Chương I đến XXIV (trừ cá và sản phẩm cá) và một số sản phẩm thuộc các chương khác trong Hệ thống thuế mã HS (Hệ thống hài hoà hoá mã số thuế). Với cách hiểu này, nông sản bao gồm một phạm vi khá rộng các loại hàng hoá có nguồn gốc từ hoạt động nông nghiệp như: - Các sản phẩm nông nghiệp cơ bản như lúa gạo, lúa mỳ, bột mỳ, sữa, động vật sống, cà phê, hồ tiêu, hạt điều, chè, rau quả tươi…; - Các sản phẩm phái sinh như bánh mì, bơ, dầu ăn, thịt…; - Các sản phẩm được chế biến từ sản phẩm nông nghiệp như bánh kẹo, sản phẩm từ sữa, xúc xích, nước ngọt, rượu, bia, thuốc lá, bông xơ, da động vật thô… Tất cả các sản phẩm còn lại trong Hệ thống thuế mã HS được xem là sản phẩm phi nông nghiệp (còn được gọi là sản phẩm công nghiệp). * Theo quan điểm của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) Trong Section2: Description and Definitions ấn phẩm Codex Alimentarius – Organically Produced Foods (2002) của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) đề cập: “agricultural product/product of agricultural origin means any product or commodity, raw or processed, that is marketed for human consumption 7 (excluding water, salt and additives) or animal feed”. Theo định nghĩa trên, hàng nông sản/sản phẩm có nguồn gốc nông nghiệp là bất kỳ sản phẩm hoặc hàng hóa nào, dù là thô hay đã chế biến, được trao đổi trên thị trường cho mục đích tiêu dùng của con người (không gồm nước, muối và các chất phụ gia) hay thức ăn cho động vật.
* Theo quan điểm của Việt Nam Theo Khoản 7 Điều 3 Nghị định 57/2018/NĐ-CP, nông sản được quy định là sản phẩm của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, diêm nghiệp (nghề làm muối). Cụ thể: - Nông sản ngành nông nghiệp: lúa gạo, ngô, khoai, sắn, cà phê, hồ tiêu, thịt lợn, thịt và trứng gia cầm… - Nông sản ngành lâm nghiệp: gỗ khai thác, củi, tre, nhựa thông, trám, đước… - Nông sản ngành thủy sản: tôm, cá, cá biển, hàu, trai, tép… - Nông sản ngành diêm nghiệp: sản xuất muối. Từ các quan điểm trên ta có thể thấy rằng quan điểm về nông sản của WTO có nhiều điểm tương đồng với quan điểm của FAO. Trong khi đó, theo sự phân chia có tính chất tương đối của Việt Nam, nông sản thường được hiểu theo nghĩa rộng hơn là bao gồm các sản phẩm của ngành nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi), thuỷ sản, lâm nghiệp và diêm nghiệp.
Các ngành công nghiệp chế biến nông lâm thuỷ sản lại được gộp vào lĩnh vực công nghiệp. Như vậy, tổng hợp từ cách tiếp cận các nghiên cứu trên, bài viết sẽ sử dụng khái niệm: “Nông sản là những sản phẩm của hoạt động sản xuất nông nghiệp, bao gồm thành phẩm hoặc bán thành phẩm thu được từ cây trồng, vật nuôi hoặc sự phát triển của cây trồng, vật nuôi, bao gồm cả sản phẩm của ngành lâm nghiệp và ngư nghiệp”. Do đây là một khái niệm rộng và tương đối phức tạp nên để phù hợp với nội dung nghiên cứu, bài khóa luận sẽ tập trung nghiên cứu một số mặt hàng nông sản cụ thể thuộc nhóm cây trồng và thủy sản khi tìm hiểu về thực trạng xuất khẩu nông sản Việt Nam sang Bắc Phi 8 còn đối với nội dung khái quát chung về nông sản thì sẽ sử dụng theo khái niệm nông sản đã trình bày ở trên. Đặc điểm của hàng nông sản Theo khái niệm đã nêu ở trên, nông sản là sản phẩm của ngành nông nghiệp mà bản chất là kết quả của quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng, vật nuôi.
Chính vì thế, nông sản mang một số đặc điểm của hoạt động sản xuất nông nghiệp. Tính thời vụ Các loại cây trồng sinh trưởng và phát triển theo quy luật sinh vật nhất định đồng thời sự biến thiên của điều kiện thời tiết - khí hậu làm cho mỗi loại cây trồng có sự thích ứng riêng, điều này đã tạo nên những mùa vụ khác nhau trong sản xuất. Vào chính vụ, nông sản thường dồi dào, đa dạng về chủng loại, chất lượng khá đồng đều và giá bán rẻ và ngược lại khi trái vụ thì nông sản trở nên khan hiếm, chất lượng không đồng đều và giá bán thường cao. Phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên Các nhân tố ngoại cảnh như điều kiện đất đai, khí hậu, thời tiết có tác động lớn và trực tiếp tới sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng.
Đa phần các nông sản đều rất nhạy cảm với các nhân tố ngoại cảnh. Do vậy, mọi sự thay đổi về điều kiện tự nhiên đều tác động trực tiếp đến sự sinh trƣởng và phát triển của cây trồng. Nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi thì sản lượng nông sản thu được thường cao, chất lượng tốt. Trái lại, nếu điều kiện tự nhiên không thuận lợi: khô hạn, bão lũ… sẽ gây sụt giảm về năng suất và sản lượng cây trồng.
Tính tươi sống Nông sản có tính tươi sống nên khó bảo quản được thời gian dài, chỉ cần để một thời gian ngắn trong môi trường không đảm về về điều kiện bảo quản thì nông sản sẽ dễ hư hỏng, ẩm mốc, biến chất, giảm chất lượng. Do đó cần quan tâm đến khâu chế biến và bảo quản cho tốt đặc biệt là nông sản đem xuất khẩu. 9 Nông sản ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe người tiêu dùng Nông sản có tính tươi sống nên nếu không được bảo quản, chế biến cẩn thận có thể khiến sản phẩm bị biến đổi chất gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe người tiêu dùng. Ngoài ra, hiện nay cũng tồn tại nhiều mặt hàng nông sản biến đổi gen gây hại cho sức khỏe người dùng vẫn đang được mua bán qua lại giữa các nước.
Chính vì thế, đối với hoạt động nhập khẩu, ngày càng có nhiều yêu cầu khắt khe được đặt ra về chất lượng, vệ sinh ATTP, kiểm dịch, truy xuất nguồn gốc xuất xứ…của loại hàng hóa này. Tính đa dạng về chủng loại và chất lượng Nông sản được sản xuất từ nhiều nơi khác nhau trên thế giới với các nhân tố về điều kiện tự nhiên, khí hậu cũng như phương pháp sản xuất khác nhau, giống nông sản cũng khác nhau cho nên chủng loại nông sản cũng khác nhau. Khái quát từ những đặc điểm chung của nông sản cho thấy, mỗi quốc gia, mỗi khu vực sẽ có những thuận lợi riêng để phát triển một số loại nông sản nhất định cũng như bất lợi trong sản xuất một số loại nông sản khác. Vì vậy, mỗi quốc gia cần có những chính sách và chiến lược phù hợp nhằm tạo cho mình lợi thế cạnh tranh trong quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ.
Các hình thức xuất khẩu nông sản Hoạt động xuất khẩu nông sản có thể được diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau. Lựa chọn loại hình nào để xuất khẩu phụ thuộc vào nhu cầu cũng như điều kiện của từng quốc gia, từng tổ chức. Cụ thể, một số loại hình xuất khẩu phổ biến hiện nay bao gồm: Xuất khẩu trực tiếp Trong loại hình xuất khẩu trực tiếp này, bên nhập khẩu và bên xuất khẩu sẽ trực tiếp (bằng gặp mặt, qua thư từ, điện tín) thỏa thuận các điều khoản trong hợp đồng và tiến hành ký kết hợp đồng ngoại thương với nhau. Ưu điểm của hình thức này là lợi nhuận thu được cao hơn các hình thức khác do không phải qua khâu trung gian đồng thời phát huy tính độc lập, tính chủ động trong việc mua 10 bán.
Hai bên trực tiếp đàm phán, dễ đi đến thống nhất và tránh được những hiểu nhầm không đáng có, tạo điều kiện thiết lập và mở rộng mối quan hệ với các bạn hàng, đối tác ở thị trường nước ngoài. Tuy nhiên, hình thức này đòi hỏi người bán cần có sự nhanh nhạy về thông tin (thị trường, giá cả, hàng rào phi thuế quan…) đồng thời trong quá trình bán hàng cần tính toán đến khối lượng, giá trị của hợp đồng phải đủ lớn để bù đắp các chi phí giao dịch như nghiên cứu tiếp thị, đi lại. Xuất khẩu qua trung gian Là hình thức mua bán nông sản trên phạm vi quốc tế được thực hiện nhờ sự giúp đỡ của nhân tố trung gian thứ ba và nhân tố này sẽ được hưởng một khoản tiền phí nhất định từ hoạt động mua bán trên. Nhân tố trung gian phổ biến trong các giao dịch quốc tế là đại lý và môi giới.
Nhược điểm của hình thức này sẽ làm giảm lợi nhuận của người bán do phải trả cho nhân tố trung gian một khoản phí. Tuy nhiên, đây là hình thức được sử dụng khá phổ hiện nay tại nhiều quốc gia đặc biệt là những nước kém và đang phát triển vì các nhân tố trung gian thường hiểu biết rõ hơn về thị trường (nhu cầu, thị hiếu, đặc điểm…) đặc biệt là khi mua bán với những thị trường mới nên cơ hội thu được lợi nhuận cao sẽ nhiều hơn. Đồng thời các bên tham gia giao dịch có thể tận dụng các mối quan hệ của bên trung gian: ngân hàng, công ty bảo hiểm, kho bãi… Hình thức tái xuất khẩu Đây là hình thức thực hiện xuất khẩu trở lại sang các nước mua khác những nông sản đã mua mà chưa qua chế biến ở nước tái xuất. Mục đích của thực hiện giao dịch tái xuất khẩu là mua nông sản ở nước này rồi bán với giá cao hơn ở nước khác và thu về số tiền lớn hơn số vốn đã bỏ ra ban đầu.
Hoạt động tái xuất khẩu có thể chia làm hai hình thức: hình thức tạm nhập - tái xuất và hình thức chuyển khẩu, trong đó: 11 Hình thức tạm nhập - tái xuất được hiểu là việc thương nhân của nước A mua nông sản của nước B để bán cho nước C trên cơ sở hợp đồng mua bán ngoại thương và có làm thủ tục nhập khẩu hàng hóa vào nước A. Sau đó, chính hàng hóa này lại được làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi nước A mà không qua gia công chế biến. Hình thức này có ưu điểm là thu lợi nhuận cao trong khi không cần bỏ chi phí đầu tư (máy móc, thiết bị) mà khả năng thu hồi vốn nhanh. Tuy nhiên, trong điều kiện thương mại quốc tế phát triển mạnh mẽ thì hình thức này cũng chỉ phù hợp với một số mặt hàng nhất định.
Hình thức chuyển khẩu được chia thành hai loại. Một là, nông sản sau khi nhập cảnh được cơ quan hải quan cho vận chuyển đến một địa điểm hải quan khác để làm thủ tục hải quan nhập khẩu. Hai là, nông sản ở nơi vận chuyển ban đầu đã làm thủ tục hải quan xuất nhập khẩu vận chuyển đến một nơi xuất cảnh, do hải quan nơi xuất cảnh giám sát quản lý cho qua.