kháng thuốc

Kỹ thuật Real-Time PCR đã trở thành một công cụ mạnh mẽ trong việc phát hiện các đột biến kháng thuốc của Mycobacterium tuberculosis. Phương pháp này cho phép phát hiện nhanh chóng và chính xác các chủng vi khuẩn kháng thuốc, từ đó giúp cải thiện hiệu quả điều trị.

3.1. Nguyên lý hoạt động của Real Time PCR

Real-Time PCR dựa trên nguyên lý khuếch đại DNA, cho phép theo dõi quá trình phản ứng trong thời gian thực. Điều này giúp xác định nhanh chóng sự hiện diện của vi khuẩn kháng thuốc trong mẫu bệnh phẩm.

3.2. Lợi ích của Real Time PCR trong phát hiện kháng thuốc

Phương pháp này không chỉ nhanh chóng mà còn có độ nhạy và độ đặc hiệu cao. Thời gian thực hiện chỉ khoảng 2-3 giờ, giúp bác sĩ có thể đưa ra quyết định điều trị kịp thời.

IV. Ứng dụng thực tiễn của Real Time PCR trong chẩn đoán lao kháng thuốc

Việc áp dụng Real-Time PCR trong chẩn đoán lao kháng thuốc đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Nghiên cứu cho thấy phương pháp này có thể phát hiện các đột biến kháng Isoniazid, Rifampin và Ethambutol một cách hiệu quả.

4.1. Kết quả nghiên cứu ứng dụng Real Time PCR

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng Real-Time PCR có thể phát hiện các đột biến kháng thuốc với độ chính xác cao. Điều này giúp cải thiện khả năng điều trị cho bệnh nhân và giảm thiểu nguy cơ lây lan trong cộng đồng.

4.2. Thực tiễn ứng dụng tại các cơ sở y tế

Nhiều cơ sở y tế tại Việt Nam đã áp dụng thành công phương pháp Real-Time PCR trong chẩn đoán lao kháng thuốc. Điều này không chỉ giúp phát hiện sớm mà còn nâng cao hiệu quả điều trị cho bệnh nhân.

V. Kết luận và triển vọng tương lai trong phát hiện Mycobacterium tuberculosis kháng thuốc

Việc phát hiện Mycobacterium tuberculosis kháng thuốc là một thách thức lớn trong y tế hiện đại. Tuy nhiên, với sự phát triển của công nghệ như Real-Time PCR, khả năng phát hiện và điều trị bệnh lao kháng thuốc đã được cải thiện đáng kể. Tương lai hứa hẹn sẽ có nhiều tiến bộ hơn nữa trong lĩnh vực này.

5.1. Tương lai của Real Time PCR trong y học

Với sự phát triển không ngừng của công nghệ sinh học, Real-Time PCR sẽ tiếp tục được cải tiến và mở rộng ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, không chỉ trong phát hiện lao kháng thuốc.

5.2. Những thách thức cần vượt qua

Mặc dù Real-Time PCR mang lại nhiều lợi ích, nhưng vẫn cần giải quyết các vấn đề như chi phí và khả năng tiếp cận công nghệ này tại các cơ sở y tế, đặc biệt là ở các vùng nông thôn.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hus phát hiện mycobacterium tuberculosis kháng isoniazid rifampin và ethambutol bằng kỹ thuật real time pcr

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Bệnh lao và vi khuẩn gây bệnh lao đã được biết rõ từ hơn một thế kỷ nay. Những liệu pháp chữa trị bằng kháng sinh tỏ ra hiệu quả từ những năm 1960. Tuy nhiên, trong những thập niên 90 đến nay, đã xuất hiện nhiều chủng vi khuẩn lao kháng thuốc, rất khó chữa trị và đang có nguy cơ lây lan rất nhanh, đe dọa hàng triệu người trên thế giới. Y học thế giới những năm gần đây đã ghi nhận chủng vi khuẩn gây bệnh lao kháng đa thuốc mới gọi là lao siêu kháng thuốc.

Những người mắc bệnh lao với chủng vi khuẩn mới này cần phải điều trị trên 2 năm so với từ 6-8 tháng như trước đây và chi phí điều trị cũng tăng lên gấp 100 lần. WHO ước tính, đến nay đã có 27 ngàn ca bệnh lao mới kháng thuốc ở 41 quốc gia [47]. Việc điều trị cho bệnh nhân lao kháng đa thuốc hết sức nghiêm ngặt, cần phải theo dõi liên tục trong 2 năm. Một số bệnh nhân sau một thời gian uống thuốc, thấy mình khỏe và không có triệu chứng gì, cho rằng mình đã khỏi bệnh nên tự ý bỏ trị lao.

Bệnh nhân không biết rằng vi trùng lao “sống dai” và rất nguy hiểm. Sau một thời gian “nằm ẩn mình” và tìm cách chống lại thuốc lao, chúng sẽ hoạt động gây bệnh trở lại. Lúc này, người bệnh trở nên bị lao kháng thuốc, và bệnh sẽ nguy hiểm hơn lúc phát bệnh lao ban đầu. Ngoài ra, cũng có những bệnh nhân bị khó chịu do tác dụng phụ của thuốc lao trong quá trình điều trị, nhưng không đến tái khám để bác sỹ điều chỉnh thuốc, mà tự bỏ trị nửa chừng.

Cũng có những bệnh nhân uống thuốc lao không đều đặn, hay uống không đủ liều thuốc…. Tất cả những trường hợp này đều tạo điều kiện thuận lợi cho vi trùng lao trở nên kháng thuốc. Nếu điều trị không đầy đủ, vi khuẩn kháng thuốc càng mạnh hơn và khả năng hồi phục càng trở nên mong manh. Và sẽ cực kỳ nguy hiểm cho cộng đồng, bởi lao kháng đa thuốc đã rất khỏe sẽ từ bệnh nhân lây lan trong cộng đồng do bị phát tán trong không khí, môi trường sinh hoạt [26,28].

Việt Nam đứng thứ 12 trong 22 nước có số bệnh nhân lao cao trên toàn cầu [2]. Năm 2007, Việt Nam ước tính có 150 ca nhiễm lao mới/nghìn dân và tỷ lệ mắc HVCH: Khổng Thị Minh Ngân 1 GVHD: PGS. Nguyễn Thái Sơn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bệnh là 192 ca/nghìn dân. Tỷ lệ lao đa kháng thuốc trong tổng số ca nhiễm lao mới là 2.7%, và trong tổng số ca đã qua điều trị là 19%.

Theo số liệu bệnh nhân lao đăng ký điều trị lao tại TP. HCM năm 2008, với tỷ lệ kháng đa thuốc (kháng ít nhất với Rifampin và Isoniazid) vào khoảng 3.8% trong số bệnh nhân mới và trên 22% ở bệnh nhân lao tái điều trị [1,2]. Ở nghiên cứu này chúng tôi tập trung nghiên cứu phát hiện vi khuẩn lao kháng 3 loại thuốcchủ yếu trong điều trị lao là Rifampin, Isoniazid, và Ethambutol. Để phát hiện lao đa kháng thuốc có các phương pháp như : làm xét nghiệm nuôi cấy vi trùng lao từ các mẫu bệnh phẩm như đờm, dịch cơ thể… và làm kháng sinh đồ lao.

Quá trình nuôi cấy vi trùng và thử kháng sinh đồ này mất khoảng 2 đến 3 tháng mới có kết quả. Hiện nay, ở Việt Nam đã có xét nghiệm giúp phát hiện kháng thuốc sớm và nhanh hơn là Hain test (thời gian thực hiện xét nghiệm khoảng 5 ngày) và Xpert MTB/RIF (thời gian thực hiện xét nghiệm khoảng 2 giờ). Tuy nhiên, hai xét nghiệm này có giá thành đắt, và không dùng phổ biến cho mọi bệnh nhân bị lao[5]. Hiện nay các tiến bộ trong lĩnh vực công nghệ sinh học đang mang tới rất nhiều lợi ích ứng dụng trong y học.

Một trong số đó là kỹ thuật real-time PCR, sử dụng kỹ thuật real-time PCR là một kỹ thuật hoàn toàn mở, nhanh, nhạy, chính xác, không lệ thuộc vào các hãng sản xuất kít ở nước ngoài, giá thành rẻ hơn,… nên chúng tôi chọn real-time PCR để phát hiện các đột biến kháng isoniazid, Rifampin và ethambutol trên vi khuẩn lao trong mẫu bệnh phẩm. Chính vì những lý do trên nhóm nghiên cứu quyết định thực hiện đề tài: “ Phát hiện Mycobacterium tuberculosis kháng Isoniazid, Rifampin và Ethambutol bằng kỹ thuật real-time PCR”. Đề tài nhằm các mục tiêu sau : 1. Xây dựng quy trình real-time PCR phát hiện nhanh các mẫu lao đột biến kháng Isoniazid (đột biến gen katG ở codon 315 AGC-ACC (Ser315Thr)), Rifampin (đột biến gen rpoB ở codon 516 GAC-GTC (Asp516Val)) và Ethambutol (đột biến gen emb tại codon 306 với 2 loại: ATG-GTG (Met306Val) và ATG-ATA(Met306Ile) ).

Ứng dụng quy trình trên các mẫu bệnh phẩm thực tế. HVCH: Khổng Thị Minh Ngân 2 GVHD: PGS. Nguyễn Thái Sơn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nhiễm lao trên thế giới và tại Việt Nam 1.1 Trên thế giới Bệnh lao đã tồn tại rất lâu cùng con người, khoảng 150000 – 200000 năm. Mặc cho mọi cố gắng của con người trong việc kiểm soát và khống chế bệnh lao, hàng năm vẫn có 8 - 9 triệu trường hợp lao mới và 2 triệu người bị chết do căn bệnh này.

Tỷ lệ mắc lao trên thế giới vẫn tiếp tục tăng 1% mỗi năm. Trong lịch sử nhân loại, bệnh lao đã 5 lần bùng phát và lan rộng thành các vụ đại dịch lao. Trong khoảng 100 - 150 năm gần đây vi khuẩn lao đã dần phát triển trong hầu hết các khu vực trên trái đất [1]. Theo WHO : - Lao là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 2 sau HIV.

Năm 2012, có 8,6 triệu người nhiễm lao và 1,3 triệu người chết vì lao. - Hơn 95% số người chết tới từ các nước kém và đang phát triển và là một trong ba nguyên nhân gây chết lớn nhất cho phụ nữ từ 15-44 tuổi. - Vào năm 2012, có 530 nghìn trẻ em nhiễm lao và 74 000 trẻ em đã chết. Hiện nay, tỷ lệ điều trị thành công trên toàn cầu đạt 85%, nhưng tỷ lệ phát hiện chỉ đạt 44% số bệnh nhân ước tính.

Như vậy, còn rất nhiều bệnh nhân lao không được chữa trị đang tiếp tục lây bệnh cho cộng đồng, và theo ước tính của WHO, mỗi năm có thêm 1% dân số thế giới bị nhiễm lao (65 triệu người) [47]. Hơn 33% số bệnh nhân lao toàn cầu tại khu vực Đông - Nam châu Á. Cuối thập niên 70 đầu thập niên 80 ở một số nước phát triển đã tưởng như chế ngự được hoàn toàn bệnh lao, do đó bệnh lao đã đi vào quá khứ bởi sự lãng quên của các nhà y học và khoa học. Tuy nhiên thực tế lại không như vậy bởi sự xuất hiện của cơ chế kháng lại thuốc kháng sinh của khuẩn lao, khiến cho việc phát hiện và điều trị ngày càng trở nên khó khăn và tốn kém.

HVCH: Khổng Thị Minh Ngân 3 GVHD: PGS. Nguyễn Thái Sơn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Vì vậy bệnh lao vẫn tiếp tục là một trong ba căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nhất trên thế giới cùng với hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS) và sốt rét. Điều này đã một lần nữa khơi dậy các nghiên cứu sâu hơn trong phương pháp phát hiện, chẩn đoán và điều trị bệnh lao. Bệnh lao là kết quả của nghèo đói và nghèo đói lại là nguyên nhân làm cho bệnh lao phát triển.1 Sơ đồ phân bố lao trên toàn thế giới [47] 1.2 Việt Nam Việt Nam là một trong 22 nước có tình trạng bệnh lao nặng nhất thế giới.

Tại châu Á, Việt Nam đứng thứ ba sau Trung Quốc và Philippines về số lượng bệnh nhân lao. Hiện Việt Nam có khoảng trên 200.000 người mắc bệnh lao. Trong đó, số người mới mắc khoảng 185. Số người nhiễm lao ở Việt Nam chiếm tới 44% dân số.

Số tử vong do lao rất cao, mỗi năm có khoảng 4% trường hợp tức là 3200 – 3500 tử vong. Tỷ lệ lao trẻ em khoảng 60 – 61/ 100. Ước tính mỗi năm có khoảng 20.000 trường hợp lao trẻ em, song hiện nay trung bình chỉ điều trị khoảng 250 – 300 trẻ. Ở người lớn, bệnh lao gặp phổ biến ở người nghèo lứa tuổi 15 -55 tuổi, cao nhất trong lớp người 25 – 40 là những người đang đóng góp nhiều nhất cho xã hội [1,2].

HVCH: Khổng Thị Minh Ngân 4 GVHD: PGS. Nguyễn Thái Sơn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong giai đoạn 1997-2002, CTCLQG đã phát hiện được 532.703 bệnh nhân lao các thể, tỷ lệ phát hiện đạt 82% số bệnh nhân ước tính (so với mục tiêu của WHO là 70%), CTCLQG đã điều trị 260.698 bệnh nhân lao phổi AFB(+) với tỷ lệ khỏi là 92% [2]. Năm 2002, khu vực Tây-Thái Bình Dương phát hiện 806.460 bệnh nhân lao các thể, 372.220 bệnh nhân lao phổi AFB (+) mới. Trong đó, số bệnh nhân do CTCLQG Việt nam phát hiện chiếm 12% bệnh nhân các thể và 15% số bệnh nhân lao phổi AFB (+) mới.

Với những kết quả đạt được trong chỉ tiêu phát hiện và điều trị bệnh nhân, năm 1996, Việt nam là nước đầu tiên ở Châu Á đã đạt được mục tiêu của WHO. Việt nam đã được WHO và Ngân hàng thế giới đánh giá cao thành tích đạt được trong mọi hoạt động chống lao. Từ năm 1997, WHO và Hiệp hội Bài lao và Bệnh phổi Quốc tế cùng phối hợp với CTCLQG Việt Nam tổ chức 8 khoá học về quản lý Chương trình chống lao cho các học viên quốc tế tại Việt Nam. Mô hình hoạt động chống lao ở Việt nam được xem là mô hình để học viên các nước học tập.

Hiện nay nguy cơ nhiễm lao hàng năm ở nước ta ước tính là 1,5% (ở các tỉnh phía Nam là 2%, ở các tỉnh phía Bắc là 1%). Trên thực tế có thể chỉ số nguy cơ nhiễm lao hàng năm có thể cao hơn 1,5% như vậy các con số nêu trên có thể còn lớn hơn. Điều đó sẽ tăng thêm sự khó khăn đối với công tác chống lao không những trong những năm tới mà có thể còn trong thời gian khá dài, ngay cả khi đã bước sang thiên niên kỷ mới[2,31]. Hiện tại Việt Nam còn đang gia tăng số lượng người nhiễm lao kháng thuốc.

Thep thống kê của WHO số ca lao kháng thuốc được biết tới cao nhất vào năm 2011 là 610 ca tới năm 2012 thì phát hiện thêm 273 ca. Việt Nam là một trong những nước đang phát triển, điều kiện chăm sóc y tế tại những nơi vùng sâu vùng xa còn kém. Người dân không có thói quen dùng thuốc và điều trị thuốc theo bác sỹ nên tình trạng kháng thuốc đang rất báo động [45,47].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Phát hiện Mycobacterium tuberculosis kháng thuốc bằng kỹ thuật Real-Time PCR" cung cấp cái nhìn sâu sắc về phương pháp phát hiện nhanh chóng và chính xác vi khuẩn lao kháng thuốc. Kỹ thuật Real-Time PCR không chỉ giúp xác định sự hiện diện của Mycobacterium tuberculosis mà còn cho phép đánh giá khả năng kháng thuốc của vi khuẩn này, từ đó hỗ trợ trong việc điều trị hiệu quả hơn. Việc áp dụng công nghệ này mang lại nhiều lợi ích cho các bác sĩ và nhà nghiên cứu, giúp họ đưa ra quyết định điều trị kịp thời và chính xác, góp phần giảm thiểu tỷ lệ kháng thuốc và cải thiện sức khỏe cộng đồng.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh liên quan đến bệnh lao và phương pháp chẩn đoán, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ hus nghiên cứu quy trình biểu hiện gen mã hóa kháng nguyên tái tổ hợp esa t6 cfp10 phục vụ việc chế tạo bộ sinh phẩm chẩn đoán nhiễm lao, nơi trình bày quy trình phát triển bộ sinh phẩm chẩn đoán. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn thạc sĩ khảo sát tính kháng thuốc của vi khuẩn lao sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về tính kháng thuốc của vi khuẩn lao và các yếu tố ảnh hưởng. Cuối cùng, tài liệu Nghiên cứu giá trị của phosphatase kiềm lysozyme adenosine deaminase và interferon gamma trong chẩn đoán tràn dịch màng phổi do lao sẽ cung cấp thêm thông tin về các chỉ số sinh học trong chẩn đoán bệnh lao. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về bệnh lao và các phương pháp chẩn đoán hiện đại.