Chương 1: Tổng quan của vấn đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa Chương 3: Thực trạng hoạt động mở rộng thị trường xuất khẩu nông sản của Công ty Cổ phần Tập đoàn Chế biến Nông sản Mạnh Cường Chương 4: Định hướng phát triển và giải pháp mở rộng thị trường xuất khẩu nông sản của Công ty Cổ phần Tập đoàn Chế biến Nông sản Mạnh Cường 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỞ RỘNG THỊ THƯỜNG XUẤT KHẨU HÀNG HÓA 2. Lý luận chung về xuất khẩu hàng hóa 2. Khái niệm xuất khẩu hàng hóa Theo Điều 18, Khoản 1, Luật thương mại 2005 Việt Nam, “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”. Feenstra và Taylor (2010) lại đưa ra một định nghĩa khác về xuất khẩu trong giáo trình Thương mại quốc tế đó là: “Các quốc gia mua và bán hàng hóa, dịch vụ từ nhau.
Xuất khẩu là sản phẩm được bán từ nước này sang nước khác”. Từ những định nghĩa trên, có thể hiểu xuất khẩu là việc một quốc gia bán hàng hóa và dịch vụ cho một quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ của một trong hai quốc gia đó hoặc của quốc gia thứ ba làm phương thức thanh toán. Mục đích của hoạt động này là khai thác được lợi thế của từng quốc gia trong phân công lao động quốc tế. Khi việc trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia đều có lợi thì các quốc gia đều tích cực tham gia mở rộng hoạt động này.
Như vậy, xuất khẩu được hiểu là hoạt động trao đổi hàng hoá và dịch vụ của một quốc gia với phần còn lại của thế giới thông qua mua bán nhằm khai thác triệt để lợi thế của quốc gia trong phân công lao động quốc tế. Cơ sở của xuất khẩu là hoạt động mua bán và trao đổi hàng hóa (bao gồm hàng hóa vô hình và hữu hình) trong nước. Cho tới khi sản xuất phát triển và việc trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia đều có lợi, hoạt động này mở rộng phạm vi ra ngoài biên giới của các quốc gia hoặc giữa thị trường nội địa và khu chế xuất. Vai trò của hoạt động xuất khẩu hàng hóa 2.
Đối với nền kinh tế thế giới Hoạt động xuất khẩu hàng hóa đóng vai trò hết sức to lớn đến nền kinh tế thế giới và có ảnh hưởng tới nhiều khía cạnh khác nhau. Xuất khẩu hàng hóa đã và đang thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại nhằm thu hút đầu tư, tăng cường vị thế kinh tế quốc gia, rút ngắn khoảng cách trên thị trường Thế giới. Ngoài ra, xuất khẩu khai thác nguồn 8 lực và tiềm lực của mỗi quốc gia một cách triệt để làm gia tăng hiệu suất và chất lượng sản phẩm, tăng cường tính cạnh tranh, đồng thời xuất khẩu còn thúc đẩy chuyển giao công nghệ và kiến thức. Từ đó, nền kinh tế Thế giới sẽ phát triển ngày càng mạnh mẽ và sâu rộng 2.
Đối với quốc gia - Tạo nguồn vốn ngoại tệ quan trọng để đảm bảo nhu cầu nhập khẩu, cải thiện cán cân thanh toán. - Tăng cường GDP, thu nhập quốc gia và tạo việc làm cho người lao động. - Thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển tận dụng hiệu quả, phát huy tối đa nguồn lực và các lợi thế sẵn có của quốc gia như nguồn lao động, tài nguyên thiên nhiên. - Giúp tiếp cận công nghệ, kiến thức và mô hình kinh doanh mới.
- Thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển tận dụng hiệu quả, phát huy tối đa nguồn lực và các lợi thế sẵn có của quốc gia như nguồn lao động, tài nguyên thiên nhiên. - Góp phần làm chuyển dịch cơ cấu sản xuất, định hướng sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. - Góp phần giảm thiểu rủi ro và phụ thuộc, giữ ổn định nền kinh tế của đất nước trong thời kì biến động kinh tế và chính trị hiện nay. Đối với doanh nghiệp Thứ nhất, xuất khẩu gia tăng doanh thu cho doanh nghiệp.
Thông qua hoạt động xuất khẩu, các doanh nghiệp có thể mở rộng quy mô thị trường và tăng hiệu quả kinh doanh. Điều này cũng thúc đẩy doanh nghiệp gia tăng hiệu quả sản xuất và đa dạng hóa các sản phẩm của doanh nghiệp. Ngoài ra, nhờ mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa, hoạt động sản xuất của doanh nghiệp cũng gia tăng, giúp doanh nghiệp tận dụng được lợi ích từ tính kinh tế theo quy mô. Thứ hai, xuất khẩu giúp nâng cao vị thế doanh nghiệp.
Thông qua hoạt động xuất khẩu, doanh nghiệp không chỉ được tiếp cận với những khách hàng nội địa mà còn được mở rộng quan hệ mua bán hàng hóa ra các thị trường các quốc gia khác, được nhiều bạn hàng quốc tế biết đến. Từ đó, doanh nghiệp xuất khẩu có cơ hội mở rộng trao đổi thương mại với nhiều đối tác nước ngoài hơn. 9 Thứ ba, xuất khẩu là cơ sở thúc đẩy, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Trước sự cạnh tranh gay gắt từ các doanh nghiệp của các quốc gia khác, doanh nghiệp xuất khẩu phải luôn tìm cách hoàn thiện, đổi mới sản phẩm, nâng cao quy trình quản lý, kinh doanh… qua việc áp dụng các trang thiết bị, máy móc, công nghệ hiện đại trong quá trình sản xuất và quản lý.
Từ đó, các sản phẩm được sản xuất có sự hoàn thiện về chất lượng, đa dạng về mẫu mã. Các hoạt động về quản lý, kinh doanh như phân phối, marketing… cũng được hoàn thiện và hiệu quả hơn. Các hình thức xuất khẩu hàng hóa. - Xuất khẩu trực tiếp.
Xuất khẩu trực tiếp là phương thức giao dịch trong đó người bán trực tiếp cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho người mua ở nước ngoài. Đây là hình thức xuất khẩu hàng hoá phổ biến nhất. Với hình thức này, giao dịch giữa người bán và người mua được thực hiện một cách tiện lợi, nhanh chóng do không cần thông qua trung gian. Từ đó, doanh nghiệp giảm được chi phí trung gian, hiệu quả giao dịch cũng được nâng cao do được đàm phán, trao đổi trực tiếp, mối quan hệ đối tác giữa người bán và người mua cũng được mở rộng.
- Giao dịch qua trung gian. Giao dịch qua trung gian là phương thức giao dịch trong đó quá trình trao đổi giữa người bán và người mua (hai bên có trụ sở kinh doanh ở các quốc gia khác nhau) để mua bán, trao đổi hàng hoá và dịch vụ được thực hiện thông qua bên thứ ba (được gọi là trung gian thương mại). Giao dịch qua trung gian có thể được tiến hành thông qua đại lý hoặc môi giới. Khi sử dụng hình thức giao dịch qua trung gian, doanh nghiệp có thể giảm bớt rủi ro trong quá trình trao đổi hàng hoá, dịch vụ, đặc biệt là khi doanh nghiệp thâm nhập vào một thị trường mới.
Tuy nhiên, hình thức này cũng khiến doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào bên trung gian. Buôn bán đối lưu là phương thức giao dịch trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua và hàng hoá trao đổi có giá trị tương đương nhau. Mục đích chính của phương thức này không phải nhằm thu về ngoại tệ mà nhằm 10 thu về một hàng hoá khác có giá trị tương đương. Phương thức buôn bán đối lưu còn được gọi là phương thức xuất khẩu liên kết hoặc phương thức đổi hàng.
Phương thức buôn bán đối lưu thường được tiến hành dựa trên các cơ sở về động cơ tài chính, động cơ tiếp thị và động cơ phát triển. Với động cơ tài chính, buôn bán đối lưu thường được áp dụng trong các trường hợp như một số nước phát triển không có khả năng về tài chính để nhập khẩu hàng hoá hay doanh nghiệp muốn tránh bị động vốn do các biện pháp quản lý ngoại hối của nước nhập khẩu. Với động cơ tiếp thị, các nước đang phát triển thường áp dụng để tăng lượng hàng xuất khẩu với hy vọng tạo ra một số thị trường mới hoặc nhằm tăng thị phần trong điều kiện cạnh tranh gay gắt. Với động cơ phát triển, các nước đang phát triển sử dụng phương thức buôn bán đối lưu nhằm thuyết phục đối tác thương mại nước ngoài hỗ trợ cho các chương trình phát triển công nghiệp.
- Xuất khẩu tại chỗ. Xuất khẩu tại chỗ là hình thức xuất khẩu trong đó hàng hóa do doanh nghiệp Việt Nam sản xuất và cung cấp cho người mua ở nước ngoài theo hợp đồng thương mại, được người mua ở nước ngoài thanh toán nhưng chỉ định giao hàng hóa tại Việt Nam cho doanh nghiệp khác ở Việt Nam. Theo quy định của Việt Nam, hình thức xuất khẩu tại chỗ áp dụng cho một số đối tượng như sản phẩm gia công; máy móc, thiết bị thuê/mượn; nguyên liệu, vật tư dư thừa; phế liệu, phế phẩm thuộc hợp đồng gia công; hàng hoá mua bán giữa doanh nghiệp nội địa với doanh nghiệp chế xuất, doanh nghiệp trong khu thuế quan hoặc hàng hoá mua bán giữa doanh nghiệp Việt Nam với tổ chức, cá nhân nước ngoài không hiện diện tại Việt Nam và hàng hóa được chỉ định giao nhận với doanh nghiệp khác tại Việt Nam. Hình thức xuất khẩu tại chỗ giúp quá trình vận chuyển hàng hoá diễn ra nhanh chóng, tiết kiệm được thời gian và chi phí cho doanh nghiệp.
- Gia công quốc tế: Gia công quốc tế là hoạt động thương mại trong đó bên nhận gia công sử dụng nguyên vật liệu của bên đặt gia công để thực hiện một hoặc một số công đoạn trong quá trình sản xuất theo yêu cầu của bên nhận gia công để hưởng thù lao. 11 Với hình thức gia công quốc tế, thị trường nước ngoài là nơi cung cấp nguyên vật liệu sản xuất sản phẩm, đồng thời, cũng là thị trường tiêu thụ sản phẩm đó. Gia công quốc tế được áp dụng phổ biến trong thương mại quốc tế bởi những ưu điểm của hình thức này. Cụ thể, đối với bên đặt gia công, phương thức gia công quốc tế giúp giảm giá thành sản phẩm do tận dụng được nguồn nhân lực giá rẻ từ các nước nhận gia công.
Đối với bên nhận gia công, phương thức này giúp tăng cơ hội việc làm, tăng thu ngoại tệ, giúp thu hút công nghệ, kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý từ nước ngoài. - Tái xuất Tái xuất là hoạt động xuất khẩu ra nước ngoài những hàng hoá đã nhập khẩu trước đây nhưng chưa qua gia công chế biến ở nước tái xuất. Phương thức tái xuất gồm ba nước: nước xuất khẩu, nước tái xuất và nước nhập khẩu.