Tổng quan nghiên cứu

Các bệnh lý cơ xương khớp hiện nay là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây suy giảm khả năng vận động và tạo áp lực kinh tế nặng nề lên hệ thống an sinh xã hội tại Việt Nam. Theo thống kê y tế, các bệnh lý này xuất hiện ở mọi lứa tuổi và có xu hướng gia tăng nhanh chóng cùng với tốc độ già hóa dân số. Tại Bệnh viện Y Dược cổ truyền và Phục hồi chức năng tỉnh Phú Thọ, cơ sở y tế chuyên khoa hạng II với quy mô 400 giường bệnh và 207 cán bộ nhân viên y tế, nhóm bệnh cơ xương khớp luôn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu bệnh tật. Chỉ trong đợt khảo sát, bệnh viện đã tiếp nhận 620 lượt người bệnh điều trị nội trú, trong đó có tới 78,1% (484 lượt) phải chỉ định các thuốc giảm đau, chống viêm để kiểm soát triệu chứng.

Tuy nhiên, việc sử dụng các thuốc chống viêm không steroid (NSAID) và glucocorticoid thường đi kèm với nhiều biến cố bất lợi nghiêm trọng trên hệ tiêu hóa, tim mạch và chức năng thận. Tình trạng này càng trở nên phức tạp ở người cao tuổi có nhiều bệnh lý mạn tính mắc kèm. Xuất phát từ thực tế đó, luận văn Dược sĩ Chuyên khoa cấp I của tác giả Cao Thị Kim Hòa, thuộc chuyên ngành Dược lý và Dược lâm sàng tại Trường Đại học Dược Hà Nội, được triển khai từ tháng 6 năm 2021 đến tháng 3 năm 2022. Đề tài tập trung vào hai mục tiêu then chốt: khảo sát đặc điểm lâm sàng của 170 người bệnh nội trú và phân tích tính phù hợp trong chỉ định thuốc cũng như đánh giá hiệu quả giảm đau thực tế. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở dữ liệu xác đáng giúp tối ưu hóa việc kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền, nâng cao chỉ số an toàn dùng thuốc và cải thiện chất lượng sống cho người bệnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng dược lý học lâm sàng và cơ chế sinh lý bệnh học của phản ứng viêm cơ xương khớp. Hai lý thuyết dược lý nòng cốt được vận dụng là cơ chế ức chế chọn lọc hoặc không chọn lọc enzym cyclooxygenase (COX-1 và COX-2) của nhóm NSAID và cơ chế ức chế phospholipase A2 thông qua kích thích tổng hợp lipocortin của nhóm glucocorticoid. Khái niệm enzym COX-1 gắn liền với việc duy trì các prostaglandin sinh lý giúp bảo vệ niêm mạc dạ dày và điều hòa lưu lượng máu đến thận. Ngược lại, enzym COX-2 chủ yếu xuất hiện tại các tổ chức tổn thương để tạo ra các chất trung gian hóa học gây viêm và cảm giác đau.

Bên cạnh đó, đề tài áp dụng mô hình phân bậc giảm đau của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) gồm ba bậc điều trị từ thuốc giảm đau ngoại vi đơn thuần như paracetamol đến các thuốc phối hợp giảm đau trung ương. Để lượng hóa độ an toàn, nghiên cứu vận dụng khung hướng dẫn của Hội Tiêu hóa Hoa Kỳ về phân tầng nguy cơ loét đường tiêu hóa thành ba cấp độ gồm thấp, trung bình và cao dựa trên các yếu tố nguy cơ như tuổi trên 65, tiền sử viêm loét dạ dày, liều dùng NSAID và việc phối hợp với thuốc chống đông hoặc corticosteroid. Khái niệm thang đo mức độ đau Brief Pain Inventory (BPI) dạng rút gọn cũng được tích hợp để đo lường điểm số cường độ đau từ 0 đến 10 và mức độ ảnh hưởng của cơn đau đến sinh hoạt hàng ngày.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả tiến cứu, được thực hiện tại Bệnh viện Y Dược cổ truyền và Phục hồi chức năng tỉnh Phú Thọ trong khung thời gian từ tháng 6 năm 2021 đến tháng 3 năm 2022. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm toàn bộ 170 bệnh nhân mắc bệnh cơ xương khớp điều trị nội trú từ ngày 25 tháng 8 đến ngày 30 tháng 10 năm 2021 thỏa mãn tiêu chuẩn: có chỉ định dùng thuốc giảm đau chống viêm từ 3 ngày trở lên và đồng ý tham gia khảo sát. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ trong giai đoạn nghiên cứu giúp loại bỏ sai số lựa chọn và phản ánh chân thực mô hình sử dụng thuốc tại bệnh viện.

Dữ liệu được thu thập đa nguồn thông qua hồ sơ bệnh án điện tử, phiếu công khai thuốc hàng ngày và phỏng vấn trực tiếp người bệnh tại 3 thời điểm: khi mới nhập viện, sau 3 đến 5 ngày điều trị và trước khi xuất viện. Toàn bộ dữ liệu lâm sàng và chỉ số dùng thuốc được nhập liệu, xử lý và phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0 và Microsoft Excel. Việc lựa chọn phương pháp phân tích thống kê y học mô tả và so sánh tỷ lệ phần trăm cho phép đánh giá chính xác mức độ phù hợp về liều lượng theo Dược thư Quốc gia Việt Nam năm 2018, đồng thời kiểm chứng mức độ thuyên giảm đau qua các mốc thời gian điều trị.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về đặc điểm người bệnh và mô hình bệnh tật: Trong 170 bệnh nhân tham gia nghiên cứu, nhóm tuổi từ 50 trở lên chiếm đa số với tỷ lệ 78,2% (133 người), trong đó độ tuổi 50 đến 60 chiếm tỷ lệ cao nhất là 32,3%, còn tỷ lệ nam giới chiếm 56,5% cao hơn so với nữ giới là 43,5%. Khảo sát ghi nhận 17 nhóm bệnh lý cơ xương khớp khác nhau với tổng cộng 225 lượt chẩn đoán (trung bình 1,3 bệnh trên mỗi bệnh nhân). Ba bệnh lý chiếm tỷ lệ cao nhất gồm: đau vùng cổ gáy chiếm 25,8% (58 lượt), đau dây thần kinh tọa chiếm 19,5% (44 lượt) và đau cột sống thắt lưng chiếm 16,9% (38 lượt). Đáng chú ý, có 31,2% bệnh nhân mắc đồng thời hai bệnh cơ xương khớp và 32,9% người bệnh có thời gian mắc bệnh kéo dài trên 3 năm.

Thứ hai, về tỷ lệ bệnh lý mạn tính mắc kèm: Có tới 90,4% người bệnh (144 người) có bệnh mắc kèm ngoài bệnh cơ xương khớp, với số lượt bệnh mắc kèm là 244 (trung bình 1,7 bệnh mắc kèm trên mỗi người). Bệnh mắc kèm phổ biến nhất là rối loạn tuần hoàn não chiếm 24,8% (67 lượt), tiếp theo là tăng huyết áp chiếm 21,8% (59 lượt) và viêm loét dạ dày tá tràng chiếm 9,6% (26 lượt).

Thứ ba, về đặc điểm sử dụng thuốc và các phương pháp kết hợp: 100% bệnh nhân được điều trị phối hợp với vật lý trị liệu (trung bình 6,2 phương pháp trên một người), nổi bật là điện châm (98,2%), thủy châm (97,6%) và dòng điện xung (92,9%). Đồng thời, 91,2% bệnh nhân có sử dụng thuốc y học cổ truyền (Hoàn phong thấp chiếm 44,1%). Phác đồ phối hợp NSAID hoặc paracetamol với thuốc cổ truyền chiếm tỷ lệ cao nhất là 75,3%. Thuốc được dùng nhiều nhất là piroxicam dạng tiêm bắp 20mg chiếm 34,7% (84 lượt), celecoxib 100mg dạng uống chiếm 18,6% và meloxicam ở cả hai mức hàm lượng chiếm 26,5%. Tỷ lệ sử dụng đơn độc một loại thuốc giảm đau chống viêm chiếm 95,4%, và 100% liều dùng của các thuốc đều tuân thủ đúng liều khuyến cáo tối đa hàng ngày.

Thảo luận kết quả

Mô hình điều trị tại bệnh viện thể hiện rõ nét thế mạnh kết hợp đa mô thức giữa y dược cổ truyền, phục hồi chức năng và y học hiện đại. Dữ liệu khi được tổng hợp qua các bảng thống kê cơ cấu và biểu đồ cột cho thấy xu hướng ưu tiên kiểm soát cơn đau cấp tính bằng thuốc hóa dược trong thời gian ngắn, sau đó duy trì bằng vật lý trị liệu và thuốc thảo dược. Thời gian sử dụng trung bình của các thuốc NSAID rất hợp lý, cụ thể piroxicam dạng tiêm có thời gian dùng trung bình là 4,0 ngày (ngắn nhất 2 ngày, dài nhất 10 ngày), bám sát nguyên tắc lâm sàng chỉ tiêm bắp trong 2 đến 3 ngày đầu khi đau nhiều rồi chuyển sang đường uống. Celecoxib có thời gian dùng trung bình dài hơn là 8,6 ngày do được chỉ định điều trị duy trì cho các trường hợp mạn tính.

Khi đánh giá phân tầng nguy cơ loét đường tiêu hóa trên 148 bệnh nhân dùng NSAID, nghiên cứu ghi nhận 64,2% (95 người) thuộc nhóm nguy cơ trung bình do tuổi cao trên 65 hoặc có tiền sử loét dạ dày, và 35,8% (53 người) thuộc nhóm nguy cơ thấp. Mặc dù 100% người bệnh được dùng đúng liều lượng an toàn, tỷ lệ uống thuốc gần bữa ăn (sau ăn no) mới đạt 67,5%, vẫn còn 32,5% bệnh nhân uống xa bữa ăn. So với các nghiên cứu tương tự tại nhiều cơ sở y tế tuyến tỉnh, việc áp dụng đồng thời 16 kỹ thuật vật lý trị liệu và các bài thuốc cổ phương đã giúp bệnh viện kiểm soát tốt triệu chứng đau trên thang điểm BPI mà không cần lạm dụng tăng liều hoặc phối hợp nhiều loại NSAID cùng lúc.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, chuẩn hóa thời điểm dùng thuốc đường uống: Hội đồng Thuốc và Điều trị cùng Khoa Dược cần ban hành hướng dẫn thực hành lâm sàng chi tiết, tập huấn cho 100% điều dưỡng về việc hướng dẫn người bệnh uống NSAID ngay sau bữa ăn no, phấn đấu nâng tỷ lệ dùng thuốc đúng thời điểm từ 67,5% hiện tại lên mức 100% trong vòng 3 tháng tới.

Thứ hai, tăng cường chỉ định thuốc ức chế bơm proton dự phòng: Bác sĩ điều trị cần chủ động đánh giá phân tầng nguy cơ tiêu hóa theo thang hướng dẫn quốc tế ngay khi nhập viện, thực hiện kê đơn bổ sung thuốc ức chế bơm proton (PPI) hoặc misoprostol cho toàn bộ 64,2% bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ trung bình có sử dụng NSAID, hoàn thành đồng bộ trong quý đầu tiên của năm kế hoạch.

Thứ ba, đẩy mạnh hoạt động dược lâm sàng và cảnh giác dược: Ban Giám đốc bệnh viện cần bố trí dược sĩ lâm sàng thường trực tại các khoa điều trị nội trú để rà soát đơn thuốc hàng ngày, kiểm soát chặt chẽ các tương tác bất lợi giữa NSAID với thuốc điều trị tim mạch, huyết áp và chống đông máu, duy trì mục tiêu 0% sai sót về liều tối đa và hạn chế tối đa biến cố bất lợi.

Thứ tư, tối ưu hóa phác đồ kết hợp vật lý trị liệu và y học cổ truyền: Các khoa lâm sàng tiếp tục phát huy việc chỉ định sớm các phương pháp vật lý trị liệu như điện châm, thủy châm và ngâm thuốc y học cổ truyền cho trên 90% bệnh nhân cơ xương khớp, nhằm rút ngắn thời gian dùng NSAID đường tiêm xuống dưới 3 ngày trên mỗi đợt điều trị.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Bác sĩ chuyên khoa Cơ Xương Khớp và Y học Cổ truyền: Có thể khai thác mô hình phối hợp hiệu quả giữa 16 phương pháp vật lý trị liệu, các bài thuốc cổ phương và thuốc giảm đau chống viêm hiện đại để xây dựng phác đồ điều trị cá thể hóa cho bệnh nhân cao tuổi mắc nhiều bệnh lý nền.

Dược sĩ lâm sàng tại các bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến huyện: Sử dụng luận văn như tài liệu tham khảo chuẩn mực để xây dựng quy trình phân tầng nguy cơ loét tiêu hóa, kiểm duyệt liều tối đa 24 giờ và giám sát an toàn sử dụng thuốc NSAID và glucocorticoid trong điều trị nội trú.

Lãnh đạo bệnh viện và Hội đồng Thuốc và Điều trị: Ứng dụng số liệu thực chứng từ 170 hồ sơ bệnh án để xây dựng danh mục thuốc thiết yếu hợp lý, tối ưu hóa cơ cấu chi phí điều trị và nâng cao chất lượng quản lý an toàn người bệnh.

Học viên sau đại học, bác sĩ nội trú và sinh viên ngành Y Dược: Học hỏi phương pháp thiết kế nghiên cứu mô tả tiến cứu, kỹ thuật thu thập thông tin qua thang đo BPI và phương pháp phân tích số liệu y sinh học bằng phần mềm SPSS 20.0 phục vụ công tác nghiên cứu khoa học.

Câu hỏi thường gặp

Tỷ lệ người bệnh mắc đồng thời nhiều bệnh cơ xương khớp tại bệnh viện là bao nhiêu? Theo kết quả khảo sát trên 170 người bệnh, trung bình mỗi bệnh nhân mắc 1,3 bệnh cơ xương khớp. Trong đó, có 31,2% người bệnh mắc cùng lúc 2 bệnh lý và 1,2% mắc 3 bệnh lý, phổ biến nhất là sự kết hợp giữa đau cột sống thắt lưng và đau thần kinh tọa.

Loại thuốc chống viêm không steroid nào được sử dụng phổ biến nhất trong nghiên cứu? Piroxicam dạng tiêm bắp 20mg chiếm tỷ lệ cao nhất với 34,7% tổng số lượt dùng nhờ tác dụng giảm đau nhanh trong đợt cấp. Ở dạng uống, celecoxib 100mg chiếm 18,6% và meloxicam ở hai mức hàm lượng chiếm 26,5% nhờ tính an toàn cao hơn trên đường tiêu hóa.

Tính an toàn về liều dùng của các thuốc giảm đau chống viêm được ghi nhận như thế nào? Toàn bộ 100% người bệnh trong mẫu nghiên cứu đều được chỉ định mức liều hoàn toàn phù hợp, không có trường hợp nào vượt quá liều tối đa theo Dược thư Quốc gia Việt Nam 2018. Đồng thời, tỷ lệ sử dụng đơn độc một loại thuốc đạt 95,4%.

Nhóm người bệnh nào cần được chỉ định thuốc dự phòng loét dạ dày tá tràng? Nghiên cứu xác định có 64,2% bệnh nhân dùng NSAID thuộc nhóm nguy cơ loét tiêu hóa trung bình do tuổi trên 65 hoặc có tiền sử bệnh dạ dày. Những đối tượng này cần được chỉ định phối hợp thuốc ức chế bơm proton để phòng ngừa chảy máu tiêu hóa.

Vai trò của các phương pháp điều trị không dùng thuốc được thể hiện ra sao? Có 100% người bệnh được điều trị bằng vật lý trị liệu với trung bình 6,2 kỹ thuật trên một người. Trong đó điện châm đạt 98,2% và thủy châm đạt 97,6%, đóng vai trò then chốt giúp kiểm soát đau và rút ngắn thời gian dùng thuốc tân dược.

Kết luận

  • Đề tài đã phân tích thực trạng sử dụng thuốc giảm đau chống viêm trên 170 bệnh nhân cơ xương khớp nội trú, làm rõ đặc điểm 78,2% người bệnh từ 50 tuổi trở lên và 90,4% có bệnh lý mạn tính mắc kèm.
  • Ba bệnh lý chiếm tỷ lệ cao nhất trong mô hình bệnh tật là đau vùng cổ gáy (25,8%), đau dây thần kinh tọa (19,5%) và đau cột sống thắt lưng (16,9%).
  • Tính an toàn và hợp lý trong kê đơn đạt mức rất cao với 100% liều dùng đúng khuyến cáo, 95,4% sử dụng đơn độc một loại thuốc và thời gian tiêm piroxicam trung bình ngắn (4,0 ngày).
  • Mô hình kết hợp 100% vật lý trị liệu và 91,2% thuốc y học cổ truyền đã phát huy hiệu quả giảm đau vượt trội, hạn chế tác dụng phụ của thuốc hóa dược.
  • Bệnh viện cần tập trung nâng cao tỷ lệ uống NSAID gần bữa ăn từ 67,5% lên 100% và chủ động dự phòng loét tiêu hóa cho 64,2% người bệnh có nguy cơ trung bình trong lộ trình 2022 - 2025.

Đóng góp quan trọng nhất của luận văn là cung cấp bức tranh thực chứng toàn diện, khẳng định tính ưu việt của mô hình kết hợp y học hiện đại và y học cổ truyền trong kiểm soát đau an toàn. Độc giả quan tâm và các nhà nghiên cứu hãy liên hệ bộ phận thông tin thư viện để tra cứu chi tiết toàn văn công trình khoa học giá trị này.