CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT, MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Khái niệm về sự thoả mãn trong công việc Hiện nay có rất nhiều tác giả định nghĩa về sự thoả mãn trong công việc, cũng đã có rất nhiều nghiên cứu về sự thoả mãn và các yếu tố ảnh hưởng đến sự thoả mãn của nhân viên tại nơi làm việc. Theo Vroom (1964) sự thoả mãn trong công việc thể hiện sự cảm nhận của người lao động, định hướng tích cực và hiệu quả rõ ràng đối với công việc trong tổ chức. Theo Smith và cộng sự (1969) sự thoả mãn trong công việc là thái độ ảnh hưởng và ghi nhận của nhân viên về các khía cạnh khác nhau trong công việc của họ. Theo Spector (1997) sự thoả mãn trong công việc là sự cảm nhận của người lao động về công việc của họ và các khía cạnh khác nhau của công việc đó, hay đơn giản là người lao động có thoả mãn hay không thoả mãn về công việc của họ.
Theo Currivan (1999) sự thoả mãn trong công việc của nhân viên được nghiên cứu theo hai khía cạnh đó là sự thoả mãn chung trong công việc và theo các yếu tố thành phần của công việc. Theo Ellickson và Logsdon (2001) sự thoả mãn trong công việc là mức độ yêu thích, quan tâm công việc mà họ đang làm và thái độ về nhận thức tích cực hay tiêu cực của nhân viên về công việc và môi trường làm việc của họ. Theo Kreitner và Kinicki (2007) sự thoả mãn trong công việc phản ánh việc nhân viên yêu thích, quan tâm công việc của họ, là tình cảm của nhân viên với công việc của họ. Tóm lại, có rất nhiều khái niệm khác nhau về sự thoả mãn của nhân viên trong công việc, ta có hiểu một nhân viên thoả mãn trong công việc của họ khi họ cảm thấy thoải mái, dễ chịu khi làm công việc của họ.2 Lý thuyết xây dựng thang đo mức độ thoả mãn trong công việc 1.1 Thuyết nhu cầu cấp bậc của Abraham Maslow (1943) 123doc 6 Thuyết phân cấp các nhu cầu của Abraham Maslow có ý nghĩa rất lớn và thu hút được sự chú ý của nhiều nhà quản trị trên thế giới.
Ông đã sắp xếp các nhu cầu của con người theo một hệ thống trật tự cấp bậc từ thấp tới cao và phân thành 5 loại theo sơ đồ sau: Như cầu tự thể hiện Nhu cầu được tôn trọng Nhu cầu xã hội Nhu cầu an toàn Nhu cầu sinh học Hình 1.1: Tháp nhu cầu của Maslow (Organization Behavior,2009) Nhu cầu sinh lý: Là những nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống con người như ăn, uống, ngủ, nghỉ, không khí để hít thở và các điều kiện sống cơ bản khác… Nhu cầu an toàn: Là nhu cầu được an toàn về tính mạng, công việc, nơi ở, được bảo vệ khỏi các điều bất trắc hoặc nhu cầu tự bảo vệ bản thân. Nhu cầu xã hội: Là nhu cầu được giao lưu, giao tiếp với gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, nhu cầu về tình yêu, mong muốn được trong một nhóm cộng đồng nào đó,… được xã hội chấp nhận. Nhu cầu được tôn trọng: Là nhu cầu muốn được người khác tôn trọng và công nhận thông các thành quả của bản thân, mong muốn của con người muốn có địa vị, quyền lực trong xã hội. Nhu cầu tự thể hiện: Là nhu cầu con người muốn được thể hiện bản thân, thể hiện khả năng của mình, nhu cầu đạt được các thành tích mới và có ý nghĩa, nhu cầu sáng tạo và hoàn thiện bản thân.
123doc 7 Abraham Maslow đã chia 5 loại nhu cầu này thành 2 nhóm đó là nhu cầu bậc thấp và nhu cầu bậc cao. Nhu cầu bậc thấp: bao gồm nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn và nhu cầu xã hội. Nhu cầu bậc cao: bao gồm nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu tự thể hiện. Quan điểm của Abraham Maslow cho rằng trình tự thoả mãn nhu cầu của con người đi từ thấp đến cao.
Khi những nhu cầu bậc thấp được thoả mãn thì nó sẽ không còn tính chất động viên nữa, các nhu cầu bậc cao hơn sẽ bắt đầu xuất hiện tạo động lực thúc đẩy họ làm việc để thoả mãn nhu cầu trong công việc của họ. Lý thuyết của Abraham Maslow cho rằng những nhà quản trị nào biết thông hiểu nhu cầu và giúp đỡ người lao động thoả mãn những nhu cầu của họ sẽ làm cho năng suất của tổ chức tăng lên, đạt hiệu quả cao hơn.2Thuyết ERG của Clayton Alderfer (1972) Clayton Alderfer đã phân tích những hạn chế về tính thực tiễn của thuyết thang bậc nhu cầu của Maslow, ông chia lại năm nhu cầu của Maslow thành ba nhóm: Nhu cầu tồn tại: là những đòi hỏi về vật chất cần thiết cho sự tồn tại của con người, gồm các nhu cầu sinh lý và nhu cầu an toàn (giống cách phân loại của Maslow). Nhu cầu quan hệ: là những đòi hỏi về quan hệ tương tác qua lại giữa các cá nhân, gồm nhu cầu xã hội. Nhu cầu phát triển: là những nhu cầu bên trong mỗi con người gồm nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu tự thể hiện.
Nghiên cứu của Clayton Alderfer đã đưa ra nhận định tích cực hơn so với Maslow. Ông cho rằng con người cùng một lúc có thể theo đuổi nhiều nhu cầu chứ không phải chỉ một loại nhu cầu và trình tự thoả mãn các nhu cầu không nhất thiết phải đi từ thấp đến cao theo thứ tự trong thang bậc nhu cầu của Maslow. Ta có thể so sánh sự tương đồng giữa thuyết thang bậc nhu cầu của Maslow và thuyết ERG của Alderfer như sau: 123doc 8 Tự thể hiện Phát triển Được tôn trọng Nhu càu xã hội Quan hệ An toàn Tồn tại Sinh lý Hình 1.2 Sự tương đồng giữa thuyết nhu cầu và thuyết ERG (Nguồn: Tác giả tổng hợp) 1.3Thuyết hai nhân tố của Herzberg (1959) Herzberg chia các nhu cầu của con người theo hai loại độc lập và chúng ảnh hưởng tới hành vi của con người theo những cách khác nhau đó là: khi con người cảm thấy không thoả mãn với công việc của mình thì họ rất lo lắng về môi trường làm việc, còn khi họ cảm thấy hài lòng về công việc thì họ rất quan tâm đến công việc của mình. Dựa vào điều này ông phân biệt thành hai loại là nhân tố duy trì và nhân tố động viên.1: Thuyết hai nhân tố của Frederick Herzberg Nhân tố duy trì Nhân tố động viên 1.Sự thành đạt 1.Điều kiện làm việc 2.Sự công nhận 2.Quan hệ với đồng nghiệp 3.Trách nhiệm 3.Chính sách và các quy tắc 4.Bản chất công việc 4.Chất lượng giám sát 5.Sự thăng tiến 5.Tăng trưởng cá nhân (Nguồn: Nguyễn Hữu Lam, 2012) Nhân tố duy trì: đó là sự không thoả mãn trong công việc.
Các nhân tố này bao gồm: điều kiện làm việc, các chính sách và điều hành của tổ chức, tiền lương, quan hệ đồng nghiệp, sự giám sát công việc. Khi các nhân tố duy trì được cải thiện, tuy có thể 123doc 9 làm cho người lao động giảm bớt sự bất mãn và không hài lòng tại nơi làm việc nhưng vẫn chưa chắc làm tăng sự thỏa mãn trong công việc của họ. Nhân tố động viên: đôi khi còn được gọi là nhân tố thoả mãn. Nhân tố này bao gồm: được công nhận thành tích, sự thành đạt, cảm giác về trách nhiệm trong công việc, sự phát triển cá nhân, sự thăng tiến.
Nếu thiếu các yếu tố này thì người lao động sẽ không thoả mãn, lười nhác và thiếu sự chú tâm vào công việc. Thuyết này cho thấy rằng nhà quản trị không nên xem nhẹ việc thực hiện các nhân tố này vì chúng có thể ảnh hưởng rất lớn đến thái độ của người lao động khi nhà quản trị vận dụng chúng đúng hoặc sai trong công việc.2: Ảnh hưởng của các nhân tố duy trì và nhân tố động viên trong công việc Ảnh hưởng của yếu tố duy trì Ảnh hưởng của yếu tố động viên Khi đúng Khi sai Khi đúng Khi sai Không có sự bất Bất mãn Thoả mãn Không thoả mãn mãn Không tạo ra sự ảnh hưởng tiêu cực Hưng phấn trong Không có sự bất hưng phấn hơn (chán nản, thờ quá trình làm việc mãn (vẫn giữ được ơ…) (hăng hái, có trách mức bình thường) nhiệm hơn…) (Nguồn:Nguyễn Hùng Phong và cộng sự,2016) Do đó, muốn thực sự động viên được nhân viên nhà quản trị cần phải thực hiện đúng các nhân tố duy trì để không gây ra sự bất mãn, đồng thời cũng cần thực hiện đúng các nhân tố động viên để tạo ra sự thoả mãn cho người lao động.4 Thuyết công bằng của John Stacy Adams (1963) John Stacy Adams, một nhà tâm lý học hành vi và quản trị đã đưa ra thuyết công bằng vào năm 1963. Điểm then chốt chính là con người ứng xử theo những gì họ nhận thức được, người lao động rất quan tâm đến vấn đề được đối xử công bằng và đúng đắn trong tổ chức. Họ luôn có xu hướng so sánh sự đóng góp của họ với những lợi ích mà họ nhận được với người khác trong tổ chức.
Người lao động sẽ cảm thấy tổ chức đối xử công bằng với họ khi thấy sự đóng góp và lợi ích của mỗi thành viên trong tổ chức là như nhau. Còn khi người lao động cảm nhận họ bị đối xử bất công so với 123doc 10 người khác thì sẽ có động lực hành động để làm giảm bớt sự bất công để làm cho mọi điều tốt hơn hoặc thay đổi tình huống bằng cách rời bỏ công việc. Thuyết này cho rằng, để tạo sự công bằng trong tổ chức nhà quản trị cần phải đảm bảo được sự công bằng giữa các thành viên trên nhiều phương diện, xem xét, đánh giá mức độ cân bằng giữa những gì mà mỗi cá nhân trong tổ chức đóng góp và kết quả mà họ nhận được. Ứng dụng của thuyết công bằng trong việc nâng cao sự thỏa mãn cho người lao động trong công việc bằng cách ghi nhận kịp thời những đóng góp của họ từ nhà quản trị.
Chỉ khi mỗi cá nhân cảm thấy có sự công bằng thì họ mới nỗ lực làm việc vì mục tiêu chung của tổ chức.5 Thuyết kỳ vọng của Vroom (1964) Vroom cho rằng động cơ làm việc của một người phụ thuộc vào mối quan hệ giữa ba yếu tố kỳ vọng như sau: Cá nhân tiến Hệ quả liên Thực hiện Và nhận thức hành các nỗ Đạt được quan công công việc rằng lực việc Kỳ vọng: Phương tiện: Giá trị: Có thể đạt mức Hệ quả nào được Đánh giá giá thực hiện theo nhận khi thực trị các hệ quả mong muốn? hiện tốt công việc như thế nào? Hình 1.