lời mở đầu, lời cảm ơn, danh mục từ viết tắt, danh mục bảng biểu, số liệu, phần kết luận và tài liệu tham khảo thì kết cấu khóa luận gồm có 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan của vấn đề nghiên cứu. Chƣơng 2: Cơ sở lý luận về xuất khẩu, thúc đẩy xuất khẩu, các nhân tố ảnh hƣởng đến thúc đẩy xuất khẩu của doanh nghiệp. 7 Chƣơng 3: Phân tích thực trạng thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng tóc giả của Công ty TNHH XNK Thanh An sang thị trƣờng Châu Phi. Chƣơng 4: Định hƣớng phát triển và đề xuất các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng tóc giả của Công ty TNHH XNK Thanh An sang thị trƣờng Châu Phi.
8 CHƢƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở lý luận về xuất khẩu 2. Khái niệm về xuất khẩu Theo chúng ta hiểu nôm na thì xuất khẩu là hoạt động xuất bản hàng hóa ra nƣớc ngoài, bán hàng hóa, dịch vụ của quốc gia này sang đến quốc gia khác, vậy thực chất xuất khẩu là gì? Sau đây có một số quan điểm về xuất khẩu nhƣ sau: Theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Luật Thƣơng mại thì: “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa đƣợc đƣa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đƣa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam đƣợc coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.” Theo Thƣ viện Học liệu Mở Việt Nam (VOER), xuất khẩu là một hoạt động cơ bản của hoạt động ngoại thƣơng, nó đã xuất hiện từ lâu đời và ngày càng phát triển. Từ hình thức cơ bản đầu tiên là trao đổi hàng hóa giữa các nƣớc, cho đến nay nó đã rất phát triển và đƣợc thể hiện thông qua nhiều hình thức.
Hoạt động xuất khẩu ngày nay diễn ra trên phạm vi toàn cầu, trong tất cả các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế, không chỉ là hàng hóa hữu hình mà cả hàng hoá vô hình với tỷ trọng ngày càng lớn. Trong giáo trình Kinh tế ngoại thƣơng, tác giả Bùi Xuân Lƣu (2007) định nghĩa “xuất khẩu là việc bán hàng hóa, dịch vụ cho nƣớc ngoài”. Trong giáo trình Thƣơng mại quốc tế, Feenstra and Taylor (2010) đƣa ra một định nghĩa khác về xuất khẩu của đó là “Các quốc gia mua và bán hàng hóa, dịch vụ từ nhau. Xuất khẩu là sản phẩm đƣợc bán từ nƣớc này sang nƣớc khác”.
Ở đây, xuất khẩu đƣợc hiểu là hoạt động trao đổi hàng hoá và dịch vụ của một quốc gia với phần còn lại của thế giới thông qua mua bán nhằm khai thác triệt để lợi thế của quốc gia trong phân công lao động quốc tế. Nhƣ vậy có thể hiểu rằng, xuất khẩu là hoạt động bán hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia ra nước ngoài, nhằm khai thác lợi thế trong phân công lao động quốc tế và thúc đẩy thương mại toàn cầu. Đặc điểm của xuất khẩu Thứ nhất, xuất khẩu là hoạt động diễn ra cần có hai hay nhiều bên tham gia, thuộc địa phận quốc gia khác nhau. Chính vì vậy, khi thực hiện các hoạt động xuất 9 khẩu, các bên tham gia có thể gặp những trở ngại về sự khác biệt giữa nền kinh tế, ngôn ngữ, chính trị, tôn giáo.
Đây là những trở ngại lớn mà bên xuất khẩu hàng hóa cần tìm hiểu để có thể xuất khẩu sản phẩm của mình Thứ hai, hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện của nền kinh tế, từ xuất khẩu hàng tiêu dùng cho đến tƣ liệu sản xuất, máy móc hàng hóa thiết bị công nghệ cao. Tất cả các hoạt động này đều nhằm mục đích đem lại lợi ích cho quốc gia nói chung và doanh nghiệp tham gia nói riêng. Thứ ba, hoạt động xuất khẩu diễn ra rất rộng về không gian và thời gian. Nó có thể diễn ra trong thời gian rất ngắn song cũng có thể kéo dài hàng năm, có thể đƣợc diễn ra trên phạm vi một quốc gia hay nhiều quốc gia khác nhau.
Thứ tư, hoạt động xuất khẩu mang lại nhiều lợi ích cho quốc gia. Nó không chỉ đem lại lợi ích cho doanh nghiệp mà còn góp phần thúc đẩy mạnh sản xuất trong nƣớc nhờ tích lũy từ khoản thu ngoại tệ cho đất nƣớc. Kinh doanh xuất nhập khẩu còn là phƣơng tiện để khai thác các lợi thế về tự nhiên, vị trí địa lý, nhân lực. Thứ năm, nghiệp vụ trong hoạt động xuất khẩu chứa rất nhiều rủi ro nhƣ hoạt động thanh toán quốc tế, thuê phƣơng tiện vận tải, đàm phán ký kết hợp đồng.
những tranh chấp thƣơng mại. Do mang nhiều rủi ro khi thực hiện hoạt động xuất khẩu, hai bên tham gia cần thực hiện đúng các điều khoản trong hợp đồng, mua bảo hiểm hàng hóa và bổ sung các điều khoản về giải quyết tranh chấp. Vai trò của xuất khẩu 2. Vai trò của xuất khẩu đối với nền kinh tế quốc gia Thứ nhất, xuất khẩu tạo nguồn vốn ngoại tệ quan trọng để đảm bảo nhu cầu nhập khẩu, cải thiện cán cân thanh toán.
Xuất khẩu và nhập khẩu trong thƣơng mại quốc tế vừa là điều kiện vừa là tiền đề của nhau, xuất khẩu để nhập khẩu, nhập khẩu để đẩy mạnh xuất khẩu. Muốn nhƣ vậy ta phải có số vốn rất lớn để nhập khẩu các máy móc, trang thiết bị, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến. Nguồn vốn để nhập khẩu có thể đƣợc hình thành từ các nguồn nhƣ: xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ, vay nợ, viện trợ, đầu tƣ nƣớc ngoài, thu từ hoạt động du lịch, dịch vụ, ngân hàng.Tầm quan trọng của vốn đầu tƣ nƣớc ngoài thì không ai có thể phủ nhận đƣợc, song việc huy động chúng không phải dễ dàng. Có thể thấy rằng, nguồn vốn quan trọng nhất để nhập khẩu của đất nƣớc chính là xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ.
Xuất khẩu quyết định 10 quy mô và tốc độ tăng trƣởng của nhập khẩu, đồng thời cũng bảo đảm trả đƣợc các khoản đi vay, viện trợ,.trong tƣơng lai. Thứ hai, xuất khẩu thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển tận dụng hiệu quả, phát huy tối đa nguồn lực và các lợi thế sẵn có của quốc gia nhƣ nguồn lao động, tài nguyên thiên nhiên. Nhờ có sự phân công lao động và chuyên môn hóa sản xuất trong các khối liên minh kinh tế mà mỗi quốc gia đã sử dụng một cách có hiệu quả các nguồn lực của minh. Thứ ba, xuất khẩu góp phần làm chuyển dịch cơ cấu sản xuất, định hƣớng sản xuất, thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế.
Dƣới tác động của xuất khẩu, cơ cấu sản xuất và tiêu dùng của thế giới đã và đang thay đổi mạnh mẽ. Xuất khẩu làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia từ nông nghiệp chuyển sang công nghiệp và dịch vụ. Thứ tư, xuất khẩu giúp giải quyết công ăn việc làm cho ngƣời lao động, cải thiện đời sống ngƣời dân. Trƣớc hết sản xuất hàng xuất khẩu là nơi thu hút hàng triệu ngƣời lao động và tạo ra thu nhập không thấp Hoạt động thƣơng mại nói chung và xuất khẩu nói riêng phát triển kéo theo hàng triệu ngƣời tham gia lao động vào lĩnh vực này và dần dần nâng cao mức sống của ngƣời dân.
Xuất khẩu phát triển thúc đẩy quá trình liên doanh liên kết, hàng loạt các ngành nghề mới ra đời đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của ngƣời tiêu dùng. Thứ năm, xuất khẩu giúp tiếp cận đƣợc các hình thức kinh doanh mới, kế thừa, phát huy công nghệ hiện đại tiên tiến trên thế giới trong bối cảnh toàn cầu hóa. Thứ sáu, xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy sự phát triển các mối quan hệ kinh tế đối ngoại. Xuất khẩu và các mối quan hệ kinh tế đối ngoại có tác động qua lại, phụ thuộc lẫn nhau.
Hoạt động xuất khẩu là cơ sở tiền đề vững chắc để xây dựng các mối quan hệ kinh tế đối ngoại sau này, từ đó kéo theo các mối quan hệ khác phát triển nhƣ du lịch quốc tế, bảo hiểm quốc tế, tín dụng quốc tế 2. Vai trò của xuất khẩu đối với doanh nghiệp Thứ nhất, xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nƣớc tham gia vào các cuộc cạnh tranh khốc liệt trên thị trƣờng thế giới về giá cả, chất lƣợng. Do đó, các doanh nghiệp cần học hỏi các kinh nghiệm kinh doanh của các đối tác, các doanh nghiệp ở các quốc gia phát triển cũng nhƣ cơ hội để thay đổi một cơ cấu sản 11 xuất phù hợp hơn với thị trƣởng nhằm đáp ứng với xu thế toàn cầu hóa trong bối cảnh gia tăng cạnh tranh toàn cầu. Thứ hai, xuất khẩu tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng thị trƣờng, mở rộng quan hệ kinh doanh với các bạn hàng cả trong và ngoài nƣớc, trên cơ sở cả hai bên đều có lợi.
Vì vậy đã giúp doanh nghiệp tăng đƣợc doanh số và lợi nhuận, đồng thời chia sẻ đƣợc rủi ro mất mát trong hoạt động kinh doanh, tăng cƣờng uy tin kinh doanh của công ty. Thứ ba, xuất khẩu khuyến khích phát triển các mạng lƣới kinh doanh của doanh nghiệp, chẳng hạn nhƣ hoạt động đầu tƣ, nghiên cứu và phát triển, các hoạt động sản xuất, Marketing cũng nhƣ sự phân phối và mở rộng kinh doanh. Các hình thức xuất khẩu chủ yếu Hoạt động xuất khẩu đƣợc thực hiện dƣới nhiều hình thức khác nhau nhƣng những hình thức chủ yếu đƣợc các doanh nghiệp lựa chọn sau: a. Xuất khẩu trực tiếp: • Khái niệm: Xuất khẩu trực tiếp là một hình thức xuất khẩu mà trong đó các nhà sản xuất, các công ty xí nghiệp và các nhà xuất khẩu, trực tiếp ký kết hợp đồng mua bán trao đổi hàng hóa với các đối tác nƣớc ngoài.
• Ưu điểm: Việc trực tiếp tiếp xúc với thị trƣờng nƣớc ngoài của doanh nghiệp sẽ giúp nắm bắt đƣợc diễn biến tình hình thị trƣờng từ đó có những chiến lƣợc thích hợp với từng thị trƣờng cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh. Đồng thời nó sẽ giảm bớt chi phi trung gian nhằm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. • Nhược điểm: Nếu xuất khẩu theo hình thức xuất khẩu trực tiếp, doanh nghiệp cần có một nguồn tài chính dồi dào để tự nghiên cứu mở rộng thị trƣờng và đối phó với những bất trắc xảy ra trong quá trình xuất khẩu hàng hóa của mình. Đối với thị trƣởng mới chƣa từng giao dịch thƣờng gặp nhiều bỡ ngỡ, dễ gặp sai lầm, bị ép giá trong mua bán.
Đòi hỏi cán bộ công nhân viên làm công tác kinh doanh xuất khẩu phải có năng lực, hiểu biết về nghiệp vụ ngoại thƣơng, ngoại ngữ, văn hóa của thị trƣởng nƣớc ngoài, cũng nhƣ phải dày dặn kinh nghiệm.