Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tạo động lực làm việc cho người lao động trong doanh nghiệp - Chương 2: Thực trạng tạo động lực làm việc của người lao động tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại và Công nghiệp Minh Quang - Chương 3: Giải pháp hoàn thiện tạo động lực làm việc của người lao động tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại và Công nghiệp Minh Quang 11 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm liên quan về tạo động lực làm việc cho ngƣời lao động trong doanh nghiệp 1. Khái niệm lao động và người lao động 1. Khái niệm lao động Sức lao động là một phạm trù chỉ khả năng lao động của con người, là tổng hợp thể lực và trí lực của con người được con người vận dụng trong quá trình lao động.
Như vậy, khả năng lao động hay sức lao động của con người được thể hiện trên hai góc độ là khả năng về thể chất (thể lực) được biểu hiện qua các chỉ tiêu như: chiều cao, cân nặng, sức mạnh cơ bắp, thính lực… và khả năng về tinh thần (trí lực) được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu như: trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm công tác… Ngày nay, khi nghiên cứu về khả năng lao động không chỉ dừng lại ở hai tiêu chí thể lực và trí lực mà còn bao gồm năng lực phẩm chất của người lao động và gọi đó là tâm lực. Năng lực phẩm chất (tâm lực) là khái niệm chỉ rõ tính năng động, sáng tạo, thái độ làm việc, lòng tự trọng… Theo Trần Xuân Cầu (2012), “lao động là hoạt động có mục đích của con người, thông qua hoạt động đó, con người tác động vào giới tự nhiên, cải biến chúng thành những vật có ích nhằm đáp ứng nhu cầu của con người”. Theo đó, lao động có các đặc trưng như sau:Thứ nhất, xét về tính chất, lao động phải là hoạt động có mục đích. Đây là đặc trưng để chỉ ra sự khác biệt giữa lao động của con người và hoạt động có tính bản năng của con vật.
Con người lao động để tạo ra những sản phẩm cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của mình, của cộng đồng và toàn xã hội.Thứ hai, xét về mục đích, lao động phải tạo ra sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người. Chỉ những hoạt động nào nhằm thỏa mãn nhu cầu chính đáng của con người mới được gọi là lao động.Thứ ba, xét về nội dung, lao động là hoạt động tác động vào tự nhiên, làm biến đổi tự nhiên và xã hội nhằm tạo 12 ra của cải vật chất và tinh thần, phục vụ lợi ích con người, cộng đồng và xã hội. Khái niệm lao động trong quan điểm của Trần Xuân Cầu (2012) là khái niệm đầy đủ và được sử dụng làm cơ sở nghiên cứu của luận văn này. Sức lao động và lao động có sự khác nhau cơ bản.
Nói đến sức lao động là nói đến khả năng lao động. Trong khi đó, lao động là hoạt động đang diễn ra. Để sức lao động có thể trở thành lao động cần phải có những điều kiện nhất định bao gồm điều kiện tự nhiên, xã hội, môi trường… 1. Khái niệm người lao động Khi con người tham gia vào quá trình lao động được coi là người lao động (NLĐ).
Như vậy, người lao động là những người có sức lao động và thực hiện lao động nhằm tạo ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu chính đáng của bản thân, tập thể và xã hội. NLĐ trong doanh nghiệp (DN) là một bộ phận của lao động xã hội. NLĐ trong DN tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh của DN nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu cá nhân NLĐ và vì mục tiêu kinh doanh của DN. Theo Khoản 1 Điều 3 Bộ luật lao động năm 2012 định nghĩa: NLĐ là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động.
Người lao động bao gồm thể lực, tâm lực và trí lực. Tuy nhiên căn cứ theo tính chất công việc thì NLĐ bao gồm lao động trực tiếp và lao động gián tiếp. Lao động trực tiếp là những người tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh, nhằm tạo trực tiếp tạo ra sản phẩm hoặc các công việc dịch vụ nhất định. Lao động gián tiếp là những người chỉ đạo, phục vụ, quản lý hoạt động kinh doanh trong DN.
Bên cạnh đó, NLĐ có thể phân loại thành lao động phổ thông, lao động chân tay (có tay nghề hoặc không có tay nghề): Công nhân, thợ, nông dân làm thuê (tá điền), người giúp việc,. và lao động trí óc (hoặc lao động văn phòng): NLĐ (công chức, tư chức), cán bộ, chuyên gia,. Khái niệm động lực làm việc Có rất nhiều quan niệm khác nhau về động lực làm việc. Kreiter cho rằng động lực làm việc là một quá trình tâm lý mà nó định hướng cá nhân theo mục đích 13 nhất định.
Năm 1994, Higgins đưa ra khái niệm động lực là lực thúc đẩy từ bên trong cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chưa thỏa mãn. Tác giả Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2014): “Động lực làm việc là sự khát khao và tự nguyện của NLĐ để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt mục tiêu của tổ chức”. Theo tác giả Bùi Anh Tuấn (2011): “Động lực làm việc là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất và hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động” Khi nói về động lực của NLĐ trong DN, các nhà quản trị thường thống nhất ở một số điểm sau đây: - Động lực gắn liền với công việc, với DN và môi trường làm việc, không có động lực chung chung không gắn với công việc cụ thể nào.
Động lực lao động được thể hiện thông qua những công việc cụ thể mà mỗi NLĐ đang đảm nhiệm và thái độ của họ đối với DN. Mỗi NLĐ đảm nhiệm những công việc khác nhau có thể có những động lực khác nhau để làm việc tích cực hơn. Động lực lao động được gắn liền với một công việc, một DN và một môi trường làm việc cụ thể. - Động lực không phải là đặc điểm tính cách cá nhân.
Điều đó có nghĩa là không có người có động lực và người không có động lực. Nó có thể thay đổi thường xuyên phụ thuộc vào các yếu tố khách quan trong công việc. Tại thời điểm này một lao động có thể có động lực làm việc rất cao nhưng vào một thời điểm khác động lực lao động chưa chắc đã còn trong họ. - Trong trường hợp các nhân tố khác không thay đổi, động lực sẽ dẫn tới năng suất, hiệu quả công việc cao hơn.
Tuy nhiên, không nên cho rằng động lực tất yếu dẫn đến năng suất và hiệu quả công việc bởi vì sự thực hiện công việc không chỉ phụ thuộc vào động lực mà còn phụ thuộc vào khả năng của NLĐ, phương tiện và các nguồn lực để thực hiện công việc. - Trong các DN hiện nay, với quan điểm coi nguồn lao động là nguồn lực của DN. Các nhà quản lý luôn đặt ra câu hỏi, làm thế nào có thể nâng cao hiệu quả hoạt động của DN, làm sao để NLĐ làm việc hăng say, nhiệt tình. Và khi quan sát 14 một tập thể NLĐ làm việc các nhà kinh tế thường đặt ra câu hỏi, tại sao họ làm việc, tại sao với cùng một công việc như nhau, điều kiện làm việc như nhau nhưng người này làm việc nghiêm túc, có hiệu quả cao còn người khác thì ngược lại.
Để trả lời cho câu hỏi đó, các nhà kinh tế đã phát hiện ra rằng chính hệ thống nhu cầu và lợi ích của NLĐ đã tạo ra động cơ và động lực của họ trong quá trình lao động 1. Khái niệm tạo động lực làm việc Tạo động lực làm việc cho NLĐ là việc dùng những biện pháp nhất định để kích thích NLĐ làm việc một cách tự nguyện, nhiệt tình, hăng say và có hiệu quả hơn trong công việc. Theo tác giả Bùi Anh Tuấn (2011): “Tạo động lực làm việc được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến NLĐ nhằm làm cho NLĐ có động lực trong làm việc". Khái niệm tạo động lực làm việc cho người lao động trong doanh nghiệp Nhà quản trị muốn NLĐ trong DN của mình nỗ lực hết sức vì DN thì họ phải sử dụng tất cả các biện pháp khuyến khích đối với NLĐ, đồng thời tạo mọi điều kiện cho NLĐ hoàn thành công việc của họ một cách tốt nhất.
Khuyến khích bằng vật chất lẫn tinh thần, tạo ra bầu không khí thi đua trong NLĐ có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển của DN. Tạo động lực làm việc cho NLĐ là việc dùng những biện pháp nhất định để kích thích NLĐ làm việc một cách tự nguyện, nhiệt tình, hăng say và có hiệu quả hơn trong công việc. Đây cũng là trách nhiệm và là mục tiêu của quản lý. Tạo động lực làm việc cũng chính là tạo ra sự hấp dẫn của công việc, của kết quả thực hiện công việc, của tiền lương, tiền thưởng.
Sự hấp dẫn càng lớn thì lợi ích đem lại cho NLĐ càng lớn, khi đó NLĐ càng hăng say làm việc để có thể đạt được lợi ích đó. Khi NLĐ cảm thấy sự hấp dẫn trong công việc, họ làm việc một cách tự nguyện, nhiệt tình do đó các nhà quản lý cần quan tâm tạo động lực làm việc cho NLĐ để hướng hành vi của NLĐ theo một chiều hướng quỹ đạo nhất định. 15 Như vậy, có thể coi vấn đề tạo động lực làm việc là vấn đề thuộc về sự chủ động của DN. Để có thể tạo động lực làm việc cho NLĐ thì DN phải xem xét sẽ phải đưa ra chính sách nào để thúc đẩy động lực làm việc choNLĐ, sẽ phải tạo ra môi trường làm việc, môi trường giao tiếp như thế nào để NLĐ cảm thấy thoải mái nhất và có động lực lao động cao nhất.
Nội dung tạo động lực làm việc cho ngƣời lao động trong doanh nghiệp 1. Xác định nhu cầu của người lao động Hiểu được nhu cầu của NLĐ là một lợi thế quan trọng giúp cho các chính sách DN gắn kết chặt chẽ với nhu cầu và mong muốn của NLĐ.