CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA NHÂN VIÊN 1.1 Một số vấn đề lý luận về sự hài lòng và các yếu tố ảnh hưởng 1.1 Sự hài lòng của nhân viên Khảo sát sự hài lòng trong công việc được các tổ chức sử dụng để giúp cho việc quản lý, huấn luyện và giữ chân những nhân viên có giá trị (Liu et all, 2004). Sự hài lòng trong công việc là mức độ con người yêu thích công việc của họ (Spector, 1997). Sự hài lòng trong công việc là một cấu trúc tâm lý học có nhiều khía cạnh, bao gồm vô số các yếu tố hoàn cảnh mà người lao động gặp phải tại nơi làm việc (Spector, 1997). Nhân viên hài lòng với lương, cơ hội thăng tiến, phúc lợi và cũng có thể không hài lòng với điều kiện môi trường làm việc, hành vi của đồng nghiệp và giám sát viên.
Sự hài lòng công việc là sự kết hợp của hoàn cảnh tâm lý, sinh lý và môi trường làm cho một người trung thực để nói rằng: tôi hài lòng với công việc của tôi (Hoppock, 1935). Theo cách tiếp cận này, mặc dù, sự hài lòng công việc chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố bên ngoài, thì nó vẫn là một cái gì đó bên trong cần phải làm với cách làm để các nhân viên cảm nhận được. Đó là sự hài lòng công việc đưa ra một tập hợp các yếu tố gây ra một cảm giác hài lòng. Vroom tập trung vào vai trò của nhân viên tại nơi làm việc: Sự hài lòng công việc là định hướng tình cảm về một phần của cá nhân đối với các vai trò công việc mà họ hiện đang chiếm giữ.
Sự hài lòng công việc thể hiện sự kết hợp của những cảm xúc tích cực hay tiêu cực mà người lao động có đối với công việc của họ. Nghĩa là, cũng giống như một nhân viên làm việc trong một tổ chức kinh doanh, mang theo các nhu cầu, ham muốn, những kinh nghiệm mà dự tính trước rằng anh ta bị sa thải. Sự hài lòng công việc có liên quan chặt chẽ với hành vi của cá nhân tại nơi làm việc (Davis et al, 1985). Sự hài lòng công việc đề cập đến thái độ và cảm xúc mà con người có về công việc của họ.
Thái độ tích cực và thuận lợi đối với việc chỉ ra sự hài lòng công việc. Thái độ tiêu cực và bất lợi đối với việc chỉ ra sự bất mãn công việc (Armstrong, 2006). 22 SVTH: Nguyễn Đình Duy Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS. TS Nguyễn Văn Phát Sự hài lòng công việc thường được xem như là một tập hợp của những cảm xúc hoặc phản ứng tình cảm liên quan đến tình hình công việc, hoặc chỉ đơn giản là cách mọi người cảm nhận về các khía cạnh khác nhau về công việc của họ (Spector, 1997:2).
Weiss (1967) định nghĩa đầy đủ và bao quát hơn cả: Sự hài lòng trong công việc là thái độ về công việc được thể hiện bằng cảm nhận, niềm tin và hành vi của nhân viên. Smith, Kendal, Huilin (1969), Schemerhon (1993), Kreitner và Kinicki (2007) nêu lên sự hài lòng với các thành phần như bản chất công việc, cơ hội đào tạo và thăng tiến, lãnh đạo, đồng nghiệp, tiền lương, vị trí công việc, sự đãi ngộ và các phần thưởng. Tóm lại, sự hài lòng trong công việc của nhân viên có được khi họ cảm giác thích thú, thoải mái và thể hiện phản ứng tích cực đối với các khía cạnh công việc của mình.2 Tầm quan trọng của sự hài lòng trong công việc của nhân viên Tầm quan trọng của sự hài lòng ngày càng nổi bật lên, nếu đã có trong tâm trí hậu quả tiêu cực của việc không hài lòng như sự thiếu trung thành, tăng vắng mặt, tăng số vụ tai nạn… Spector (1997) đã liệt kê ba đặc điểm quan trọng của việc làm hài lòng: Đầu tiên, các tổ chức cần phải được hướng dẫn bởi các giá trị của con người. Các tổ chức này sẽ được định hướng việc đối xử người lao động theo cách thức công bằng và tôn trọng.
Trong trường hợp như vậy, việc đánh giá sự hài lòng công việc có thể dùng làm như là một chỉ số tốt về hiệu quả của nhân viên. Mức độ cao của sự hài lòng công việc có thể là dấu hiệu của một trạng thái cảm xúc và tinh thần tốt đẹp của nhân viên. Thứ hai, hành vi của người lao động tùy thuộc vào mức độ hài lòng công việc của họ sẽ ảnh hưởng đến các chức năng và hoạt động kinh doanh của tổ chức. Từ đó có thể kết luận rằng, sự hài lòng công việc sẽ dẫn đến hành vi tích cực và ngược lại, sự bất mãn từ công việc sẽ dẫn đến hành vi tiêu cực của nhân viên.
Thứ ba, sự hài lòng công việc có thể dùng làm các chỉ số hoạt động của tổ chức. 23 SVTH: Nguyễn Đình Duy Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS. TS Nguyễn Văn Phát 1.3 Một số lý thuyết về sự hài lòng trong công việc 1.1 Thuyết nhu cầu của Maslow Maslow cho rằng hành vi con người bắt nguồn từ nhu cầu và những nhu cầu của con người được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên từ thấp tới cao. Theo tầm quan trọng, cấp bậc nhu cầu được sắp xếp thành năm bậc sau: Nhu cầu sinh lý: Đây là nhu cầu cơ bản và thấp nhất trong các nhu cầu của con người.
Nó bao gồm các nhu cầu như: thức ăn, nước uống và quần áo… Nhu cầu an toàn: Để sinh tồn, hành vi của con người tất yếu phải xây dựng trên cơ sở nhu cầu an toàn. Nội dung nhu cầu an toàn cơ bản nhất là an toàn sinh mệnh. Những nội dung còn lại là an toàn lao động, an toàn môi trường, an toàn kinh tế, an toàn nghề nghiệp, an toàn ở và đi lại, an toàn nhân sự, an toàn sức khoẻ và an toàn tâm lý… Nhu cầu xã hội (nhu cầu giao tiếp): Nội dung của nó phong phú, kì diệu và phức tạp hơn hai nhu cầu trước. Tùy theo tính cách, hoàn cảnh, trình độ văn hoá, đặc điểm dân tộc, đặc điểm khu vực, chính trị, tín ngưỡng và các quốc gia khác nhau mà có đủ các loại hình thái, muôn màu muôn vẻ.
Nhu cầu giao tiếp gồm có các vấn đề tâm lý như: được xã hội thừa nhận, sự gần gũi thân cận, tán thưởng, ủng hộ. Nhu cầu được tôn trọng: Nhu cầu được tôn trọng chia làm hai loại: lòng tự trọng và được người khác tôn trọng. Lòng tự trọng gồm nguyện vọng: mong giành được lòng tin, có năng lực, có bản lĩnh, có thành tích, độc lập, hiểu biết, tự tin, tự do, tự trưởng thành, tự biểu hiện và tự hoàn thiện. Về bản chất mà nói đó là sự tìm kiếm tình cảm tự an ủi hoặc tự bảo vệ mình.
Nhu cầu được người khác tôn trọng bao gồm: Khát vọng giành được uy tín, được thừa nhận, được tiếp nhận, được quan tâm, có địa vị, có danh dự, được biết đến… Uy tín là một loại sức mạnh vô hình được người khác thừa nhận. Vinh dự là sự đánh giá khá cao của xã hội đối với mình. Tôn trọng là được người khác coi trọng, ngưỡng mộ. Nhu cầu tự khẳng định: Mục đích cuối cùng của con người là tự hoàn thiện chính mình, hay là sự phát triển toàn diện khả năng tiềm ẩn trong những lĩnh vực mà mình có khả năng.
Đây là nhu cầu tâm lí ở tầng cao nhất của con người. Nội dung cơ 24 SVTH: Nguyễn Đình Duy Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS. TS Nguyễn Văn Phát bản của nhu cầu thành tích là tự mình thực hiện. Người ta ai cũng muốn làm một việc gì đó để chứng tỏ giá trị của mình, đó chính là ham muốn về thành tích.
Mong muốn, tự hào, thậm chí cả cảm giác mặc cảm đều sản sinh trên cơ sở nhu cầu về thành tích. 25 SVTH: Nguyễn Đình Duy Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS. TS Nguyễn Văn Phát Bảng 1.1: Các yếu tố trong tháp nhu cầu Maslow Nhu cầu Được thực hiện tại nơi làm việc Tự khẳng định mình Cơ hội đào tạo, thăng tiến, phát triển sáng tạo Ghi nhận, tôn trọng Được ghi nhận, vị trí cao, tăng thêm trách nhiệm Xã hội Nhóm làm việc, đồng nghiệp, lãnh đạo, khách hàng An toàn Công việc an toàn, lâu dài Vật chất – sinh lý Nhiệt độ, không khí, lương cơ bản (Nguồn: Trần Kim Dung, 2005) Thuyết nhu cầu có ý nghĩa quan trọng đối với nhà quản trị muốn lãnh đạo nhân viên mình tốt thì phải hiểu họ đang ở cấp độ nào trong tháp nhu cầu để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao sự hài lòng công việc của người lao động một cách tốt nhất.2 Thuyết hai nhân tố Herzberg Herzberg & Ctg (1959) cho rằng có 2 nhóm nhân tố liên quan đến sự hài lòng công việc: nhóm các nhân tố động viên và nhóm nhân tố duy trì.2: Thuyết hai nhân tố của Herzberg Các yếu tố của sự hài lòng Các yếu tố của sự không hài lòng (nhân tố động viên) (nhân tố duy trì) Thành tựu Chính sách và cách quản trị của công ty Sự công nhận Sự giám sát Bản thân công việc Mối quan hệ với giám sát và đồng nghiệp Trách nhiệm Điều kiện làm việc Cô hội thăng tiến Mức lương Sự phát triển Địa vị An toàn (Nguồn: mindtools.com) Học thuyết này giúp cho nhà quản lý biết được các yếu tố gây ra sự bất mãn cho nhân viên và từ đó tìm cách loại bỏ những nhân tố này. Nhân viên có thể bất mãn với công việc vì lương quá thấp, cấp trên giám sát quá nghiêm ngặt, quan hệ với đồng nghiệp không mấy tốt đẹp.
Như vậy, nhà quản trị cần cải thiện mức lương, giảm bớt sự 26 SVTH: Nguyễn Đình Duy Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS. TS Nguyễn Văn Phát giám sát và xây dựng môi trường làm việc, quan hệ giữa các đồng nghiệp với nhau tốt hơn. Nhân tố động viên mang lại sự hài lòng cho nhân viên và nếu không làm tốt các nhân tố duy trì sẽ dẫn đến sự bất mãn của nhân viên. Muốn động viên nhân viên, làm cho họ hài lòng với công việc thì người quản lý cần chú trọng đến các yếu tố: sự thành đạt, được công nhận khi hoàn thành công việc, bản thân công việc, trách nhiệm và cơ hội thăng tiến.
Nhân viên sẽ cảm thấy hài lòng với công việc khi được giao công việc đúng khả năng và tính cách, có cơ hội để học tập và nâng cao kỹ năng nghề nghiệp của mình.3 Thuyết công bằng của J. Stacy Adams Adam (1963) cho rằng con người đánh giá sự công bằng bằng tỷ số đầu vào trên đầu ra.