Chương 1 NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VE TÁC ĐỘNG CUA TỶ GIÁ HOI ĐOÁI DEN XUAT KHẨU NONG SAN 1. Ty giá hối đoái 1. Tỷ giá hối đoái là gì? Tỷ giá hối đoái được hình thành dựa trên quan hệ cung cầu của mỗi đồng tiền trên thị trường tiền tệ. Mỗi chủ thé khi hoạt động kinh doanh trên thị trường đều có mục dich và khả năng khác nhau.
Giá cả cân bằng hay quan hệ cung - cầu của hai đồng tiền được quyết định bởi khả năng tham gia thị trường của các chủ thé khi hoạt động kinh doanh. Và tùy theo mục đích hoạt động mà tỷ giá hối đoái cũng được định nghĩa theo những cách khác nhau. Tỷ giá hối đoái là quan hệ so sánh về mặt giá trị giữa hai đồng tiền của hai quốc gia. Khi nói ty giá hối đoái giữa đồng Đô-la Mỹ và Yên Nhật là 112,9, ta hiểu rằng quan hệ so sánh về giá trị giữa hai đồng tiền này theo hai cách: 1 Dé-la bằng 112,9 Yên Nhat hay 0,0089 Yên Nhật đổi được 1 Đô-la Mỹ.
Tuy nhiên, cách định nghĩa này không cho thay giá cả tiền tệ được hình thành do quan hệ cung-cầu, đồng thời cũng không thé hiện việc các nhà kinh doanh tiền tệ không được quyền tự do lựa chọn các phương thức kinh doanh. Đây là hai mặt cơ bản thé hiện bản chat của tỷ giá hối đoái. Có nhiều cách định nghĩa tỷ giá hối đoái, nhưng về mặt bản chat, ty giá hối đoái chính là giá cả của một đơn vi tiền tệ nước này được thé hiện bằng một số đơn vị tiền tệ của nước khác. Do đó, tỷ giá hối đoái được định nghĩa là “ giá cả của một đơn vị tiền tệ được thê hiện bằng một số đơn vị tiền tệ khác” hoặc “giá cả mà tại mức giá đó một đơn vi tiền tệ được đổi lây một số đơn vị tiền tệ khác”.
Giả sử khi bạn di du lịch Hàn Quốc, bạn muốn đổi từ tiền Việt Nam để lấy 1.000 Won, số tiền bạn phải bỏ ra là 20. Như vậy, giá 1000 Won Hàn Quốc bằng 20. Định nghĩa tỷ giá hối đoái như trên cho thấy bản chất tỷ giá là giá cả của một đơn vị tiền tệ, nó gắn với quan hệ cung-cầu về đồng tiền đó trên thị trường nên tỷ giá sẽ thay đổi nếu cung-cầu thay đôi. Mục đích cuối cùng khi hoạt động kinh doanh của bất kì 1 tổ 3 chức hay công ty nào đều là tối đa hóa lợi nhuận, bởi vậy ưu điểm mà các nhà kinh doanh, các tổ chức tài chính có thé khai thác từ định nghĩa trên là thiết kế cho công ty mình những phương án hoạt động kinh doanh dựa trên sự tính toán, dự báo giá cả tiền tệ, nhằm thu được lợi nhuận tốt nhất.
Việc tính toán, dự báo tỷ giá trên thị trường sẽ phụ thuộc vào các nhân tố tác động đến cung-cầu của tiền tệ cả về mặt trực tiếp và mặt gián tiếp. Luật Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam (2010) định nghĩa: “Tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam giá của một don vi tiền tệ nước ngoài tính băng đơn vị tiền tệ của Việt Nam. Tỷ giá này được hình thành trên cơ sở cung-cầu ngoại tệ trên thị trường có sự điều tiết của Nhà Nước và do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xác định và công bố. Bảng tỷ giá giao dịch được công bố theo ngày trên cơ sở tỷ giá của thị trường liên ngân hàng và các ngân hàng thương mại được quyền giao dịch trên cơ sở tỷ giá công bố và biên độ dao động do ngân hàng nhà nước qui định”.
Phương pháp xác định tỷ giá hỗi đoái. Từ khái niệm tỷ giá hối đoái , tùy thuộc vào mục đích kinh doanh và sự phát triển của thị trường tiền tệ và thị trường hàng hóa, dịch vụ thế giới mà phương pháp xác định tỷ giá hối đoái khác nhau. Phương pháp ngang giá vàng Trước năm 1973, cơ sở để so sánh hai đồng tiền với nhau là hàm lượng vàng mà đồng tiền đó có thê quy đổi, phương pháp đó gọi là ngang giá vàng. Sau Chiến tranh Thế giới lần thứ 2, để 6n định cho sự phát triển thương mại quốc tế, các nước trong hệ thống tư bản chủ nghĩa đã thiết lập chế độ tiền tệ thanh toán chung cho quốc tế dựa trên Hiệp ước Bredtton Woods vào tháng 7/1944.
Nội dung cơ bản của Hiệp ước này là công nhận Đô-la Mỹ (USD) là phương tiện dự trữ và thanh toán quốc tế và có thê đổi ra vàng không hạn chế với tỷ giá 35 Đô-la một Ounce (31,010gram). Ty giá giữa đồng tiền các nước thành viên được hình thành trên cơ sở so sánh đồng giá vàng giữa tiền các nước và chỉ được phép dao động trong biên độ 1% như đã được cam kết với Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF). Nếu vượt quá biên độ này thì Ngân hàng Trung Ương các nước phải can thiệp vào thị trường tiền tệ bằng cách mua vào hoặc bán ra một lượng USD nhất định đề ồn định lại 4 tỷ giá. Như vậy, Hiệp ước Bredtton Woods là thỏa thuận hướng tới xác lập một chế độ tỷ giá cô định.
Trong chế độ này, vàng vẫn đóng vai trò trung tâm dé so sánh sức mua giữa các đồng tiền với nhau thông qua chiếc cầu nối là đồng USD, cho nên người ta còn gọi đây là chế độ tỷ giá ngoại hối vàng (tức là bản vị vàng-ngoại tệ). Tién tệ Trong điều kiện nền kinh tế thế giới với hoạt động kinh doanh thương mại quốc tế hàng hóa, dịch vụ phát triển cao, tiền tệ được xem là phương tiện thanh toán giữa các quốc gia, ty giá hối đoái được xác định trên cơ sở so sánh sức mua của cả hai đồng tiền hay trên cơ sở cân bằng sức mua (Purchasing Power Parity). Chang hạn, 1 chiếc điện thoại mua bằng Đô-la Mỹ với giá là 100USD, mua bằng đồng EURO có giá trị là 87,94 EUR, trên cơ sở cân bằng sức mua, tỷ giá hồi đoái giữa hai đồng tiền là: 1 USD = 0.8794 EUR Các nhà kinh doanh xuất nhập khâu sử dung ty giá hối đoái tinh theo cân bang sức mua để so sánh giá cả hàng hóa, dịch vụ, xây dựng các phương án kinh doanh xuất nhập khẩu, tính hiệu quả kinh doanh xuất nhập khẩu và thực hiện các nghiệp vụ hải quan. Tỷ giá trên cơ sở cân bang sức mua cũng cho thấy sức mua của các đồng tiền, tạo cơ sở dé so sánh sức mua của các khoản thu nhập.
Tỷ giá này không sử dụng cho các nghiệp vụ kinh doanh thị trường, tín dụng và thanh toán quốc tế. Hiện nay, thị trường tiền tệ hoạt động ở trình độ cao, kinh doanh tiền tệ với các phương thức đa dạng, khối lượng tiền tệ mua bán cao hơn nhiều lần khối lượng hàng hóa, dịch vụ. Trong điều kiện thanh toán, lưu giữ giá trị, thực hiện tín dụng mà là hàng hóa được mua bán trên thị trường. Vì vậy, tỷ giá hối đoái phản ánh quan hệ cung cầu tiền tệ, được hình thành trên thị trường tiền tệ, không tùy thuộc vào việc mua bán đồng tiền đó cho mục đích gì.
Ty giá hối đoái do các nhân tổ thị trường quyết định nên không phải là tỷ giá tính toán, không thể quy định được mà chỉ can thiệp thông qua tác động vào các nhân tổ thị trường. Một khi tỷ giá đã được hình thành và biến động theo quan hệ cung cầu trên thị trường, các hoạt động đầu cơ, mua bán ngoại tệ, tín dụng và thanh toán thương mại quốc tế đều lấy tỷ giá thị trường làm cơ sở. Các loại tỷ giá hối đoái. Tỷ giá hối đoái gồm nhiều loại khác nhau dựa trên các cách chia khác nhau, có thể dựa trên đối tượng xác định, dựa vào ky hạn, giá trị hay phương thức, thời diém.
s Dựa trên đối tượng xác định tỷ giá - Ty giá chính thức là tỷ giá do Ngân hàng Trung Ương của nước đó xác định. Trên cơ sở của tỷ giá này các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng sẽ ấn định tỷ giá mua bán ngoại tệ giao ngay, có kỳ hạn, hoán đổi. - Ty giá thị trường là tỷ giá được hình thành trên có sở quan hệ cung cầu trên thị trường hối đoái. s» Dựa trên ky hạn thanh toán - Ty giá giao ngay (SPOT) là tỷ giá do tổ chức tin dụng yết giá tại thời điểm giao dịch hoặc do hai bên thỏa thuận nhưng phải đảm bảo trong biểu độ do Ngân hàng Nhà Nước quy định.
Việc thanh toán giữa các bên phải được thực hiện trong vòng hai ngày làm việc tiép theo, sau ngày cam kêt mua hoặc bán. - Ty giá giao dịch kỳ han (FORWARDS) là ty giá giao dich do tổ chức tin dung tự tính toán và thỏa thuận với nhau nhưng phải đảm bảo trong biên độ qui định về tỷ giá kỳ hạn hiện hành của Ngân hàng Nhà Nước tại thời điểm ký hợp đồng. s Căn cu vào giá trị của tỷ giá - Ty giá hồi đoái danh nghĩa là tỷ giá của một loại tiền tệ được biểu hiện theo giá hiện tại, không tính đến bất kỳ ảnh hưởng nào của lạm phát. - Ty giá hồi dodi thực là tỷ giá có tính đến tác động của lạm phát và sức mua trong một cặp tiền tệ phản ánh giá cả hàng hóa tương quan có thể bán ra nước ngoài và hàng tiêu thụ trong nước.
Tỷ giá này đại diện cho khả năng cạnh tranh quốc tế của nước đó. s Căn cứ vào phương thức chuyên ngoại hồi - Ty giá điện hồi là ty giá thường được niêm yết tại ngân hang. Đó là tỷ giá chuyền ngoại hối bang điện. Ty giá điện hối là tỷ giá cơ sở để xác định các loại tỷ giá khác.
- Ty giá thư hoi, tức là tỷ giá chuyển ngoại hồi bang thư. Ty giá điện hối thường cao hơn tỷ giá thư hồi. & Căn cứ vào thời điểm mua/bán ngoại hồi - Ty giá mua là tỷ giá của ngân hàng mua ngoại hối vào. - Ty giá bán là tỷ giá của ngân hàng bán ngoại hối ra.
Tỷ giá mua bao giờ cũng thấp hơn tỷ giá bán và khoản chênh lệch đó là lợi nhuận kinh doanh ngoại hối của ngân hàng. Thông thường thì ngân hàng không công bé tất cả tỷ giá của các hợp đồng đã ký kết trong một ngày mà chỉ công bố tỷ giá của hợp đồng ký kết cuối cùng trong ngày đó, người ta gọi đó là tỷ giá đóng cửa. Tỷ giá đóng cửa được coi là chỉ tiêu chủ yếu về tình hình biến động của tỷ giá trong ngày hôm đó. Ty giá được công bố vào dau giờ của đầu ngày giao dịch được gọi là tỷ giá mở cửa.