Luận văn thạc sĩ hus nghiên cứu quy trình biểu hiện gen mã hóa kháng nguyên tái tổ hợp esa t6 cfp10 phục vụ việc chế tạo bộ sinh phẩm chẩn đoán nhiễm lao 07

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hus nghiên cứu quy trình biểu hiện gen mã hóa kháng nguyên tái tổ hợp esa t6 cfp10 phục vụ việc chế, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề

Chuyên ngành

Vi sinh vật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

68
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. KHÁI QUÁT VỀ BỆNH LAO

1.2. VI KHUẨN LAO

1.2.1. Đặc điểm phân loại

1.2.2. Đặc điểm hình thái

1.2.3. Cấu trúc thành tế bào

1.2.4. Đặc điểm nuôi cấy

1.2.5. Môi trường và dạng khuẩn lạc

1.2.6. Chu kì tế bào

1.2.7. Khả năng gây bệnh

1.2.8. Đặc điểm hệ gen vi khuẩn lao

1.2.9. Đặc điểm hệ gen Mycobacteria tuberculosis

1.2.10. Đặc điểm di truyền của vùng gene biệt hóa RD1

1.3. PROTEIN ESAT6/CFP10

1.3.1. Cấu trúc phân tử của phức hệ protein ESAT6/CFP10

1.3.2. Kháng nguyên tái tổ hợp ESAT6-CFP10 và tiềm năng ứng dụng

2. CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.2. PHƯƠNG PHÁP VÀ KỸ THUẬT NGHIÊN CỨU

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu

2.2.2. Các kỹ thuật sinh học phân tử

2.2.2.1. Tách chiết ADN
2.2.2.2. PCR khuếch đại gen mã hóa protein ESAT6-CFP10
2.2.2.3. Tách dòng gen mã hóa protein ESAT6-CFP10
2.2.2.4. Giải trình tự ADN
2.2.2.5. Thiết kế vector tách dòng pGEMT chứa đoạn gen mã hóa protein CFP10/ESAT6
2.2.2.6. Thiết kế vector biểu hiện pET21a chứa đoạn gen mã hóa protein CFP10/ESAT6
2.2.2.7. Biểu hiện protein ESAT6-CFP10 trong tế bào vi khuẩn Escherichia coli chủng BL21(DE3)
2.2.2.8. Tinh sạch protein ESAT6/CFP10

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1. THIẾT KẾ VECTOR BIỂU HIỆN GEN MÃ HÓA CHO KHÁNG NGUYÊN TÁI TỔ HỢP ESAT6/CFP10

3.1.1. Xác định tính ổn định của gen mã hóa protein ESAT6/CFP10

3.1.2. Kết quả khuếch đại trình tự gen mã hóa protein ESAT6/CFP10 của M.

3.1.3. Kết quả tách dòng

3.1.4. Kết quả khuếch đại, nối 2 gen mã hóa protein ESAT6-CFP10 của M.

3.1.5. Kết quả tách dòng

3.1.6. Kết quả thiết kế vector biểu hiện pET21a+ mang gen ESAT6-CFP10

3.1.7. Xử lý enzym hạn chế tạo đầu cắt so le trên gen pET21a+

3.1.8. Gắn đoạn gen đích vào vector biểu hiện pET21a+

3.1.9. Chọn lọc dòng tế bào chứa vector tái tổ hợp bằng phản ứng PCR- colonies

3.2. KẾT QUẢ BIỂU HIỆN VÀ TINH SẠCH PROTEIN ESAT6/CFP10

3.2.1. Biến nạp vector tái tổ hợp pET21a+/ESAT6-CFP10 vào E.coli chủng BL21(DE3)

3.2.2. Kiểm tra sự biểu hiện gen CFP10/ESAT6

3.2.3. Tối ưu điều kiện biểu hiện protein tái tổ hợp CFP10-ESAT6

3.2.3.1. Kết quả tối ưu nhiệt độ cảm ứng
3.2.3.2. Kết quả tối ưu nồng độ chất cảm ứng IPTG và thời gian cảm ứng trên gen CFP10/ESAT6

3.2.4. Tinh sạch protein ESAT6/CFP10

3.2.5. Kiểm tra độ tinh sạch của sản phẩm

3.2.6. Kết quả kiểm tra protein tái tổ hợp bằng kháng thể đặc hiệu

3.2.7. Xác định hoạt tính kháng nguyên

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu quy trình biểu hiện gen kháng nguyên tái tổ hợp ESAT6 CFP10

Nghiên cứu quy trình biểu hiện gen kháng nguyên tái tổ hợp ESAT6/CFP10 là một bước tiến quan trọng trong việc phát triển các phương pháp chẩn đoán nhiễm lao. Việc hiểu rõ về quy trình này không chỉ giúp nâng cao độ chính xác trong chẩn đoán mà còn mở ra cơ hội cho việc phát triển các sản phẩm sinh học mới. Kháng nguyên ESAT6 và CFP10 được mã hóa bởi gen nằm trong vùng RD1 của vi khuẩn lao, có vai trò quan trọng trong việc kích thích đáp ứng miễn dịch của cơ thể. Nghiên cứu này không chỉ tập trung vào việc biểu hiện gen mà còn vào việc tối ưu hóa quy trình để đạt được sản phẩm protein có chất lượng cao.

1.1. Khái niệm về gen kháng nguyên tái tổ hợp ESAT6 CFP10

Gen kháng nguyên tái tổ hợp ESAT6/CFP10 là một phần quan trọng trong nghiên cứu chẩn đoán nhiễm lao. Hai kháng nguyên này được mã hóa bởi gen nằm trong vùng RD1 của Mycobacterium tuberculosis, có khả năng kích thích đáp ứng miễn dịch tế bào. Việc nghiên cứu và phát triển các phương pháp biểu hiện gen này sẽ giúp tạo ra các sản phẩm sinh học có giá trị trong chẩn đoán và điều trị bệnh lao.

1.2. Tầm quan trọng của nghiên cứu quy trình biểu hiện gen

Nghiên cứu quy trình biểu hiện gen kháng nguyên tái tổ hợp ESAT6/CFP10 có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển các bộ sinh phẩm chẩn đoán nhiễm lao. Việc phát hiện sớm và chính xác bệnh lao sẽ giúp giảm thiểu tỷ lệ lây nhiễm trong cộng đồng. Hơn nữa, nghiên cứu này còn mở ra hướng đi mới trong việc phát triển vaccine phòng ngừa bệnh lao.

II. Thách thức trong việc chẩn đoán nhiễm lao hiện nay

Chẩn đoán nhiễm lao hiện nay gặp nhiều thách thức, đặc biệt là trong việc phát hiện các trường hợp nhiễm lao tiềm ẩn. Phương pháp truyền thống như TST có độ nhạy và độ đặc hiệu thấp, đặc biệt là ở những người đã tiêm vaccine BCG. Điều này dẫn đến việc nhiều bệnh nhân không được phát hiện kịp thời, tạo ra nguồn lây nhiễm trong cộng đồng. Hơn nữa, sự xuất hiện của các chủng lao kháng thuốc cũng làm cho việc chẩn đoán và điều trị trở nên khó khăn hơn.

2.1. Hạn chế của phương pháp chẩn đoán truyền thống

Phương pháp chẩn đoán truyền thống như TST có nhiều hạn chế, bao gồm độ nhạy thấp và không phân biệt được giữa nhiễm lao và phản ứng với vaccine BCG. Điều này dẫn đến việc nhiều trường hợp nhiễm lao không được phát hiện, gây khó khăn trong việc kiểm soát dịch bệnh.

2.2. Tác động của lao kháng thuốc đến chẩn đoán

Sự xuất hiện của các chủng lao kháng thuốc đã làm gia tăng độ phức tạp trong việc chẩn đoán và điều trị bệnh lao. Các chủng này không chỉ gây khó khăn trong việc điều trị mà còn làm tăng nguy cơ lây nhiễm trong cộng đồng, đòi hỏi cần có các phương pháp chẩn đoán mới và hiệu quả hơn.

III. Phương pháp nghiên cứu quy trình biểu hiện gen kháng nguyên

Phương pháp nghiên cứu quy trình biểu hiện gen kháng nguyên tái tổ hợp ESAT6/CFP10 bao gồm nhiều bước quan trọng, từ thiết kế vector đến biểu hiện và tinh sạch protein. Việc tối ưu hóa các điều kiện biểu hiện là rất cần thiết để đạt được sản phẩm protein có chất lượng cao. Các kỹ thuật sinh học phân tử như PCR, tách dòng gen và tinh sạch protein sẽ được áp dụng trong nghiên cứu này.

3.1. Thiết kế vector biểu hiện gen

Thiết kế vector biểu hiện gen là bước đầu tiên trong quy trình nghiên cứu. Vector pET21a được sử dụng để biểu hiện gen mã hóa protein ESAT6/CFP10. Việc lựa chọn vector phù hợp sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả biểu hiện và thu nhận protein.

3.2. Kỹ thuật tinh sạch protein

Sau khi biểu hiện, protein ESAT6/CFP10 cần được tinh sạch để đảm bảo chất lượng cho các ứng dụng chẩn đoán. Các phương pháp như sắc ký lỏng và điện di sẽ được áp dụng để đạt được độ tinh khiết cao cho sản phẩm protein.

IV. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu trong chẩn đoán nhiễm lao

Nghiên cứu quy trình biểu hiện gen kháng nguyên tái tổ hợp ESAT6/CFP10 không chỉ có giá trị trong lý thuyết mà còn có nhiều ứng dụng thực tiễn trong chẩn đoán nhiễm lao. Các sản phẩm sinh học được tạo ra từ nghiên cứu này có thể được sử dụng để phát triển các bộ sinh phẩm chẩn đoán nhanh và chính xác hơn, từ đó nâng cao hiệu quả trong việc phát hiện và điều trị bệnh lao.

4.1. Phát triển bộ sinh phẩm chẩn đoán

Các sản phẩm protein ESAT6/CFP10 có thể được sử dụng để phát triển bộ sinh phẩm chẩn đoán nhiễm lao. Bộ sinh phẩm này sẽ giúp phát hiện nhanh chóng và chính xác các trường hợp nhiễm lao, từ đó giảm thiểu tỷ lệ lây nhiễm trong cộng đồng.

4.2. Tăng cường hiệu quả điều trị bệnh lao

Việc phát hiện sớm và chính xác bệnh lao sẽ giúp nâng cao hiệu quả điều trị. Các sản phẩm sinh học từ nghiên cứu này có thể hỗ trợ trong việc theo dõi và đánh giá hiệu quả điều trị, từ đó cải thiện kết quả cho bệnh nhân.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu

Nghiên cứu quy trình biểu hiện gen kháng nguyên tái tổ hợp ESAT6/CFP10 mở ra nhiều triển vọng trong việc phát triển các phương pháp chẩn đoán nhiễm lao hiệu quả hơn. Việc ứng dụng các công nghệ sinh học hiện đại sẽ giúp nâng cao độ chính xác trong chẩn đoán và điều trị bệnh lao. Tương lai của nghiên cứu này không chỉ dừng lại ở việc phát triển bộ sinh phẩm mà còn có thể mở ra hướng đi mới trong việc phát triển vaccine phòng ngừa bệnh lao.

5.1. Triển vọng phát triển vaccine từ nghiên cứu

Nghiên cứu về gen kháng nguyên tái tổ hợp ESAT6/CFP10 có thể dẫn đến việc phát triển vaccine phòng ngừa bệnh lao hiệu quả. Việc ứng dụng các công nghệ sinh học hiện đại sẽ giúp tạo ra các sản phẩm có khả năng bảo vệ cao cho cộng đồng.

5.2. Hướng đi mới trong nghiên cứu bệnh lao

Nghiên cứu này không chỉ góp phần vào việc phát triển các phương pháp chẩn đoán mà còn mở ra hướng đi mới trong việc nghiên cứu và điều trị bệnh lao. Các sản phẩm sinh học từ nghiên cứu có thể được áp dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, từ y học đến công nghệ sinh học.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hus nghiên cứu quy trình biểu hiện gen mã hóa kháng nguyên tái tổ hợp esa t6 cfp10 phục vụ việc chế tạo bộ sinh phẩm chẩn đoán nhiễm lao 07

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. KHÁI QUÁT VỀ BỆNH LAO Bệnh lao là căn bệnh truyền nhiễm xuất hiện lâu đời, đã được hiện diện trong con người từ thời cổ đại. Các nghiên cứu dấu tích hoá thạch đã cho thấy bệnh lao xuất hiện trên quần thể người khoảng 400- 230 năm trước Công nguyên. Các dấu hiệu của bệnh cũng đã được tìm thấy trong xác ướp Ai Cập giữa năm 3000 và 2400 trước Công Nguyên.

Bệnh ho lao (còn được gọi là consumption) là một thuật ngữ tiếng Hy Lạp. Khoảng 400 năm trước Công nguyên, Hippocrate đã xác định bệnh ho lao là căn nguyên phổ biến nhất liên quan đến ho ra máu và sốt, hầu như luôn gây tử vong. Đại dịch lao bùng phát ở châu Âu (mà sau này được gọi là “Great White Plague”) bắt đầu vào thế kỷ XVII lan sang châu Mỹ và kéo dài cho đến tận thế kỷ XIX. Tác nhân gây bệnh lao, Mycobacterium tuberculosis, chính thức được xác định và mô tả vào năm 1882.

Đây là công trình nghiên cứu của Robert Koch (1843- 1910) [3, 72]. Để ghi nhận công lao của ông, ngày nay người ta còn gọi trực khuẩn lao gây bệnh trên người là trực khuẩn Koch (Bacille de Koch) [57]. Việc áp dụng các thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh đã cứu chữa cho hàng triệu bệnh nhân lao khỏi căn bệnh nguy hiểm này. Tuy nhiên điều đó cũng đã tạo ra một áp lực chọn lọc cho sự hình thành và phát triển các chủng vi khuẩn lao kháng thuốc.

Hy vọng rằng bệnh này có thể được loại bỏ đã hoàn toàn bị dập tắt kể từ khi xuất hiện các chủng vi khuẩn lao kháng thuốc vào những năm 1980 [69]. Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của đại dịch HIV/AIDS, dịch tễ lao toàn cầu đã bước sang một hướng phát triển mới gây ra những thách thức vô cùng to lớn cho cuộc chiến chống lao của loài người, đó là sự tương tác giữa lao và đại dịch HIV/AIDS và sự phát triển của các chủng lao kháng thuốc [57, 61]. TÌNH HÌNH BỆNH LAO TRÊN THẾ GIỚI Bệnh lao gắn liền với sự phát triển xã hội loài người từ hàng ngàn năm nay. Trên thế giới chưa bao giờ và không có một quốc gia, một khu vực, một dân tộc nào 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com không có người mắc bệnh lao và chết do lao.

Năm 1993, WHO đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp toàn cầu của bệnh lao và mối hiểm hoạ của nó trong tương lai là bệnh lao kháng thuốc [6]. Các kết quả thống kê lặp lại nhiều lần đã ước tính có khoảng 1/3 dânk. số thế giới (khoảng 2,2 tỷ người) bị lây nhiễm tiên phát với M.tuberculosis và 10% trong số đó sẽ ph át triển thành bệnh tại một thời điểm nào đó trong đời. Khoảng 95% số bệnh nhân lao và 98% số người chết do lao thuộc về các nước có thu nhập vừa và thấp, 75% số bệnh nhân lao cả nam và nữ ở độ tuổi lao động, do đó bệnh lao là nguyên nhân chủ yếu làm nghèo đói dai dẳng và là trở ngại đối với sự phát triển kinh tế xã hội [70].

Năm 2007, WHO ước tính rằng khu vực Đông Nam Á có số người nhiễm lao chiếm tới 34% trên toàn thế giới. Số lượng các ca mới nhiễm trên toàn cầu vẫn tăng lên và tập trung ở châu Phi, Đông Địa Trung Hải và Đông Nam Á. Trong năm 2010, có khoảng 10 triệu trẻ em mồ côi do cha mẹ tử vong vì lao, có khoảng 80% số bệnh nhân lao toàn cầu thuộc 22 nước có gánh nặng bệnh lao [70]. Hiện nay, tỷ lệ điều trị thành công trên toàn cầu đạt 82%, nhưng tỷ lệ phát hiện chỉ đạt 37% số bệnh nhân ước tính.

Như vậy, còn rất nhiều bệnh nhân lao không được chữa trị đang tiếp tục lây bệnh cho cộng đồng, và theo ước tính của WHO mỗi năm có thêm khoảng 1% dân số thế giới bị nhiễm lao (65 triệu người). Ngày nay bệnh lao càng trở nên nghiêm trọng hơn do xuất hiện các chủng lao đa kháng thuốc (MDR), lao kháng thuốc tuyệt đối (XDR) và lao đồng nhiễm HIV/AIDS [61, 69]. Đến cuối thế kỷ 20, con người vẫn lạc quan về khả năng có thể kiểm soát được đại dịch này. Thực tế, cuối thập niên 70 đầu thập niên 80 ở một số nước phát triển người ta đã tưởng như chế ngự được hoàn toàn bệnh lao, do đó bệnh lao đã đi vào quá khứ bởi sự lãng quên của các nhà y học và khoa học.

Tuy nhiên, thực tế lại không như vậy bởi sự xuất hiện cơ chế kháng lại thuốc kháng sinh của vi khuẩn lao, khiến cho việc phát hiện và điều trị ngày càng trở nên khó khăn và tốn kém [61]. Theo số liệu công bố của WHO [70], ước tính trong năm 2010 có thêm khoảng 8,8 triệu người mắc lao mới (trung bình 128 trường hợp trên 100 000 dân) và 1,4 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com triệu người chết do lao (trong đó 1,1 triệu người HIV (-) và 0,35 triệu người tử vong do lao/HIV (+)). Sau HIV/AIDS, vi khuẩn lao là căn nguyên thường gặp nhất gây tử vong do các bệnh truyền nhiễm; và khuynh hướng hiện tại cho thấy, vi khuẩn lao vẫn là một trong 10 nguyên nhân gây gánh nặng bệnh tật toàn cầu đến năm 2020 [70]. Tổ chức Y tế thế giới WHO đang phấn đấu đến năm 2015 sẽ giảm 1 nửa số người nhiễm và tử vong do lao [67,68].

Ngày Thế giới phòng chống lao (24/3) được tổ chức hàng năm nhằm nâng cao nhận thức về dịch bệnh lao toàn cầu và nỗ lực loại trừ bệnh lao. Bệnh lao vẫn tiếp tục là một trong ba căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nhất trên thế giới cùng với hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS) và sốt rét [6, 52]. Điều này đã một lần nữa khơi dậy các nghiên cứu sâu hơn trong phương pháp phát hiện (chẩn đoán) và điều trị bệnh lao. TÌNH HÌNH BỆNH LAO TẠI VIỆT NAM Việt Nam hiện vẫn là nước có gánh nặng bệnh lao cao, đứng thứ 12 trong 22 nước có tình hình dịch tễ lao cao nhất trên toàn cầu, đồng thời đứng thứ 14 trong số 27 nước có gánh nặng bệnh lao kháng đa thuốc cao nhất thế giới [68].

Năm 1995, trước những biến động xấu đi của tình hình dịch tễ bệnh lao toàn cầu, công tác chống lao thực sự bắt đầu phải đối mặt với những thách thức mới là bệnh lao kháng thuốc và Lao/HIV, Nhà nước và Bộ Y tế Việt Nam đã quyết định đưa Chương trình chống lao thành một trong những Chương trình Y tế Quốc gia trọng điểm [6]. Năm 1996, Việt Nam đã đạt mục tiêu toàn cầu về tìm và điều trị bệnh lao, nhưng số ca bệnh báo cáo không thuyên giảm. Trong giai đoạn 1997-2002, CTCLQG đã phát hiện được 532.703 bệnh nhân lao các thể, tỷ lệ phát hiện đạt 82% số bệnh nhân ước tính (so với mục tiêu của TCYTTG là 70%), CTCLQG đã điều trị 260.698 bệnh nhân lao phổi AFB (+) với tỷ lệ khỏi là 92% [6, 15]. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năm 2002, khu vực Tây-Thái Bình Dương phát hiện 806.460 bệnh nhân lao các thể, 372.220 bệnh nhân lao phổi AFB (+) mới.

Trong đó, số bệnh nhân do CTCLQG Việt Nam phát hiện chiếm 12% bệnh nhân các thể và 15% số bệnh nhân lao phổi AFB(+) mới [6].000 ca mắc lao mới được phát hiện, trên 8.000 bệnh nhân lao cũ cần tái điều trị và gần 30.000 người chết vì bệnh lao. Tổng số bệnh nhân lao hiện mắc là 300. Năm 2012, tổng số người mắc lao là 161.000, trong đó số người mắc lao mới khoảng 149.000, số người mắc lao thứ phát là 12. Mỗi năm, Chương trình chống lao quốc gia phát hiện 100.000 bệnh nhân lao và chữa khỏi cho 92% [4].

Bên cạnh sự gia tăng đáng lo ngại thì tình trạng lao kháng thuốc là một vấn đề cấp bách. Theo nghiên cứu của CTCLQG có 32,5% các trường hợp bệnh lao mới có mang vi trùng lao kháng thuốc, trong đó có kháng SM 25,1%, tiếp theo là INH 20.0%, đây là hai loại thuốc phổ biến trong điều trị bệnh lao [73]. Vấn đề đồng nhiễm HIV và lao không chỉ làm tăng số bệnh nhân lao mà còn làm giảm hiệu quả điều trị bệnh, tăng tỷ lệ tử vong. Hiện nay nguy cơ nhiễm lao hàng năm ở nước ta ước tính là 1,5% nhưng trên thực tế có thể còn cao hơn, như vậy các con số nêu trên có thể còn lớn hơn [6].

Việc chẩn đoán nhiễm lao, phát triển một vacxin có hiệu quả bảo vệ cao từ gen mã hóa protein ESAT6/CFP10 được coi là một hướng đi mới ở nước ta. VI KHUẨN LAO 1. Đặc điểm phân loại Tên khoa học: Mycobacterium tuberculosis [3, 7] Chi(genus): Mycobacterium Họ(familia): Mycobacteriaceae Phân bộ(subordo): Corynebacterineae Bộ(ordo): Actinomycetales Ngành(philum): Actinobacteria Giới(regnum): Bacteria 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các chủng vi khuẩn thuộc chi Mycobacterium được chia làm 2 nhóm  Mycobacterium tuberculosis complex (MTBC) gồm: M. bovis gây bệnh lao điển hình.

 Mycobacterium other than tuberculosis (MOTT) gồm: M. Nhóm này không gây bệnh lao [57, 60]. Đặc điểm hình thái Trực khuẩn lao có hình que, kích thước 2-3 µm, dầy 0,3 µm, đứng riêng lẻ hoặc xếp thành hình chữ N, Y, V hoặc thành dãy phân nhánh như cành cây (hình 1. Tuy nhiên tùy thuộc vào điều kiện và thời gian nuôi cấy mà có sự thay đổi về hình dạng, kích thước, từ cầu- trực khuẩn đến trực khuẩn dài [7, 20, 57].

Vi khuẩn không di động, không sinh bào tử, khó bắt màu các thuốc nhuộm thông thường do có lớp sáp ở thành tế bào. Mycobacterium tuberculosis được xếp vào nhóm vi khuẩn Gram dương, tuy nhiên khi nhuộm Gram vi khuẩn bắt màu rất yếu hoặc không giữ được màu thuốc nhuộm [3, 7, 8]. Nhuộm theo phương pháp Ziehl- Neelsen, trực khuẩn lao không bị cồn và axit làm mất màu của cacbonfuchsin, bắt màu đỏ [8, 20], (hình 1. Vi khuẩn lao M.

tuberculosis trên kính hiển vi điện tử [57]. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. tuberculosis sau khi nhuộm Ziehl – Nielsen [57]. Cấu trúc thành tế bào Lớp vách của trực khuẩn có vai trò rất quan trọng.

Cấu trúc của lớp này ngoài đảm bảo cho sự tồn tại của trực khuẩn, làm cho trực khuẩn bền vững đối với hiện tượng thực bào, khi xâm nhập vào cơ thể trực khuẩn lao khó bị tiêu diệt, ảnh hưởng rất lớn đến khả năng gây bệnh của trực khuẩn [8]. Mycobacterium tuberculosis có cấu trúc vách tế bào phức tạp, được chia thành 4 lớp (hình 1. 1- Lipid ngoài 2- Axit mycolic 3- Polysaccharides (arabinogalactan) 4- Peptidoglycan 5- Màng sinh chất 6- Lipoarabinomannan (LAM) 7- Phosphatidylinositol mannoside 8- Khung thành tế bào Hình 1. Cấu trúc thành tế bào của vi khuẩn lao [72].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ