CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận chung về hoạt động xuất khẩu 1. Khái niệm xuất khẩu Xuất khẩu hàng hóa là hoạt động kinh doanh buôn bán ở phạm vi quốc tế. Đây không phải là hành vi buôn bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ mua bán trong nền thương mại có tổ chức cả bên trong và bên ngoài nhằm bán sản phẩm, hàng hóa sản xuất trong nước ra nước ngoài thu ngoại tệ, đẩy mạnh sản xuất hàng hóa phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế ổn định từng bước nâng cao mức sống nhân dân.
Xuất khẩu hàng hóa nằm trong lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hóa của một quá trình tái sản xuất mở rộng, nhằm mục đích liên kết sản xuất với tiêu dùng của nước này với nước khác. Nền sản xuất phát triển lớn mạnh như thế nào sẽ phụ thuộc vào hoạt động này. (Theo Trần Chí Thành (2000)) Kinh doanh xuất khẩu cũng chính là hoạt động kinh doanh quốc tế đầu tiên của một doanh nghiệp. Hoạt động này được tiếp tục ngay cả khi doanh nghiệp đã đa dạng hóa hoạt động kinh doanh của mình.
Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện kinh tế, từ xuất khẩu hàng hoá tiêu dùng cho đến tư liệu sản xuất, máy móc thiết bị, công nghệ kỹ thuật cao. Tất cả các hoạt động trao đổi đó đều nhằm đem lại lợi ích cho quốc gia. Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi phạm vi rộng cả về không gian lẫn thời gian. Nó có thể chỉ diễn ra trong thời gian ngắn và cũng có thể kéo dài hàng năm.
Đồng thời nó có thể được tiến hành trên phạm vi toàn lãnh thổ của một quốc gia hay nhiều quốc gia khác nhau. Đặc điểm của xuất khẩu SVTH: Nguyễn Thị Quỳnh Như – K52D KDTM 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Võ Thị Mai Hà Thứ nhất, khách hàng trong hoạt động xuất khẩu là người nước ngoài. Do đó khi muốn làm việc với họ thì nhà sản xuất không thể áp dụng các biện pháp giống hoàn toàn như khi chinh phục khách hàng trong nước. Bởi vì giữa hai loại khách hàng này có nhiều điểm khác biệt về ngôn ngữ, lối sống, mức sống, phong tục tập quán,… Điều này sẽ dẫn đến khác biệt trong nhu cầu và cách thức thỏa mãn nhu cầu.
Nhà sản xuất cần phải có sự nghiên cứu sâu hơn để tìm hiểu nhu cầu của khách hàng nước ngoài để đưa ra những hàng hóa phù hợp. Thứ hai, thị trường trong kinh doanh xuất khẩu ở nước ngoài thường phức tạp và khó tiếp cận hơn so với thị trường kinh doanh trong nước. Bởi vì thị trường xuất khẩu vượt ra ngoài phạm vi biên giới quốc gia nên về mặt địa lý thì nó có cách xa hơn, phức tạp hơn và có nhiều nhân tố ràng buộc hơn. Thứ ba, hình thức mua bán trong hoạt động xuất khẩu thường mua bán qua hợp đồng xuất khẩu với khối lượng mua hàng hóa lớn mới có hiệu quả.
Thứ tư, các nghiệp vụ liên quan đến hoạt động xuất khẩu như thanh toán, vận chuyển, ký kết hợp đồng… đều phức tạp và chứ đựng nhiều rủi ro so với trong nước. Tóm lại xuất khẩu là sự mở rộng quan hệ buôn bán trong nước ra nước ngoài. Hoạt động xuất khẩu nước ngoài có thể đem lại kết quả cao hơn hoạt động xuất khẩu trong nước nhưng cũng có nhiều rủi ro hơn. Vai trò của hoạt động xuất khẩu 1.
Đối với doanh nghiệp Xuất khẩu trở thành hình thức giúp doanh nghiệp tăng doanh thu bán hàng hóa của mình khi mở rộng hoạt động ra thị trường quốc tế. Ngoài vấn đề thu được nhiều ngoại tệ, xuất khẩu sẽ tạo động lực để cho các doanh nghiệp không ngừng cải tiến chất lượng, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ. Xuất khẩu giúp doanh nghiệp có thể đa dạng hóa thị trường đầu ra của mình. Đa dạng hóa thị trường giúp doanh nghiệp tạo ra các nguồn thu nhằm ổn định luồng SVTH: Nguyễn Thị Quỳnh Như – K52D KDTM 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Võ Thị Mai Hà tiền thanh toán cho các nhà cung cấp.
Đồng thời tiếp tục đa dạng hóa thị trường để tránh sự phụ thuộc vào một thị trường nào đó. Quảng bá thương hiệu rộng rãi: Đó không chỉ là thương hiệu riêng của doanh nghiệp mà còn là một thương hiệu quốc gia có thể nhìn thấy trên thị trường quốc tế. Ngày càng có nhiều doanh nghiệp tạo tên tuổi, dần khẳng định được vị thế của quốc gia đó. Cuối cùng, nhờ có hoạt động xuất nhập khẩu, doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội tiếp cận, trau dồi kinh nghiệm hoạt động, xây dựng chiến lược kinh doanh trên thị trường quốc tế với chi phí và rủi ro thấp nhất.
Đối với nền kinh tế Hoạt động xuất khẩu góp phần làm tăng quy mô nền kinh tế thế giới. Cùng với nhập khẩu, xuất khẩu thúc đẩy sự phát triển, tăng trưởng kinh tế quốc gia. Quốc gia sẽ xuất khẩu các sản phẩm, hàng hóa dư thừa hoặc các hàng hóa có lợi thế ở các nước khác để bán cho quốc gia khác. Xuất khẩu tạo nguồn vốn phục vụ cho hoạt động nhập khẩu và tái đầu tư vào các lĩnh vực khác.
Điều này giúp giảm sự phụ thuộc vào các khoản đầu tư của nước ngoài đối với các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển như là Việt Nam, nước ta nhu cầu nhập khẩu rất lớn. Xuất khẩu giúp quốc gia tăng dự trữ ngoại tệ. Khi đó, cán cân thanh toán thặng dư (ngoại tệ thu về lớn hơn) là điều kiện tốt cho sự phát triển kinh tế. Hoạt động xuất khẩu góp phần làm biến đổi cơ cấu kinh tế từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp, dịch vụ.
Hoạt động xuất khẩu còn có đóng góp không nhỏ trong việc giải quyết vấn đề công ăn, việc làm cho người lao động. Tạo ra thu nhập chính đáng và nâng cao đời sống cho họ. Xuất khẩu là một cơ sở quan trọng tạo điều kiện mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại của đất nước. Các hình thức xuất khẩu SVTH: Nguyễn Thị Quỳnh Như – K52D KDTM 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Võ Thị Mai Hà Hiện này trên thế giới có nhiều hình thức xuất khẩu khác nhau cùng với nhiều sự biến đổi của nó.
Nhưng nhìn chung theo “Kỹ thuật kinh doanh xuất nhập khẩu” của GS. Võ Thanh Thu (2011) thì có các hình thức chủ yếu như sau: SVTH: Nguyễn Thị Quỳnh Như – K52D KDTM 9 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Võ Thị Mai Hà 1. Xuất khẩu trực tiếp Xuất khẩu trực tiếp là việc xuất khẩu các loại hàng hóa dịch vụ do chính doanh nghiệp sản xuất ra hoặc thu mua từ các đơn vị sản xuất trong nước tới khách hàng nước ngoài thông qua các tổ chức của mình. Trong trường hợp doanh nghiệp tham gia xuất khẩu là doanh nghiệp thương mại nên không tự sản xuất ra sản phẩm thì việc xuất khẩu bao gồm 2 công đoạn như sau: - Thu mua các nguồn hàng xuất khẩu với các đơn vị, địa phương trong nước - Đàm phán kí kết với doanh nghiệp nước ngoài, giao hàng và thanh toán tiền hàng với đơn vị nước ngoài Phương pháp này có một số ưu điểm là thông qua đàm phán thảo luận trực tiếp dễ dàng đi đến thống nhất và ít xảy ra những hiểu lầm đáng tiếc - Giảm được chi phí trung gian giúp làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp - Có nhiều điều kiện để phát huy tính độc lập của doanh nghiệp - Chủ động trong việc tiêu thụ hàng hóa sản phẩm của mình - Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực thì phương thức này có phát sinh một số hạn chế - Dễ xảy ra rủi ro - Nếu như không có nhân viên bên bộ phận XNK có đủ trình độ và kinh nghiệm khi tham gia ký kết hợp đồng ở một thị trường mới sẽ gây bất lợi cho phía bên mình - Khối lượng hàng hóa giao dịch phải lớn mới có thể bù đắp được chi phí giao dịch 1.
Xuất khẩu giao dịch trung gian Giao dịch qua trung gian trong thương mại quốc tế là phương thức giao dịch, trong đó mọi việc đều có mối liên hệ giữa xuất khẩu và người nhập khẩu, việc quy định các điều kiện giao dịch đều phải thông qua một người thứ ba. Người thứ ba này gọi là người trung gian XNK và được hưởng một khoản tiền nhất định. SVTH: Nguyễn Thị Quỳnh Như – K52D KDTM 10 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Võ Thị Mai Hà Điều 3 khoản 11 Luật TM Việt Nam năm 2005 quy định: “Các hoạt động trung gian thương mại là hoạt động của thương nhân để thực hiện các giao dịch thương mại cho một hoặc một số thương nhân được xác định, bao gồm hoạt động đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, ủy thác mua bán hàng hóa và đại lý thương mại”. Ưu điểm của hình thức này: - Người trung gian thường hiểu biết, nắm vững thị trường, pháp luật và tập quán địa phương - Tận dụng cơ sở vật chất của trung gian, giảm chi phí đầu tư Sử dụng các dịch vụ của trung gian (phân loại, đóng gói, vận chuyển, bảo hành, sửa chữa).
Tuy nhiên ở hình thức này cũng có những mặt hạn chế như: - Công ty XNK mất sự liên hệ trực tiếp với thị trường - Vốn hay bị bên nhận đại lý chiếm dụng - Lợi nhuận bị chia sẻ - Phải đáp ứng những yêu sách của người trung gian 1. Buôn bán đối lưu Buôn bán đối lưu là một trong những phương thức giao dịch trong xuất khẩu kết hợp chắc chẽ với nhập khẩu, người xuất khẩu đồng thời là người nhập khẩu, lượng trao đổi với nhau có giá trị tương đương. Trong những phương thức này mục tiêu là thu về một lượng hàng hóa có giá trị tương đương. Các bên tham gia luôn luôn phải quan tâm đến sự cân bằng trong việc trao đổi hàng hóa từ đó thể hiện những khía cạnh khác nhau: Cân bằng về mặt hàng, mặt hàng quý đổi lấy mặt hàng quý, mặt hàng tồn kho đối lấy mặt hàng tồn kho khó bán.
Cân bằng về giá cả so với giá thực tế nếu giá hàng nhập cao thì khi xuất giá của hàng xuất khẩu cũng phải được tính cao tương đương và ngược lại. SVTH: Nguyễn Thị Quỳnh Như – K52D KDTM 11 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Võ Thị Mai Hà Cân bằng về điều kiện giao dịch: ví dụ, cùng giao FOB ở cảng đi và cùng giao CIF ở cảng đến. Cân bằng về tổng giá trị hàng giao cho nhau.