phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc trình bày gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về công tác tạo động lực làm việc cho ngƣời lao động Chƣơng 2: Thực trạng công tác tạo động lực làm việc cho CBCS tại Viện H57. Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tạo động lực làm việc cho CBCS tại Viện H57. 13 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG 1. Khái quát về động lực và tạo động lực làm việc cho người lao động trong tổ chức.1 Nhu cầu “Nhu cầu là hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển” [14,tr.88] Tùy theo sự nhận thức, điều kiện môi trƣờng sống, những đặc điểm tâm sinh lý của con ngƣời là khác nhau.
Hệ thống nhu cầu của con ngƣời rất phức tạp, song cơ bản nó đƣợc chia thành 3 nhóm chính là: Nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần và nhu cầu xã hội. Nhu cầu của con ngƣời luôn luôn biến đổi, thỏa mãn một nhu cầu này đồng thời sẽ nảy sinh một nhu cầu khác. Nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chi phối con ngƣời càng cao.Nhu cầu là yếu tố là động lực thúc đẩy con ngƣời hoạt động lao động, nhu cầu càng lớn thì khả năng chi phối của con ngƣời càng cao. Lợi ích chính là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần mà mỗi cá nhân nhận đƣợc từ tổ chức.
Nhƣ vậy lợi ích có vai trò to lớn trong hoạt động quản lý, trong hoạt động lao động của con ngƣời, tạo ra động lực mạnh mẽ cho các hoạt động của con ngƣời, buộc con ngƣời phải động não, cân nhắc, tìm tòi nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình. Các cấp lãnh đạo quản lý khi tìm hiểu đƣợc tâm lý lợi ích của ngƣời lao động sẽ có những biện pháp phù hợp để khuyến khích họ hăng say làm viêc đạt hiệu quả công việc tốt nhất.2 Động lực Thuật ngữ “động lực” đƣợc sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế - xã hội, xung quanh khái niệm động lực còn có rất nhiều quan niệm và nhận thức khác nhau. Tùy theo từng cách tiếp cận, mỗi tác giả đều đƣa ra những quan niệm riêng của mình về động lực. Trên thực tế có rất nhiều quan niệm về động lực.
Theo Kreiter (1995) “Động lực là một quá trình tâm lý mà nó định hướng các hành vi cá nhân theo mục đích nhất định”. Theo Higgins (1994): “Động lực là lực đẩy bên trong cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chưa được thỏa mãn”. Còn theo Bedeian (1993): “Động lực là sự cố gắng để 14 đạt được mục tiêu”.S Vũ Thị Uyên: “Động lực là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân nhằm phát huy mọi nỗ lực để hướng bản thân đạt được mục tiêu cá nhân và mục tiêu của tổ chức” [16,tr. Từ những định nghĩa trên ta có thể đƣa ra cách hiểu chung nhất về động lực nhƣ sau: Động lực của con người là sự tác động tổng hợp các yếu tố (vật chất và tinh thần) có tác dụng thúc đẩy, kích thích sự hăng say, nỗ lực hoạt động, làm việc của mỗi người nhằm đạt được mục tiêu của cá nhân và mục tiêu tổ chức.
Khi con người có động lực tốt, họ sẽ quyết tâm hơn và tự giác hơn, có sự hăng say, nỗ lực hơn trong quá trình làm việc nhằm đạt được những mục tiêu cá nhân và của tổ chức.3 Tạo động lực làm việc và sự cần thiết của công tác tạo động lực cho ngƣời lao động Sau khi biết đƣợc nhu cầu của ngƣời lao động là gì, động lực làm việc của họ là gì, điều đầu tiên cần làm của nhà quản lý là phải đƣa ra các chính sách tạo động lực hợp lý, khuyến khích động viên ngƣời lao động hăng hái làm việc. Bởi một tổ chức chỉ có thể hoạt động đạtnăng suất hiệu quả cao khi có những ngƣời làm việc sáng tạo và hiệu quả.s Nguyễn Vân Điềm và PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân cho rằng:” Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của người lao động nhằm hướng tới và đạt được các mục tiêu của tổ chức” [5, tr. Theo giáo trình hành vi tổ chức của TS. Bùi Anh Tuấn “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao.
Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân ”[14,tr. Hồ Bá Thâm “Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức. Động lực cá nhân là kết quả của rất nhiều nguồn lực hoạt động đồng thời trong con người và trong môi trường sống và làm việc của con người” [13,tr. Nhƣ vậy có thể hiểu “Tạo động lực được biểu hiện là hệ thống các biện pháp, chính sách, cách ứng xử của tổ chức tác động đến người lao động nhằm làm cho họ có động lực trong công việc”, thúc đẩy họ hài lòng hơn với công việc và nỗ lực phấn đấu để đạt đƣợc các mục tiêu của bản thân và tổ chức.
15 * Sự cần thiết của công tác tạo động lực cho ngƣời lao động - Sự cần thiết của công tác tạo động lực đối với bản thân người lao động Tạo động lực chính là giúp ngƣời lao động hăng say làm việc, tăng năng suất lao động và tăng thu nhập lao động. Qua đó ngƣời lao động có thể thỏa mãn các nhu cầu của cá nhân và gia đình của họ. Mặt khác động lực làm việc còn giúp cho ngƣời lao động có thể tự hoàn thiện mình. Khi có đƣợc động lực làm việc, ngƣời lao động sẽ có đƣợc nỗ lực lớn hơn để lao động, học hỏi, đúc kết đƣợc những kinh nghiệm trong công việc, nâng cao kiến thức, trình độ để tự hoàn thiện mình.
- Sự cần thiết của công tác tạo động lực đối với cơ quan tổ chức doanh nghiệp Đối với mỗi doanh nghiệp mục tiêu cơ bản và quan trọng nhất chính là hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Để thực hiện đƣợc mục tiêu đó thì yếu tố con ngƣời đóng vai trò quyết định. Vì vậy, các doanh nghiệp cần phải quan tâm đến những giải pháp nhằm động viên, khuyến khích ngƣời lao động để họ mang hết khả năng ra làm việc, giữ chân họ ở lại doanh nghiệp lâu dài, ổn định. Khi ngƣời lao động tích cực làm việc sẽ tăng hiệu quả lao động, nâng cao năng suất, tăng doanh thu và lợi nhuận cho tổ chức, doanh nghiệp.
Tạo động lực làm việc chính là biện pháp sử dụng ngƣời lao động hiệu quả nhất, tốn ít chi phí nhất nhằm nâng cao năng suất lao động của các tổ chức, doanh nghiệp. Khi một tổ chức, doanh nghiệp tạo động lực tốt sẽ góp phần làm giảm chi phí về lao động và thu hút những lao động có trình độ tay nghề cao. Ngoài ra tạo động lực còn góp phần nâng cao uy tín, hình ảnh của tổ chức, doanh nghiệp. Nó xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa những ngƣời lao động với nhau, giữa ngƣời lao động với tổ chức, doanh nghiệp qua đó góp phần xây dựng văn hóa tổ chức đƣợc lành mạnh.
- Sự cần thiết của công tác tạo động lực đối với xã hội. Tạo động lực làm việc sẽ thúc đẩy tăng năng suất lao động. Nếu tăng năng suất lao động với một cấp độ nhanh và với quy mô lớn sẽ tạo ra của cải vật chất trong xã hội ngày càng nhiều làm tăng trƣởng và phát triển nền kinh tế. Tăng trƣởng kinh tế lại tác động lại khiến cho ngƣời lao động có điều kiện thỏa mãn những nhu cầu của mình ngày càng phong phú và đa dạng.
Đời sống mọi ngƣời đƣợc ấm no hạnh phúc, xã hội sẽ ổn định, phồn vinh phúc lợi và an sinh xã hội đƣợc đảm bảo. Các học thuyết về tạo động lực làm việc 1.1 Học thuyết nhu cầu của Maslow Hệ thống nhu cầu do Abraham Maslow xây dựng nên là một trong những mô hình đƣợc sử dụng rộng rãi nhất trong nghiên cứu về động cơ cá nhân. Nhu cầu của cá nhân rất phong phú và đa dạng, do vậy để đáp ứng đƣợc nhu cầu đó cũng rất phức tạp. Để làm đƣợc điều này Maslow đã chỉ ra rằng ngƣời quản lý cần phải có các biện pháp tìm ra và thoả mãn nhu cầu cho ngƣời lao động, khi đó sẽ tạo ra đƣợc động lực cho họ và ông nhấn mạnh rằng trong mỗi con ngƣời bao giờ cũng tồn tại một hệ thống phức tạp gồm 5 nhóm nhu cầu.
Hình 1: Tháp nhu cầu của maslow (Nguồn internet) - Nhu cầu sinh lý: Nằm ở cấp thấp nhất trong hệ thống đây là những nhu cầu cơ bản để có thể duy trì bản thân cuộc sống con ngƣời nhƣ: ăn, ở, mặc, nƣớc uống, các nhu cầu này xuất hiện sớm nhất, nó chi phối những mong muốn của con ngƣời, do đó con ngƣời sẽ tìm mọi cách để thoả mãn rồi để đạt đến những nhu cầu cao hơn. - Nhu cầu an toàn: Đây là nhu cầu sẽ xuất hiện tiếp theo khi nhu cầu sinh lý đƣợc thoả mãn. Là những nhu cầu tránh sự nguy hiểm về thân thể và sự đe dọa về mất việc làm, mất tài sản. Đó là những nhu cầu của con ngƣời đƣợc sống trong môi trƣờng an toàn, đƣợc đảm bảo về y tế, đảm bảo về việc làm và đảm bảo về tài chính của họ.
- Nhu cầu xã hội: Nhu cầu đƣợc quan hệ với những ngƣời khác để thể hiện và chấp nhận tình cảm, sự chăm sóc, và sự hợp tác. 17 - Nhu cầu được tôn trọng: Là nhu cầu có địa vị, đƣợc ngƣời khác tôn trọng cũng nhƣ nhu cầu tự tôn trọng mình. - Nhu cầu tự thể hiện mình: Là nhu cầu đƣợc trƣởng thành và phát triển đƣợc biến các năng lực của mình thành hiện thực, hoặc nhu cầu đạt đƣợc các thành tích mới và có ý nghĩa, nhu cầu sáng tạo. Ta thấy rằng không phải trong cùng một thời kỳ mọi ngƣời đều xuất hiện những nhu cầu nhƣ nhau, mà ở từng thời điểm thì mỗi ngƣời khác nhau có nhu cầu khác nhau.
Nhƣng về nguyên tắc các nhu cầu thấp hơn phải đƣợc thoả mãn trƣớc khi đƣợc thoả mãn các nhu cầu ở bậc cao hơn. - Nhà quản lý sẽ tạo ra động lực thúc đẩy làm việc tốt hơn, giúp họ yên tâm với công việc hơn bằng cách thoả mãn những nhu cầu hiện tại của họ.