Phân lập và tuyển chọn vi khuẩn kết tụ sinh học xử lý nước thải sản xuất hủ tiếu - Luận án tiến sĩ của Lê Thị Loan

Phân lập vi khuẩn kết tụ sinh học xử lý nước thải sản xuất hủ tiếu. Tìm hiểu giải pháp xử lý hiệu quả, bền vững cho ngành công nghiệp thực phẩm.

Trường đại học

Trường Đại học Cần Thơ

Chuyên ngành

Vi sinh vật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2020

187
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về vi khuẩn kết tụ sinh học chuyển hóa N và tích lũy poly P

Vi khuẩn kết tụ sinh học đóng vai trò quan trọng trong xử lý nước thải. Chúng tạo ra các khối bông vi sinh giúp loại bỏ chất ô nhiễm hiệu quả. Quá trình chuyển hóa nitơ (N) bao gồm oxi hóa ammonium, oxi hóa nitrite và khử nitrate. Vi khuẩn tích lũy poly-phosphate (poly-P) hấp thụ photpho dư thừa từ nước thải. Nước thải sản xuất hủ tiếu Mỹ Tho chứa hàm lượng hữu cơ cao. Nguồn ô nhiễm chính đến từ ba công đoạn: ngâm gạo, xay bột và lắng bột. Tinh bột trong nước thải cần được thủy phân thành glucose trước khi vi sinh vật tiêu hóa. Các enzyme amylase ngoại bào đóng vai trò cắt mạch tinh bột. Nghiên cứu tại 8 cơ sở sản xuất hủ tiếu ở Tiền Giang đã thu thập mẫu nước thải. Mục tiêu chính là phân lập và tuyển chọn các dòng vi khuẩn có khả năng xử lý đa dạng. Kết quả thu được 42 dòng kết tụ sinh học, 59 dòng chuyển hóa N và 8 dòng tích lũy poly-P. Phát hiện này mở ra hướng xử lý nước thải sinh học bền vững.

1.1. Vai trò của vi khuẩn kết tụ sinh học trong xử lý nước thải

Vi khuẩn kết tụ sinh học hình thành các bông vi sinh vật (floc) trong hệ thống xử lý nước thải. Quá trình kết tụ phụ thuộc vào polysaccharide ngoại bào và protein bề mặt tế bào. Nghiên cứu phân loại thành hai nhóm chính: kết tụ protein và kết tụ polysaccharide. Nhóm kết tụ polysaccharide thường chiếm ưu thế trong môi trường giàu tinh bột. Các dòng vi khuẩn này tạo nền tảng cho hệ thống bùn hoạt tính hoạt động hiệu quả. Chúng giúp lắng nhanh và tách pha tốt sau xử lý.

1.2. Cơ chế chuyển hóa nitơ và tích lũy poly P ở vi khuẩn

Chuyển hóa nitơ diễn ra qua nhiều bước oxi hóa và khử liên tiếp. Vi khuẩn oxi hóa ammonium chuyển NH4+ thành NO2-. Vi khuẩn oxi hóa nitrite chuyển NO2- thành NO3-. Vi khuẩn khử nitrate thực hiện phản nitrat hóa. Tích lũy poly-P là cơ chế vi khuẩn dự trữ photpho dưới dạng hạt nội bào. Các dòng vi khuẩn polyphosphate-accumulating organisms (PAO) hấp thụ P dư vượt nhu cầu sinh trưởng. Cơ chế này giúp loại bỏ photpho hiệu quả khỏi nước thải.

II. Phân tích thực trạng ô nhiễm nước thải sản xuất hủ tiếu

Nước thải sản xuất hủ tiếu gây ô nhiễm nghiêm trọng tại các tỉnh miền Tây. Quá trình ngâm gạo tạo ra nước chua có pH thấp và hàm lượng hữu cơ cao. Công đoạn xay bột thải ra nước chứa tinh bột lơ lửng. Nước lắng bột mang theo lượng lớn chất rắn lơ lửng. Theo tài liệu, tinh bột cần được thủy phân qua ba con đường: thủy phân, phosphoryl hóa và glycosyl hóa. Vi sinh vật tiết enzyme amylase ngoại bào để phân cắt tinh bột thành dextrin và glucose. Hầu hết cơ sở sản xuất tại Mỹ Tho không có hệ thống xử lý đạt chuẩn. Một số hộ bơm nước thải vào bồn chứa dung tích trên 1000 lít rồi xả ra sông. Chỉ một ít cơ sở xây hầm lọc đá xanh nhiều lớp. Phương pháp lọc cơ học này chỉ xử lý được chất rắn lơ lửng. Hàm lượng hữu cơ hòa tan vẫn tồn tại trong nước sau lọc. Tình trạng xả thải trực tiếp ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái thủy vực.

2.1. Đặc tính ô nhiễm của nước thải hủ tiếu Mỹ Tho

Nước thải hủ tiếu chứa hàm lượng tinh bột, protein và đường cao. Giá trị COD và BOD vượt ngưỡng cho phép nhiều lần. pH nước thải dao động tùy công đoạn sản xuất. Nước ngâm gạo thường có pH acid do quá trình lên men. Nước xay bột chứa nhiều chất rắn lơ lửng dạng keo. Các chất hữu cơ khó phân hủy sinh học tồn tại lâu trong môi trường nước. Hàm lượng nitơ và photpho cao gây phú dưỡng nguồn nước tiếp nhận.

2.2. Hạn chế của các phương pháp xử lý hiện tại

Phương pháp lọc cơ học bằng đá xanh chỉ loại bỏ chất rắn thô. Hệ thống không xử lý được chất hữu cơ hòa tan và dinh dưỡng dư thừa. Không có bước xử lý sinh học nên hiệu suất tổng thể thấp. Chi phí vận hành bồn chứa lớn và thời gian lưu nước dài. Nước sau xử lý vẫn không đạt quy chuẩn xả thải. Thiếu quy trình quản lý nước thải thống nhất giữa các cơ sở sản xuất. Cần giải pháp sinh học thay thế thân thiện và hiệu quả hơn.

III. Phương pháp phân lập và tuyển chọn vi khuẩn xử lý nước thải

Phân lập vi khuẩn từ mẫu nước thải tại 8 cơ sở sản xuất hủ tiếu Mỹ Tho. Môi trường chọn lọc được thiết kế riêng cho từng nhóm vi khuẩn mục tiêu. Môi trường có ammonium chloride dùng để phân lập vi khuẩn oxi hóa ammonium. Môi trường chứa nitrite phục vụ tuyển chọn vi khuẩn oxi hóa nitrite. Môi trường nitrate được sử dụng cho vi khuẩn khử nitrate. Môi trường giàu photpho giúp phân lập vi khuẩn tích lũy poly-P. Kỹ thuật streak plate và pour plate được áp dụng để cô lập khuẩn lạc thuần. Nhận diện phân loài dựa trên phân tích trình tự gene 16S rDNA. Phương pháp PCR khuếch đại đoạn gene đặc hiệu. Giải trình tự so sánh với cơ sở dữ liệu GenBank. Các chỉ số sinh lý sinh hóa bổ sung xác nhận đặc tính chuyển hóa. Tổng cộng thu được 109 dòng vi khuẩn có tiềm năng ứng dụng. Quy trình tuyển chọn đảm bảo độ tin cậy và khả năng tái lặp cao.

3.1. Kỹ thuật phân lập vi khuẩn từ mẫu nước thải thực tế

Mẫu nước thải được thu từ các công đoạn khác nhau trong sản xuất hủ tiếu. Pha loãng mẫu theo tỷ lệ logarithmic trước khi cấy lên môi trường chọn lọc. Nhiệt độ ủ tối ưu từ 28-37 độ C tùy nhóm vi khuẩn mục tiêu. Thời gian ủ từ 3-7 ngày cho phép khuẩn lạc phát triển rõ ràng. Các khuẩn lạc có hình thái khác nhau được chọn lọc và cấy lại nhiều lần. Quá trình tinh luyện đảm bảo mỗi dòng vi khuẩn thu được là thuần.

3.2. Kỹ thuật nhận diện và đánh giá khả năng chuyển hóa của vi khuẩn

Gene 16S rDNA được khuếch đại bằng PCR với cặp mồi đặc hiệu. Sản phẩm PCR được giải trình tự và so sánh với cơ sở dữ liệu quốc tế. Phần mềm BLAST xác định loài vi khuẩn với độ đồng dạng trên 97%. Xét nghiệm sinh hóa bổ sung kiểm tra khả năng chuyển hóa N và tích lũy P. Phương pháp spectrophotometry định lượng ammonium, nitrite và nitrate trong môi trường nuôi cấy. Đánh giá khả năng kết tụ bằng chỉ số SVI và hình thái bông vi sinh dưới kính hiển vi.

IV. Kết luận và ứng dụng vi khuẩn trong xử lý nước thải thực tế

Nghiên cứu đã thu được kết quả đáng khích lệ về đa dạng vi khuẩn. 42 dòng vi khuẩn kết tụ sinh học được phân lập thành hai nhóm chức năng. 59 dòng vi khuẩn chuyển hóa nitơ thuộc bốn nhóm metabolic khác nhau. 8 dòng vi khuẩn tích lũy poly-phosphate展现出 khả năng hấp thụ P cao. Kết quả phân tích gene 16S rDNA xác định các chủng thuộc nhiều chi vi khuẩn khác nhau. Vi khuẩn khử đạm chủ yếu thuộc lớp Betaproteobacteria và Alphaproteobacteria. Một số chủng thuộc chi Pseudomonas, Bacillus và Burkholderia được ghi nhận. Nghiên cứu thiết lập cơ sở dữ liệu vi khuẩn đặc hữu cho nước thải hủ tiếu. Ứng dụng thực tế đòi hỏi tối ưu hóa quy trình nuôi cấy quy mô lớn. Hệ thống bùn hoạt tính cải tiến có thể tích hợp đa dòng vi khuẩn. Kết quả mở ra hướng xử lý nước thải sinh học tiết kiệm chi phí. Nghiên cứu đóng góp vào nền tảng khoa học vi sinh vật môi trường tại Việt Nam.

4.1. Kết quả chính về đa dạng vi khuẩn phân lập được

Tổng cộng 109 dòng vi khuẩn được phân lập và tuyển chọn thành công. Vi khuẩn kết tụ sinh học chia thành nhóm kết tụ protein và polysaccharide. Vi khuẩn chuyển hóa N bao gồm bốn nhóm chức năng: oxi hóa ammonium (15 dòng), oxi hóa nitrite (15 dòng), oxi hóa nitrate (18 dòng) và khử nitrate (11 dòng). Tám dòng tích lũy poly-P展示hiệu suất hấp thụ photpho cao. Phân loại học cho thấy sự đa dạng loài phong phú từ mẫu nước thải hủ tiếu.

4.2. Hướng ứng dụng và triển vọng phát triển

Các dòng vi khuẩn tuyển chọn có tiềm năng ứng dụng trong hệ thống xử lý nước thải sinh học. Thiết kế quy trình kết hợp đa dòng vi khuẩn tăng hiệu suất xử lý tổng hợp. Nuôi cấy quy mô pilot cần tối ưu hóa điều kiện pH, nhiệt độ và tỷ lệ C/N. Môi trường tối ưu với pH 7, đạm 3mM và nguồn cacbon phù hợp đạt hiệu quả cao nhất. Kết quả nghiên cứu cung cấp nền tảng cho công nghệ xử lý xanh và bền vững.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

22/04/2026
Luận án tiến sĩ phân lập và tuyển chọn vi khuẩn kết tụ sinh học chuyển hóa n và tích lũy poly p trong nước thải

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Gạo là nguồn lương thực chính ở các quốc gia châu Á và loại lương thực này được chế biến nhiều loại sản phẩm khác nhau trong đó có hủ tiếu. Hủ tiếu được sản xuất theo quy trình gạo được ngâm trong thời gian 24 giờ, sau đó tháo nước rửa chua, kế tiếp là xay bột rồi ủ bột trong khoảng thời gian 48 giờ. Bước tiếp theo là luộc bột và tráng bột trên các vĩ mỏng sau đó phơi khô và dùng máy cắt thành sợi. Hủ tiếu thành phẩm có thể trộn với rau củ quả cùng với thịt và nước súp (nước lèo) được nấu chín từ xương heo là đặc sản nổi tiếng ở Mỹ Tho, Tiền Giang.

Tuy nhiên, hầu hết các cơ sở sản xuất hủ tiếu chưa có hệ thống xử lý nước thải hay xử lý không đạt tiêu chuẩn. Nhu cầu nước cho sản xuất tại các cơ sở chế biến nông sản thực phẩm thường rất lớn, nhưng nước thải trong quá trình sản xuất thường không được xử lý mà xả thẳng ra môi trường gây ô nhiễm nặng nề cho nguồn nước sông, rạch. Cụ thể ở Mỹ Tho - Tiền Giang, đa số các cơ sở đều mang tính tự phát, nhỏ lẻ nên chưa thật sự chú trọng đến việc xử lý nước thải bảo vệ môi trường. Nhiều cơ sở sau khi sản xuất đã xả trực tiếp nước thải hủ tiếu chưa qua xử lý ra môi trường khiến nhiều sông ngòi, kênh rạch gây ô nhiễm nghiêm trọng đồng thời gây nguy hại cho sinh vật và người dân sống quanh đó.

Nhận thấy được tiềm năng cũng như hiệu quả của các nhóm vi khuẩn kết tụ sinh học, vi khuẩn chuyển hóa đạm, vi khuẩn tích lũy poly-P trong việc xử lý nước thải, đồng thời vấn đề cấp bách hiện tại là phải có biện pháp xử lý nước thải hủ tiếu, để ngăn chặn việc ảnh hưởng đến môi trường. Quan trọng hơn là bảo vệ danh tiếng của ẩm thực Việt Nam, danh tiếng 50 năm danh hiệu của hủ tiếu Mỹ Tho và hình ảnh của Việt Nam. Vì vậy đề tài “Phân lập, tuyển chọn vi khuẩn kết tụ sinh học, chuyển hóa nitơ và tích lũy Poly-P trong nước thải sản xuất hủ tiếu Mỹ Tho và ứng dụng xử lý nước thải” được thực hiện là một nghiên cứu vô cùng cấp thiết và mang tính ứng dụng vào thực tiễn rất cao nhằm giải quyết những khó khăn nêu trên.2 Mục tiêu của nghiên cứu Phân lập, tuyển chọn và ứng dụng các vi khuẩn khả năng xử lý nước thải từ các cơ sở sản xuất hủ tiếu Mỹ Tho.3 Đối tượng nghiên cứu Các dòng vi khuẩn kết tụ sinh học, loại bỏ N (nitơ) và tích lũy poly-P trong nước thải hủ tiếu.4 Thời gian và địa điểm thu mẫu Thời gian: Từ tháng 2 năm 2016 đến tháng 8 năm 2018. Địa điểm thu mẫu: tại 08 cơ sở sản xuất hủ tiếu tại xã Mỹ Phong, Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.5 Nội dung nghiên cứu Nghiên cứu bao gồm các nội dung: - Phân lập và tuyển chọn các dòng vi khuẩn kết tụ sinh học, loại bỏ N và tích lũy poly-P trong nước thải hủ tiếu.

- Nhận diện và tìm hiểu quan hệ phát sinh của các dòng vi khuẩn kết tụ sinh học, loại bỏ N và tích lũy poly-P trong nước thải hủ tiếu có các đặc tính tốt bằng phương pháp sinh học phân tử và công cụ Tin Sinh học kết hợp với một số mô tả hình thái tế bào và khuẩn lạc đã có. - Tuyển chọn một số dòng kết tụ sinh học, loại bỏ N và tích lũy poly-P trong nước thải hủ tiếu tốt nhất để đánh giá hiệu quả xử lý nước thải hủ tiếu trong thùng hay bể chứa có dung tích 100 mL, 1-L, 10-L, 100-L.6 Đóng góp mới và ý nghĩa của luận án Kết quả nghiên cứu của đề tài là một bộ sưu tập gồm 109 dòng vi khuẩn kết tụ sinh học, chuyển hóa N và tích lũy poly-P. Trong đó: 42 dòng vi khuẩn kết tụ sinh học (23 dòng vi khuẩn có khả năng kết tụ protein và 19 dòng vi khuẩn có khả năng kết tụ polysaccharide), 59 dòng vi khuẩn chuyển hóa N (15 dòng vi khuẩn chuyển hóa ammonium, 18 dòng vi khuẩn chuyến hóa nitrate, 15 dòng vi khuẩn chuyển hóa nitrite và 11 dòng vi khuẩn có khả năng chuyển hóa ammonium, nitrite, nitrate), 8 dòng vi khuẩn có khả năng tích lũy poly-P. 3 Kết quả cho thấy các dòng vi khuẩn hai nhóm kết tụ sinh học và tích lũy poly-P là đều là họ Bacillaceae trong khi đó vi khuẩn ở nhóm chuyển hóa N có sự đa dạng loài hơn bao gồm vi khuẩn Gram âm và Bacillus trong đó Bacillus chỉ chiếm tới 12% tổng số dòng vi khuẩn.

Do các nguồn vi khuẩn được phân lập có giới hạn trong khu vực nhỏ nên số cá thể phân lập không cao và sự đa dạng không nhiều nhưng đối với nhóm khuẩn chuyển hóa N có sự đa dạng hơn các nhóm vi khuẩn còn lại. 4 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Hiện trạng sản xuất hủ tiếu ở thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang Thành phố Mỹ Tho là thủ phủ của tỉnh Tiền Giang, Việt Nam tọa độ [106°33’96” đến 106°33’27” Đông và 10°36’51” đến 10°36’27 Bắc] thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long (Hình 2.1 Bản đồ vị trí thành phố Mỹ Tho và xã Mỹ Phong, nơi các làng nghề sản xuất hủ tiếu. (nguồn: https://ungdungmoi.vn/ban-do-viet-nam.html) Hủ tiếu Mỹ Tho là một trong những đặc sản từ gạo, sản xuất từ 08 cơ sở sản xuất tại xã Mỹ Phong, tập hợp lại thành thương hiệu đăng ký nhãn hiệu “hủ tiếu Mỹ Tho”. Tuy nhiên, những cơ sở này sản xuất thủ công nên nước thải không thông qua xử lý hoặc xử lý không triệt để trước khi thải ra sông, rạch đặc biệt nhiều chất với hàm lượng cao như TN, TP, BOD5, TSS (Bảng 2.2 Quy trình sản xuất bánh hủ tiếu tại các cơ sở sản xuất hủ tiếu Mỹ Tho Các công đoạn sản xuất bánh hủ tiếu ở Mỹ Tho: gạo được ngâm trong thời gian 24 giờ, sau đó tháo nước rửa chua, kế tiếp là xay bột rồi ủ bột trong khoảng thời gian 48 giờ.

Bước kế tiếp là luộc bột và tráng bột trên các vĩ mỏng, phơi khô và sau đó dùng máy cắt thành sợi, được trình bày ở Hình 2. 5 THÁO NƯỚC, RỬA CHUA NGÂM GẠO 24 GIỜ Ủ BỘT TRONG 48 GIỜ XAY BỘT PHƠI BÁNH TRÁNG BÁNH PHÂN PHỐI CẮT SỢI Hình 2.2 Quy trình sản xuất bánh hủ tiếu ở các cơ sở sản xuất hủ tiếu Mỹ Tho. (Nguồn: ảnh chụp tại cơ sở sản xuất hủ tiếu Mỹ tho, 2017) 6 Nước chứa tinh bột thải ra nhiều nhất ở công đoạn rửa chua sau khi ngâm gạo. Nước rửa chua có màu trắng đục, việc rửa chua được thực hiện nhiều lần đến khi phần nước của bể ngâm gạo trong hơn và sạch bụi bẩn.

Ngoài ra, nước rửa bể chứa nước tẻ bột và nước vệ sinh sàn nhà cũng mang theo bột gạo xả ra sông hoặc ao tập trung nước. Thành phần chủ yếu của loại nước này chứa các tạp chất cơ bản ở dạng hoà tan hoặc lơ lửng, trong đó chủ yếu là các hợp chất carbohydrate như tinh bột, đường, các loại acid hữu cơ (acid lactic) (Nguyễn Hữu Hiệp và Nguyễn Thị Hải Lý, 2012). Nếu chất thải này thải trực tiếp vào nguồn nước mà không được xử lý thích hợp thì quá trình phân huỷ sinh học sẽ làm suy kiệt oxy hoà tan của nguồn nước, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Quá trình sản xuất bánh hủ tiếu Mỹ Tho đã thải ra ngoài một lượng nước thải rất lớn, mặc dù không có bảng chiết tính minh họa về hiệu quả kinh tế, nhưng bảng phân tích nước thải từ các cơ sở này (Bảng 2.1) cho thấy: Theo kết quả phân tích trên, đa phần các chỉ tiêu trong nước thải không đạt Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải loại B (QCVN 40:2011/BTNMT).1 Chỉ tiêu thành phần nước thải của các cơ sở sản xuất bánh hủ tiếu tại cơ sở sản xuất hủ tiếu tại thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

So sánh QCVN 40:2011/ STT Chỉ tiêu Đơn vị Kết quả BTNMT (loại B) 1 pH - 4,35 – 7,53 5,5 – 9 2 TSS mg/L 49 – 354,8 100 3 BOD5 mg/L 60 – 1200 50 4 COD mg/L 115 – 2297 150 5 Ntổng mg/L 7,85 – 121,1 40 6 Ptổng mg/L 1,51 – 14,1 6 MPN/100 7 Coliforms 7.3 Vấn đề về nước thải và chất lượng nước thải của các cơ sở sản xuất hủ tiếu Các chất hữu cơ chứa trong nước thải chủ yếu là các chất dễ phân hủy gồm: carbohydrate, protein, lipid, … khi thải vào nguồn nước sẽ làm suy giảm nồng độ oxy hòa tan trong nước do vi sinh vật sử dụng để phân hủy các chất hữu cơ. Nồng độ oxy hòa tan thấp có thể gây ảnh hưởng tới sự phát triển của hệ thủy sinh trong vùng và còn gây ảnh hưởng đến khả năng tự làm sạch nguồn nước, làm giảm chất lượng nước cho sinh hoạt và sản xuất. Chất rắn lơ lửng làm cho nước đục và có màu sậm làm hạn chế cường độ ánh sáng chiếu xuống các tầng nước gây ảnh hưởng đến quá trình quang hợp của các loại tảo và đây cũng là nguyên nhân gây tác động tiêu cực đến tài nguyên thủy sinh. Ngoài ra, lượng chất rắn lơ lửng cao còn gây bồi lắng lòng kênh, mương làm cản trở sự lưu thông nguồn nước bị ô nhiễm.

Ảnh hưởng của Nitơ và Phospho, đây là những nguyên tố dinh dưỡng đa lượng. Nếu nồng độ trong nước quá cao sẽ dẫn đến hiện tượng phú dưỡng hóa, làm bùng phát sự phát triển của các loại tảo, quá trình hô hấp của các loại tảo này vào ban đêm làm cho nồng độ oxy trong nước rất thấp gây ngạt thở và diệt vong các sinh vật, ngược lại vào ban ngày thì nồng độ oxy lại quá cao (Moronescu, 2011). Ngoài ra, các loại tảo nổi trên mặt nước tạo thành lớp màng làm cho bên dưới không có ánh sáng, cản trở quá trình quang hợp của hệ thực vật tầng đáy. Vi sinh vật gây bệnh, trong nguồn nước bị ô nhiễm có chứa rất nhiều vi sinh vật gây bệnh và trứng giun sán, thường là nguyên nhân dẫn đến bùng phát các loại dịch bệnh.

Con người trực tiếp sử dụng nguồn nước nhiễm bẩn này sẽ dễ dàng mắc phải các dịch bệnh như bệnh lỵ, tiêu chảy cấp, bệnh thương hàn, bệnh nhiễm khuẩn đường tiết niệu,. Nhìn chung, các chỉ tiêu về độc tính trong nước thải giữa nước thải cơ sở sản xuất bún và cơ sớ sản xuất hủ tiếu tương tự về các chỉ tiêu như BOD5, pH, TN, TSS,… 8 2.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ