CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Một số khái niệm liên quan. Nguồn nhân lực. Theo TS Trần Kim Dung (2015, trang 1-2) “Nguồn nhân lực của một tổ chức, doanh nghiệp được hình thành dựa trên cơ sở là các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định.
Nguồn nhân lực khác với những nguồn lực khác của doanh nghiệp do chính bản chất của con người. Nhân viên có các năng lực, đặc điểm cá nhân khác nhau, có tiềm năng phát triển, có khả năng hình thành các đội nhóm, các tổ chức công đoàn để bảo vệ quyền lợi của họ. Họ có thể đánh giá và đặt câu hỏi với hoạt động của các quản lí, hành vi của họ có thể thay đổi phụ thuộc vào chính bản thân họ hoặc sự tác động của môi trường xung quanh. Do đó, quản trị nguồn nhân lực khó khăn và phức tạp hơn nhiều so với quản trị nguồn lực khác trong quá trình sản xuất kinh doanh”[1] Qua khái niệm nguồn nhân lực mà TS Trần Kim Dung nêu ra thì chúng ta có thể hiểu nguồn nhân lực được xuất phát từ con người.
Họ có suy nghĩ, tư duy, hành vi, cảm xúc và có những nhận định, đánh giá khác nhau vì vậy quản trị nguồn nhân lực phức tạp và khó khăn hơn so với quản trị các nguồn lực khác. Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực. Theo giáo trình nguồn nhân lực, Đại học Lao động xã hội (2011) thì: “Chất lượng nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp về những người thuộc nguồn nhân lực được thể hiện ở các mặt sau đây: sức khỏe của người lao động, trình độ văn hóa, trình độ kĩ thuật chuyên môn, năng lực thực tế về tri thức, sự linh hoạt, tính năng động xã hội, phẩm chất đạo đức, tác phong, thái độ đối với công việc, môi trường làm việc, hiệu quả lao động, lối sống và mức độ thỏa mãn nhu cầu cá nhân của người lao động” Theo TS Nguyễn Thanh Mai thì: “chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp” là: “mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của người lao động với yêu cầu công việc của tổ chức và đảm bảo cho tổ chức thực hiện thắng lợi mục tiêu cững như thảo mãn được nhu cầu cao nhất của người lao động”. 4 Có thể thấy “chất lượng nguồn nhân lực” là một khái niệm có nội hàm rất rộng, là môt trong những yếu tố để đánh giá nguồn nhân lực.
Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất của nguồn nhân lực, bao gồm: Trí lực: là năng lực của trí tuệ, quyết định phần lớn khả năng lao động sáng tạo của con người. Trí tuệ được xem là yếu tố quan trọng hàng đầu của nguồn lực con người bởi vì tất cả những hành động thúc đẩy con người đều thông qua đầu óc của họ. Khai thác và phát huy tiềm năng trí tuệ trở thành yêu cầu quan trọng nhất của việc phát huy nguồn nhân lực. Thể lực: là tình trạng sức khỏe của con người, là điều kiện đảm bảo cho con người phát triển, trưởng thành một cách bình thường, hoặc có thể đáp ứng được những đòi hỏi về hao phí sức lực, tinh thần trong lao động.
Trí lực ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển nguồn nhân lực bên cạnh đó sức mạnh trí tuệ của con người có thể phát huy được lợi thế dựa trên nguồn thể lực khỏe mạnh. Tâm lực: còn gọi là phẩm chất tâm lý – xã hội, chính là tác phong, tinh thần – ý thức trong lao động như: tác phong công nghiệp ( khẩn trương, đúng giờ,…), có ý thức tự giác cao, có niềm say mê trong công việc, sáng tạo năng động, có khả năng thích ứng với những thay đổi trong lĩnh vực công nghệ và quản lý. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trần Kim Dung (2018) thì: “ Đối với cá nhân người lao động, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là việc gia tăng giá trị con người, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kĩ năng nghề nghiệp, làm cho con người trở thành người lao động có những năng lực và phẩm chất mới cao hơn đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nền kinh tế xã hội.
Còn đối với tổ chức, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là việc thực hiện một số hoạt động dẫn đến sự gia tăng thêm chất lượng nguồn nhân lực hiện có. Như vậy, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là sự tăng cường sức mạnh, kĩ năng hoạt động sáng tạo của năng lực thể chất, năng lực tinh thần của người lao động lên trình độ nhất định để lực lượng này có thể hoàn thành được nhiệm vụ đặt 5 ra trong những giai đoạn phát triển của một quốc gia hay của một tổ chức. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là hoạt động cần thiết đối với mỗi tổ chức; có thể thực hiện thông qua: nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, tay nghề , bồi dưỡng, tự bồi dưỡng và đào tạo lại; nâng cao thể lực thông qua chăm sóc sức khỏe, an toàn vệ sinh lao động; nâng cao tinh thần, trách nhiệm trong công việc thông qua các kích thích vật chất và tinh thần, tạo điều kiện về môi trường làm việc để người lao động phát huy hết khả năng của mình nhằm hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao (Trần Kim Dung, 2018). Các tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
Tiêu chí đánh giá về năng lực của người lao động. Trạng thái sức khỏe. Theo Tổ chức Y tế Thế giới WHO thì: “Sức khỏe là trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất và tinh thần chứ không phải chỉ là không có bệnh tật hay tàn phế” Theo đó: Sức khỏe Thể chất: Được thể hiện là sự sảng khoái và thoải mái về thể chất. Càng sảng khoái, thoải mái thì càng chứng tỏ bản thân là người khoẻ mạnh.
Cơ sở của sự sảng khoái, thoải mái về thể chất là: sức lực, sự nhanh nhẹn, sự dẻo dai, khả năng chống được các yếu tố gây bệnh, khả năng chịu đựng được các điều kiện khắc nghiệt của môi trường. Sức khỏe Tinh thần: Là sự thỏa mãn về mặt giao tiếp xã hội, tình cảm và tinh thần. Nó được thể hiện ở sự sảng khoái, ở cảm giác dễ chịu, cảm xúc vui tươi, ở những ý nghĩ lạc quan, yêu đời, ở những quan niệm sống tích cực, dũng cảm, chủ động; ở khả năng chống lại những quan niệm bi quan, tiêu cực và lối sống không lành mạnh. Sức khoẻ tinh thần là sự biểu hiện của nếp sống lành mạnh, văn minh và có đạo đức.
Cơ sở của sức mạnh tinh thần là sự thăng bằng và hài lòng trong hoạt động tinh thần giữa lý trí và tình cảm. Sức khoẻ Xã hội: Sức khỏe xã hội thể hiện ở sự thoải mái trong các mối quan hệ phức tạp giữa các thành viên: gia đình, nhà trường, bạn bè, xóm làng, nơi công cộng, cơ quan… Nó thể hiện ở sự được tán thành và chấp nhận của xã hội. Càng hoà 6 nhập với mọi người, được mọi người đồng cảm, yêu mến càng có sức khỏe xã hội tốt và ngược lại. Cơ sở của sức khỏe xã hội là sự thăng bằng giữa hoạt động và quyền lợi cá nhân với hoạt động và quyền lợi của xã hội là sự hoà nhập giữa cá nhân, gia đình và xã hội.
Đối với chỉ tiêu sức khỏe, thường phải kiểm tra thực tế như cân đo, thực hiện các kiểm tra về sức khỏe,… từ đó đánh giá dựa trên những tiêu chí nhất định. Thông tư 13/2007/TT- BYT, Bộ Y Tế hướng dẫn khám sức khỏe khi làm hồ sơ dự tuyển, khám sức khỏe khi tuyển dụng, khám sức khỏe định kỳ và khám sức khỏe theo yêu cầu đối với các đối tượng là cơ sở sử dụng người lao động, cơ sở đào tạo, dạy nghề,… với nội dung khám được qui định như sau: - Khám thể lực (chiều cao, cân nặng, chỉ số BMI, mạch, huyết áp); - Khám lâm sàng (nội khoa, ngoại khoa, sản phụ khoa, mắt, tai – mũi – họng, răng – hàm – mặt, da liễu); - Khám cận lâm sàng (xét nghiệm máu, xét nghiệm nước tiểu, chuẩn đoán hình ảnh). Theo đó, căn cứ vào các chỉ tiêu trên để phân loại sức khỏe thành 5 loại theo Quyết định số 1613/ QĐ-BYT ban hành ngày 15/8/1997 của Bộ Y Tế về tiêu chuẩn sức khỏe – phân loại để khám tuyển, khám định kỳ: - Loại I: Rất khỏe. - Loại II: Khỏe.
- Loại III: Trung bình. - Loại IV: Yếu. - Loại V: Rất yếu. Có thể nói sức khỏe là yếu tố quan trọng không thể thiếu khi đánh giá chất lượng nguồn nhân lực bởi không có sức khỏe con người sẽ không thể tập trung vào công việc để tạo ra của cải, vật chất cho xã hội.
Sức khỏe nguồn nhân lực có tác động rất lớn đến năng suất lao động của cá nhân người lao động khi họ tham gia hoạt động kinh tế cũng như khi chưa tham gia hoạt động kinh tế, trong học tập cũng như trong các công việc nội trợ của bộ phận không tham gia hoạt động kinh tế, sức 7 khỏe cũng ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp thu, khả năng sáng tạo trong công việc và học tập. Trình độ học vấn. Bùi Thị Ngọc Lan: “Trình độ học vấn là khả năng về tri thức, kĩ năng để có thể tiếp thu những kiến thức chuyên môn, kĩ thuật, sự hiểu biết về chính trị - xã hội. Trình độ học vấn được cung cấp qua hệ thống giáo dục chính quy, không chính quy, qua quá trình học tập suốt đời của mỗi cá nhân”.
Như vậy, trình độ học vấn của người lao động là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá trí lực của người lao động, là một trong những cơ sở để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực nói chung. Nó là nền tảng kiến thức cơ bản để người lao động có khả năng nắm bắt được những kiến thức chuyên môn kĩ thuật phục vụ trong quá trình lao động sau này. Nó cũng là cơ sở để doanh nghiệp thực hiện đào tạo, tái đào tạo phục vụ cho hoạt động nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp của mình. Nâng cao trình độ văn hóa không chỉ có ý nghĩa to lớn trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực của cả quốc gia mà nó còn có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
Do đó, doanh nghiệp nào có tỷ lệ lao động tốt nghiệp cao đẳng, đại học, trên đại học,… càng lớn thì doanh nghiệp đó có trình độ trí lực càng cao. Trình độ chuyên môn kĩ thuật.