CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP VÀ VĂN HOÁ DOANH NGHIỆP, KHÁI QUÁT VỀ HUEWACO VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU I. Khái niệm doanh nghiệp, văn hoá doanh nghiệp 1. Khái niệm doanh nghiệp Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế, có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Khái niệm văn hoá doanh nghiệp Mọi tổ chức đều có văn hoá và những giá trị độc đáo riêng có của nó.
Hầu hết các tổ chức đều không tự ý thức là phải cố gắng tạo nền một nền văn hoá nhất định của mình. Văn hoá của một tổ chức thường được tạo ra một cách vô thức, dựa trên những tiêu chuẩn của những người điều hành đứng đầu hay người sáng lập ra tổ chức đó. Heriôt từng nói: “Cái gì còn lại khi tất cả những cái khác bị quên đi - cái đó là văn hóa”. Điều đó khẳng định rằng, văn hoá doanh nghiệp (VHDN) là một giá trị văn hóa tinh thần và hơn thế nữa, là một tài sản vô hình của doanh nghiệp (DN).
Nó là toàn bộ các giá trị văn hóa được gầy dựng nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của DN (hay một tổ chức), trở thành các giá trị, các quan niệm và tập quán, thể hiện trong các hoạt động của DN ấy và chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi ứng xử của mọi thành viên trong DN. Theo Tiến sĩ Đỗ Minh Cương - Trường Đại học Thương Mại Hà Nội: “Văn hoá doanh nghiệp (văn hoá công ty ) là một dạng của văn hoá tổ chức bao gồm những giá trị, những nhân tố văn hoá mà doanh nghiệp tạo ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh, tạo nên cái bản sắc của doanh nghiệp và tác động tới tình cảm, lý trí và hành vi của tất cả các thành viên của nó”. 3 Ông Hoàng Hải Đường - Tổng Giám đốc Công ty cổ phần phát triển bóng đá Việt Nam thì cho rằng: “ Chúng tôi nói nôm na: nếu doanh nghiệp là cái máy tính thì văn hoá là hệ điều hành”.Văn hoá doanh nghiệp chính là chuẩn mực mà ở đó người ta sẽ quay quanh đó để có hành vi ứng xử. Mỗi nhân viên vào hoạt động trong hệ thống của chúng tôi đều được nghe ít nhất hai tiếng đồng hồ về văn hoá doanh nghiệp.
Có thể thấy rõ: VHDN bao gồm cả yếu tố pháp luật và đạo đức. VHDN không thể hình thành một cách tự phát mà phải được hình thành thông qua nhiều hoạt động của bản thân DN, mỗi doanh nhân, của Nhà nước và của các tổ chức xã hội. Trước hết, cần phải thống nhất một khái niệm chung về VHDN. VHDN được hiểu là toàn bộ các quy tắc ứng xử, cách nghĩ, chuẩn mực, đường lối kinh doanh,.
có tác dụng đặt dấu ấn tới hành vi, thái độ, niềm tin, và quan hệ các thành viên, cao hơn nữa là hình ảnh của một doanh nghiệp trên thương trường. _ VHDN không chỉ giới hạn đơn thuần trong phạm trù văn hoá tổ chức, hay trong cặp quan hệ “văn hoá trong kinh doanh” và “kinh doanh có văn hoá”. VHDN là một tiểu văn hoá (subculture). _ VHDN là một hệ thống của các giá trị do DN sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động kinh doanh, trong mối quan hệ với môi trường xã hội và tự nhiên của mình.
_ VHDN là tổng thể các truyền thống, các cấu trúc và các bí quyết kinh doanh xác lập quy tắc ứng xử của DN. _ VHDN là toàn bộ phương thức kinh doanh, quản lý điều hành kinh doanh, phong cách ứng xử trong quan hệ với đối tác và trong nội bộ doanh nghiệp. _ VHDN là những quy tắc ứng xử bất thành văn, là lực lượng vô hình trở thành quy định của pháp luật, nhưng được các chủ thể tham gia thị trường hiểu và chấp nhận.1 Đặc điểm của văn hoá doanh nghiệp 2.1 Văn hoá doanh nghiệp tồn tại khách quan Văn hoá tồn tại ngoài sự nhận biết của chúng ta. Có con người, có gia đình, có xã hội là có văn hoá.
Văn hoá rất quan trọng, nó tồn tại độc lập với chúng ta. Văn 4 hoá không có nghĩa là cái đẹp. Dù ta có nhận thức hay không nhận thức thì nó vẫn trường tồn. Nếu ta biết nhận thức nó, xây dựng nó thì nó lành mạnh, phát triển.
Có thể có văn hoá đồi trụy đi xuống và văn hoá phát triển đi lên, văn hoá mạnh hay văn hoá yếu chứ không thể không có văn hoá. Người ta đồng nghĩa giữa văn hoá doanh nhân, văn hoá kinh doanh và nhiều người nghĩ văn hoá giao tiếp là VHDN. Nhưng hoàn toàn không phải như vậy. Đặc điểm chung của VHDN cũng như bất kỳ loại hình văn hoá khác là văn hoá tồn tại khi có một nhóm người cùng sống và làm việc với nhau.
Vậy, với tư cách là chủ DN hay nhà quản lý, bản thân chúng ta cần nhận thức: VHDN vẫn tồn tại và phát triển dù ta không tác động vào chúng. Vì vậy, chúng ta nên tác động tích cực để nó mang lại những hiệu quả hoạt động tốt cho chúng ta. Văn hoá doanh nghiệp được hình thành trong thời gian khá dài: Tức là văn hoá doanh nghiệp mang tính lịch sử: được hình thành thông qua quá trình hoạt động kinh doanh.3 Văn hoá doanh nghiệp mang tính bền vững: Tính giá trị: là sự khác biệt của một DN có văn hoá mạnh với một DN “phi văn hoá”. Giá trị văn hoá của DN có giá trị nội bộ, giá trị vùng, giá trị quốc gia, giá trị quốc tế.
DN càng tôn trọng và theo đuổi những giá trị chung cho cộng đồng càng rộng lớn bao nhiêu thì vai trò của nó càng lớn bấy nhiêu.Văn hoá doanh nghiệp mang tính hệ thống: VHDN được xem xét mọi giá trị trong mối quan hệ mật thiết với nhau. Tính hoàn chỉnh cho phép phân biệt một nền văn hoá hoàn chỉnh với một tập hợp rời rạc các giá trị của VHDN. Bản thân các yếu tố văn hoá liên quan mật thiết với nhau trong những thời điểm lịch sử cũng như trong một thời gian dài. Do vậy, việc xem xét VHDN mang tính hệ thống giúp chúng ta có cái nhìn một cách đầy đủ nhất về văn hoá nói chung và VHDN nói riêng.2 Chủ thể của văn hóa doanh nghiệp 2.1 Văn hoá doanh nhân Doanh nhân là người đưa ra những quyết định trong việc hướng DN theo một đường lối, phương hướng nhất định.
Chính vì vậy, không thể phủ nhận văn hoá 5 doanh nhân có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của VHDN.2 Nhà quản trị Chúng ta không nghi ngờ gì khi cho rằng nhà quản trị là một tài sản cao cấp của DN. Một trong những yêu cầu của nhà lãnh đạo là tìm được nhà quản trị phù hợp với phong cách quản lý, quan điểm kinh doanh của DN đó. Đó cũng là lý do tại sao những công ty lớn ở Mỹ, khi tuyển lãnh đạo cao cấp, những người sáng lập công ty hay Hội đồng quản trị thường mời ứng viên đi chơi Golf, đi chơi xa vài ngày ở một khu biệt lập nào đó hoặc đến chơi tại gia đình họ để ngầm đánh giá “những giá trị” của ứng viên đó xem có phù hợp với VHDN hay không. Với tư cách là chủ thể đặc biệt của VHDN, chủ DN phải coi nhà quản lý cũng chính là một nhân tài của DN cho dù họ thuộc cấp quản lý nào.
Đây chính là bộ khung vững chắc của DN để tồn tại và phát triển. Cho dù “bão có to, gió có lớn” nhưng nếu bộ khung ấy vững chắc thì DN ấy vẫn tồn tại và phát triển.3 Nhân viên và người lao động Khi bắt đầu làm việc, các nhân viên trẻ có ba cách ứng xử khác nhau với những chuẩn mực văn hóa (thành văn và bất thành văn) của DN. Thứ nhất, họ đánh giá cao những chuẩn mực đó và hòa nhập vào DN rất dễ dàng. Thứ hai là không thể nào chịu nổi và bỏ ra đi.
Thứ ba là những bạn trẻ cho dù không thích những chuẩn mực đó nhưng vì đồng lương, vì không muốn mất việc nên phải chấp nhận và cam chịu. Nhiều giám đốc DN than phiền nhân viên của họ thường bị xáo trộn, mặc dù đã áp dụng đủ mọi biện pháp về lương, thưởng,. tuy nhiên, một số yếu tố mà DN chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa triệt để như: chưa có hoặc chưa thực hiện đầy đủ về định hướng nghề nghiệp cho nhân viên; chưa đưa ra một môi trường văn hóa, môi trường làm việc để gắn bó và thu hút nhân viên; các cơ chế lương đã được định hình từ trước, rất khó thay đổi, trong khi đó, danh sách lương của DN đã “kịch trần”; chưa quan tâm đến gia đình nhân viên.4 Khách hàng Dưới con mắt khách hàng, VHDN đóng vai trò hết sức quan trọng, tạo nên lợi thế cạnh tranh cho DN. Thứ nhất, VHDN là nguồn lực, lợi thế cạnh tranh, lợi thế 6 so sánh khi khách hàng lựa chọn các nhà cung cấp khác.
Thứ hai, VHDN là cơ sở duy trì và phát triển mối quan hệ khách hàng.5 Nhà cung cấp Tương tự như đối với khách hàng, nhà cung cấp sẽ tin tưởng hơn khi bán hàng cho DN. Sau khi bán hàng, mức độ tín nhiệm càng nâng lên, nhà cung cấp sẽ xem DN như một khách hàng trung thành đặc biệt và có những chế độ quan tâm đặc biệt như ngày giao hàng, chiết khấu tài chính, .6 Với cộng đồng xã hội, cơ quan Nhà nước, cơ quan truyền thông, tổ chức tài chính, ngân hàng. Cũng như đối với khách hàng và nhà cung cấp, cộng đồng xã hội, cơ quan Nhà nước, cơ quan truyền thông, tổ chức tài chính, ngân hàng,., DN sẽ được những lợi thế đặc trưng khi xây dựng được VHDN vì ba lý do. Thứ nhất là tạo ra sự chuyên nghiệp.
Thứ hai là tạo ra tâm lý xem DN làm ăn đàng hoàng, lâu dài. Thứ ba là được củng cố tiếp sau một thời gian hoạt động. Kết quả là cộng đồng sẽ hạn chế “công kích” khi DN gặp rủi ro, khó khăn. Các tổ chức tài chính sẽ cho DN vay với lãi suất thấp hơn vì muốn thiết lập quan hệ làm ăn lâu dài với DN.
Tóm lại, VHDN là những quy phạm chung nhất của một DN, nó định hướng cho một DN và tạo nên những giá trị khác biệt giữa các DN.3 Các yếu tố cấu thành văn hoá doanh nghiệp Có nhiều cách để phân VHDN thành các yếu tố khác nhau như vật thể, phi vật thể, giá trị, .