CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VE BẢO HIEM NHÂN THỌ VÀ ĐẠI LÝ BẢO HIEM 1. Bảo hiểm nhân thọ 1. Lịch sử hình thành Thời xưa, hàng hóa thường được vận chuyền bằng đường hàng hải, các chuyến tàu có thể gặp những điều không may trong chuyến hải trình như cướp biển, đá ngầm, bão tap. Các thương nhân rat lo lắng cho mỗi chuyến hàng.
Bởi vì họ có thể bị phá sản do mất hết hàng hóa nếu tàu họ gặp phải rủi ro. Các thương nhân cũng có lo lắng như nhau, cuối cùng họ cũng nghĩ ra một cách đó là chia đều hàng hóa ra nhiều chiếc tàu có cùng lịch trình. Dé chăng may có chiếc tàu nào gặp nạn thì họ cũng chỉ mat một phan hàng hóa, chứ không mat trắng va bị phá sản. Những cách làm này cũng có điều bat tiện họ phải tìm những chuyến tàu có cùng lịch trình, cùng tải trọng, giá trị hàng hóa cũng phải tương đương nhau.
Nên họ nghĩ ra một cách khác hay hơn, thuận tiện hơn đó là đóng 30 tiền cho một người trung gian, nếu như có tàu nào gặp rủi ro thì người trung gian sẽ trao số tiên đóng góp đó cho chủ của con tàu gặp nạn. Từ đó bảo hiểm phi nhân thọ ra đời. Như vậy, mat mát về hàng hóa đã được bù đắp, còn những thủy thủ trên tàu thì sao? Đề bù đắp tài chính cho các gia đình thủy thủ gặp rủi ro, họ cũng làm tương tự như với hàng hóa. Tức là họ góp tiền để nếu có người thủy thủ nào ra đi.
mà không quay về nữa thì cũng có một số tiền gửi đến lo cho gia đình và vợ con của họ. Từ đó BHNT ra đời và phát triển cho đến ngày nay. Hợp đồng BHNT đầu tiên trên thế giới ra đời năm 1583, do công dân London là ông William Gybbon tham gia. Phí bảo hiểm ông phải đóng lúc đó là 32 bảng Anh, khi ông chết trong năm đó, người thừa kế của ông được hưởng 400 bảng Anh.
Năm 1759, công ty BHNT ra đời đầu tiên ở Philadelphia (Mỹ). Công ty này đến nay vẫn còn hoạt động, nhưng lúc đầu nó chỉ bán bảo hiểm cho các con chiên ở nhà thờ của mình. Năm 1762, ở Anh thành lập công ty BHNT Equitable bán BHNT cho mọi người. Ở châu Á, các công ty BHNT ra đời đầu tiên ở Nhật Bản.
Năm 1868 công ty bảo hiểm Meiji của Nhật ra đời và đến năm 1888 và 1889, 2 công ty khác là: Kyoei và Nippon ra đời và phát triển cho đến nay. Trên thé giới, BHNT là loại hình bảo hiểm phát triển nhất, năm 1985 doanh thu phí BHNT mới chỉ đạt 630,5 tỷ đôla, năm 1989 đã lên tới 1210,2 tỷ đôla, năm 1993 con số này là 1647 tỷ đôla, chiếm gần 48% tông phí bảo hiểm, và đến năm 2006, doanh thu phí BHNT toàn thế giới đạt 2014 tỷ đôla. Tại Việt Nam, trong nhiều năm qua Chính phủ và Bộ Tài chính rất quan tâm phát triển nghiệp vụ này. Với sự ra đời của công ty BHNT chính thức đầu tiên ở Việt Nam năm 1996 đã khăng định rõ sự quan tâm của các cơ quan Nhà nước tầm vĩ mô.
Với những yêu cầu về quản lý quỹ BHNT, Bộ Tài chính đã ký quyết định số 568/QD/TCCB ngày 22/06/1996 thành lập công ty BHNT trực thuộc Bảo Việt. Sự kiện này đánh dấu một bước ngoặt mới trong sự phát triển của ngành bảo hiểm Việt Nam. Và như vậy, BHNT bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam từ năm 1996 nhưng chỉ phát triển mạnh mẽ từ năm 1999 khi Việt Nam chính thức mở cửa ngành bảo hiểm và cho phép một số công ty BHNT nước ngoài vào hoạt động. Hiện nay, có năm thị trường BHNT lớn nhất thế giới là: Mỹ, Nhật Bản, CHLB Đức, Anh và Pháp.
Sở dĩ BHNT phát triển rất nhanh, doanh thu phí bảo hiểm ngày càng tăng là vì loại hình bảo hiểm này có vai trò rất lớn. Vai trò của BHNT không chỉ thé hiện trong từng gia đình và đối với từng cá nhân trong việc góp phần 6n định cuộc sống, giảm bớt khó khăn về tài chính khi gặp rủi ro, mà còn thé hiện trên phạm vi toàn xã hội. Trên phạm vi xã hội, BHNT góp phan thu hút vốn đầu tư nước ngoài huy động vốn trong nước từ những nguồn tiền mặt nhàn rỗi năm trong dân cư. Nguồn vốn này không chỉ có tác dụng đầu tư dai hạn mà còn góp phần thực hành tiết kiệm, chống lạm phát và tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động.
Khái niệm bảo hiểm nhân thọ BHNT ngày nay vẫn chưa được định nghĩa một cách thống nhất, có rất nhiều quan điểm khác nhau dựa trên nhiều phương diện, trong từng hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia trên thế giới hay theo các nghiên cứu của các học giả sẽ có các cách tiếp cận khác nhau trên góc độ kinh tế và góc độ luật học 1. Góc độ kinh tế xã hội Trong luận án Tiến sĩ “Một số giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam”, Nguyễn Thị Hải Đường (2006) cho rằng: “BHNT là hình thức bảo hiểm những rủi ro liên quan đến sinh mạng, cuộc sống và tuôi thọ của người được bảo hiểm”. Trong giáo trình Bảo hiểm, Nguyễn Văn Định (2008) cho rằng “BHNT là quá trình bảo hiểm các rủi ro liên quan đến sinh mạng, cuộc sông và tuôi thọ con người 1. Góc độ luật học Theo Bryan A.
Garner (1999): “BHNT được định nghĩa là một thỏa thuận giữa một DNBH (hoặc giữa các DNBH đồng bảo hiểm) dé trả một số tiền quy định cho người thụ hưởng được chỉ định về cái chết của người được bảo hiểm” Theo Harriett E. Jones (1999) “BHNT là một cách chuyền giao rủi ro và tích lũy tài chính bằng cách khi chủ hợp đồng bảo hiểm đồng ý tham gia vào hợp đồng bảo hiểm với công ty bảo hiểm, chủ hợp đồng sẽ đóng góp một khoản phí cho công ty bảo hiểm nhân thọ, đối lại công ty bảo hiểm nhân thọ đồngý trả lại một khoản tiền nếu người được bảo hiểm tử vong trong thời hạn hợp đồng có hiệu lực hoặc trong trường hợp người được bảo hiểm còn sống đến một thời gian theo quy định của hợp đồng. Collin (2000) “BHNT là loại hình bảo hiểm mà theo đó, sẽ trả tổng số tiền khi người được bảo hiểm chết trong thời hạn xác định hoặc người đó vẫn còn sống đến thời điểm đó” John Birds - Norma J. Hird (2004) “BHNT có nhiều hình thức, cơ bản nhất là bảo hiểm cho cuộc sông của người được bảo hiểm mà theo đó, có một cam kết trả tiền khi người được bảo hiểm sống qua một độ tuổi nhất định, hoặc khi chết bat cứ khi nào trong thời gian bảo hiểm; hiện nay, BHNT có thé kết hợp với các hình thức đầu tư chứng khoán hoặc đầu tư vốn” Theo Công ty bảo hiểm của New Zealand năm 1994 “ BHNT là bảo hiểm bằng việc trả tiền cho cái chết của người tham gia bảo hiểm (không loại trừ là do tai nạn hoặc có nguyên nhân bệnh tật hoặc ốm đau) hoặc do bat ky một su cô ngẫu nhiên nào đó có tác động làm kết thúc hoặc hoặc duy trì cuộc sông của người đó; và kế cả một thỏa thuận pháp lý quy định việc trả phí bảo hiểm theo thời hạn phụ thuộc vào sự kết thúc hoặc tiếp tục sông của người được bảo hiểm cũng như đảm bảo một khoản trợ cấp định kỳ phụ thuộc vào cuộc song tiép tuc của người đó”.
Theo luật kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam năm 2000 “Bảo hiểm nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người đươc bảo hiểm sông hoặc chết” Như vậy tùy thuộc vào các chính sách, điều kiện văn hóa, kinh tế ở từng vùng lãnh thô khác nhau, thị trường phát triển BHNT khác nhau sẽ có những định nghĩa, cách hiểu về BHNT khác nhau. Bên cạnh đó, góc độ tiếp cận thông tin khác nhau cũng ảnh hưởng đến quan niệm về loại hình bảo hiểm này. Tuy các khái niệm vẫn chưa có sự thống nhất chung trong hệ thống BHNT, nhưng chúng ta có thê hiểu một cách khái quát BHNT là loại hình kinh doanh của công ty bảo hiểm, là hình thức bảo hiểm cho tính mạng con người, nhằm bảo vệ người tham gia bảo hiểm trước rủi ro về sức khỏe, tính mạng bang cách chi trả, bồi thường khi các sự kiện liên bảo hiểm xay Ta. Sự cần thiết và vai trò của bảo hiểm nhân thọ trong cuộc sống - Đối với bản thân và gia đình: + Bảo vệ tài chính của gia đình: Tai nạn, bệnh hiểm nghèo, tử vong hoặc thương tật toàn bộ vĩnh viễn là những biến cố không thé lường trước, khiến tài chính gia đình rơi vào tình trạng khó khăn.
Lúc này, bảo hiểm nhân thọ cho là một giải pháp thiết thực, nhăm hỗ trợ nguôồn thu nhập thiếu hụt, giúp những người thân yêu có hy vọng vượt qua khó khăn, vững tâm trong cuộc sống. Thực tế cho thay, chi phí khắc phục các rủi ro là một con số không hề nhỏ, đặc biệt các rủi ro liên quan đến bệnh tật, tại nạn. phải nằm viện điều trị dài ngày. Khi đó, bảo hiểm nhân thọ sẽ phát huy vai trò của mình, chỉ trả số tiền bảo hiểm kịp thời giúp người không may mắn và gia đình bù đắp tôn thất và nhanh chóng vượt qua biến cố, sớm ồn định cuộc sống.
+ Tạo dựng quỹ tiết kiệm cho tương lai: Cũng giống như gửi tiền tiết kiệm vào ngân hàng, bảo hiểm nhân thọ là hình thức đầu tư và tiết kiệm an toàn, không lo mat tiền. Bởi vì cả hai hình thức này đều hoạt động dưới sự quản lý của nhà nước, được sự giám sát trực tiếp của Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước. Hơn thế nữa, cả ngân hàng và bảo hiểm đều phải ký quỹ hàng năm nhằm để phòng ngừa trường hợp doanh nghiệp gặp vẫn đề như phá sản. Nếu chắng may trường hợp này xảy ra, nhà nước sẽ chịu trách nhiệm thu xếp và bồi thường thiệt hại tài chính cho mọi người.
Điều này giúp bạn không lo thất thoát nguồn vốn của mình. Nếu người được bảo hiểm không may mắn không gặp bat cứ rủi ro nào trong thời hạn hợp đồng sẽ được công ty bảo hiểm chi trả quyền lợi theo đúng cam kết. Với khoản tiền nhận được từ quyên lợi này, khách hàng sẽ có một quỹ tích lũy đề thực hiện các dự định trong tương lai như cho con đi du học, đầu tư, kinh doanh. + Chuẩn bị tài chính cho hưu trí an nhàn: Thực tế cho thấy, không một ai thích phụ thuộc vào con cháu khi về già.