CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU , CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ VHDN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về VHDN 1. Trên thế giới Tại Mỹ, các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu mối quan hệ giữa hoạt động và thành tựu của doanh nghiệp và họ nhận thấy rằng: hầu hết các công ty thành công trong sản xuất, kinh doanh đều duy trì, giữ gìn bản sắc văn hóa doanh nghiệp riêng của mình. Tại Nhật Bản, do hoàn cảnh sau chiến tranh thế giới đã tạo ra những nét văn hóa đặc trưng cho doanh nghiệp.
Đó là, những người lao động Nhật Bản thường nguyện làm việc suốt đời cho một công ty. Do đó, văn hóa doanh nghiệp kiểu Nhật đã tạo cho công ty một không khí, ý thức làm việc của mỗi con người như trong một gia đình. Lãnh đạo công ty luôn quan tâm đến mọi hoạt động của các thành viên. Vì vậy mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và đào tạo con người là hai đặc trưng cơ bản của văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản.
Nhiều nhà nghiên cứu về VHDN đều tìm thấy một liên kết mang tính xây dựng giữa VHDN và hiệu suất hoạt động. Stewart (2007) đề cập rằng lợi nhuận là mục tiêu của bất kỳ tổ chức nào và chuẩn mực văn hóa trong một tổ chức ảnh hưởng mạnh mẽ đến tất cả những ai tham gia vào tổ chức. Bên cạnh đó cạnh tranh thị trường, cả văn hóa đổi mới và văn hóa gắn kết xác định sự phù hợp của các hoạt 4 động hãng có thể góp phần vào hiệu quả của nó. VHDN không chỉ là một yếu tố quan trọng của một tổ chức; mà còn là sức mạnh trung tâm khiến cho hiệu suất kinh doanh cao.
Gallagher và Brown (2008) đã luận chứng rằng VHDN ảnh hưởng đến tất cả các hoạt động mà doanh nghiệp thực hiện. Mối tương quan tích cực này được công nhận bởi hơn 35 biện pháp thực hiện, bao gồm lợi nhuận trên đầu tư, tăng trưởng doanh thu, và sự duy trì khách hàng, thị phần, doanh số sản phẩm mới, sự thực thi của nhân viên. Kotter (1992) cũngcho rằng các công ty có VHDN hiệu quả sẽ có tác động đến hiệu suất hoạt động của công ty đó. Sự quan tâm lớn cho của nhà quản lý nghiên cứu VHDN là các giả định rằng một số đặc trưng VHDN nhất định, sẽ dẫn đến sự gia tăng trong hoạt động tài chính của công ty.
Nhiều nhà nghiên cứu thập niên 1980 chỉ ra cách mà các tổ chức thành công sở hữu những đặc điểm nổi trội về văn hóa (Ouchi, 1985) cho thấy các mối quan hệ tích cực giữa VHDN và hiệu quả hoạt động. Trong những năm 1990, “Sự ám ảnh” trong việc thử nghiệm các lý thuyết về khả năng thích ứng Denison (1990), Gordon và DiTomaso (1992), và Kotter & Heskett (1992) tìm thấy kết quả không nhất quán về mối liên kết giữa VHDN mạnh và hiệu suất doanh nghiệp. Tại Việt Nam Ở Việt Nam gần đây đã có cách tiếp cận vận dụng các tư tưởng, triết lý của đạo Phật vào hoạt động kinh doanh. Bên cạnh các sách nghiên cứu, luận giải về Phật giáo xuất bản gần đây, còn có các công trình lý luận về chú giải, áp dụng tư tưởng của đạo Phật vào kinh doanh.TS Phùng Xuân Nhạ trong nghiên cứu - "Nhân cách doanh nhân và văn hoá kinh doanh ở Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế" – Đề tài cấp nhà nước, mã số: KX.
Công trình đã xây dựng các mô hình cấu trúc phân tầng với bảng thang các giá trị chi tiết về nhân cách doanh nhân và văn hoá kinh doanh Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế. Đề tài cũng tìm hiểu sự tương đồng và khác biệt trong nhân cách doanh nhân và văn hoá kinh doanh giữa Việt Nam với các nước đặc biệt là ở hai "khu vực văn hoá" phương Đông và phương Tây để rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.TS Đỗ Minh Cương trong cuốn sách “Văn hóa kinh doanh và triết lý kinh doanh ”, NXB Chính trị quốc gia 2001, nghiên cứu văn hóa kinh doanh và triết lý kinh doanh là nghiên cứu vai trò, sự tác động, những biểuh iện của văn hóa trong kinh doanh và gợi mở những tiêu thức của triết lý kinh doanh. Sách còn cung cấp nhiều thông tin, tư liệu phong phú về văn hóa kinh doanh và triết lý kinh doanh qua kinh nghiệm của một số nướcvà trong hoạt động thực tiễn ở Việt Nam - Tác giả Minh Thạnh trong cuốn sách “Áp dụng tinh thần Phật Giáo xây dựng văn hóa doanh nghiệp ”, NXB Phương Đông 2012, cho rằng: Văn hóa doanh nghiệp tạo dựng sự phát triển bền vững, không nhất thiết thương hiệu tạo dựng sự phát triển bền vững. Văn hóa doanh nghiệp không phải là ép buộc nhân viên hay người khác đi theo một lề lối áp đặt, mà đó chính là sự hưởng thụ, hưởng thụ những gì đã có sẵn giữa những giá trị truyền thống và hiện đại, mà nói đến hưởng thụ thì phải có lựa chọn, có thực tập, có điển hình, có sự hài lòng.
Ta thường hay cổ vũ cho việc phát triển thương hiệu mà quên cổ vũ cho phát triển văn hóa doanh nghiệp. Một khi văn hóa doanh nghiệp phát triển thì thương hiệu tự nhiên phát triển và vững mạnh. Thương hiệu chỉ là sự thừa hưởng từ thành quả của văn hóa doanh nghiệp đúng đắn. Điều này cho thấy văn hóa doanh nghiệp là nền tảng cho mọi sự thành công khác của doanh nghiệp, phát huy nó doanh nghiệp trở nên vững chãi và bền vững, thiếu vắng nó, doanh nghiệp trở nên sa sút và phá sản -Trong luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh “Xây dựng văn hóa doanh nghiệp tại công ty dịch vụ viễn thông Vinaphone” của tác giả Trần Thị Thu Hà, Học viện công nghệ Bưu chính viễn thông 2013, tác giả đã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về văn hóa doanh nghiệp, phân tích, đánh giá thực trạng VHDN tại công ty dịch vụ viễn thông Vinaphone, đề xuất giải pháp xây dựng và phát triển VHDN.
Nguyễn Mạnh Quân - "Đạo đức kinh doanh và văn hoá công ty" – NXB. Đại học Kinh tế Quốc dân, (2011). Đây là giáo trình của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Công trình trình bày rõ khái niệm, bản chất, các dạng VHDN.
Ngoài ra công trình cũng đề cập đến vấn đề vận dụng VHDN trong quản lý - tạo lập 6 bản sắc văn hoá công ty. Luận văn đã tham khảo công trình này khi xây dựng phần cơ sở lý luận. Dương Thị Liễu – "Văn hoá kinh doanh" – NXB Đại học Kinh tế Quốc Dân, (2012). Công trình đã đề cập đến các lý thuyết về văn hoá kinh doanh, các yếu tố cấu thành văn hoá kinh doanh.
Công trình cũng dành phần lớn nội dung để trình bày về thực trạng văn hoá kinh doanh tại Việt Nam, văn hoá kinh doanh quốc tế cũng như đưa ra các tình huống văn hoá kinh doanh rất cụ thể và hữu ích. Văn hóa doanh nghiệp cũng là đề tài của nhiều nghiên cứu khoa học các cấp, các luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ trong ngành viễn thông như : - Th.S Lê Thị Bích Ngọc, Th.S Phan Tú Anh – "Văn hoá doanh nghiệp Học viện bưu chính viễn thông để phát triển bền vững và hội nhập quốc tế" - Đề tài nghiên cứu khoa học cấp học viện (2010). Công trình trình bày một số vấn đề chung về VHDN ; phân tích, đánh giá thực trạng VHDN của Học viện công nghệ bưu chính viễn thông thông qua các biểu trưng trực quan và phi trực quan ; đề xuất giải pháp để tiếp tục xây dựng, duy trì và phát triển VHDN của Học viện. Luận văn thạc sỹ, “Hoàn thiện văn hóa doanh nghiệp tại Ngân hàng phát triển Việt Nam” tác giả Vương Văn Lợi, Đại học kinh tế quốc dân (2012).
Phần cơ sở lí luận bên cạnh việc nghiên cứu về văn hóa doanh nghiệp và các yếu tố cấu thành, tác giả cũng tiến hành tổng quát các mô hình văn hóa doanh nghiệp xét trên cơ sở phân tích yếu tố hướng ngoại và linh họat. Trên cơ sở này văn hóa doanh nghiệp được chia thành 4 mô hình: gia đình, thị trường, cấp bặc và sáng tạo. Tác giả cũng tiến hành nghiên cứu các nhân tố tác động với văn hóa doanh nghiệp cả bên trong và bên ngoài. Tác giả đưa quy trình nhằm xây dựng và hoàn thiện văn hóa doanh nghiệp.
Quy trình này gồm 03 bước là: định hình văn hóa doanh nghiệp, triển khai xây dựng và ổn định và phát triển văn hóa. Mục đích của bước định hình văn hóa doanh nghiệp là xây dựng được triết lí kinh doanh cho mình. Trong phần bước triển khai xây dựng văn hóa doanh nghiệp, tác giả để cập tới các bước: - Phổ biến kiến thức chung. - Xác định các giá trị văn hóa phù hợp với doanh nghiệp.
7 - Xây dựng bộ sổ tay văn hóa - Triển khai văn hóa doanh nghiệp - Kiểm định các giá trị văn hóa. Trong bước ổn định và phát triển văn hóa, tác giả nhấn mạnh vào các biện pháp: tuyển chọn nhân sự, khuyến khích sự tiếp nhận giá trị, huấn luyện thành viên mới, củng cố các giá trị, đánh giá thưởng phạt công bằng. Khi tiến hành xem xét thực trạng văn hóa doanh nghiệp tại ngân hàng, tác giả tiến hành khảo sát thực trạng trên các biểu hiện hữu hình và các biểu hiện vô hình. Tác giả cũng tiến hành đánh giá giữa văn hóa mong muốn và văn hóa hiện tại của ngân hàng sử dụng mô hình OCAI.
Trong phần giải pháp nhằm hoàn thiện văn hóa của ngân hàng tác giả đề xuất hoàn thiện các tiền đề cần thiết cho văn hóa doanh nghiệp. Bên cạnh đó, cùng với việc rà soát các thiếu sót trong quy trình xây dựng văn hóa doanh nghiệp, tác giả đã đề xuất các kiến nghị tương ứng. Ngoài ra tác giả cũng đề xuất 04 nhóm giải pháp chính cho việc hoàn thiện văn hóa doanh nghiệp bao gồm: Giải pháp đào tạo tuyển dụng, giải pháp truyền thông, tổ chức các lễ nghi, xây dựng quy chế khen thưởng. Đỗ Thị Thanh Tâm “Xây dựng văn hóa doanh nghiệp cho các doanh nghiệp Việt Nam trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế” Luận văn Thạc sỹ kinh tế , Đại học Kinh tế Thành Phố Hồ Chí Minh.
Trong phần cơ sở lí luận, tác giả đã tiến hành đưa ra các lí thuyết về xây dựng văn hóa doanh nghiệp cũng như duy trì và phát huy văn hóa doanh nghiệp.