mở đầu cho sự ra đời của lĩnh vực BHNT ở nước ta. Ngày 09/12/2000, Quốc Hội đã thông qua Luật kinh doanh bảo hiểm (KDBH), tạo hành lang pháp lý hoàn chỉnh cho thị trường bảo hiểm Việt Nam. Đây là luật đầu tiên quy định về hoạt động KDBH, nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ 1 Luan van chức, cá nhân tham gia bảo hiểm, đẩy mạnh hoạt động bảo hiểm. Luật KDBH sẽ góp phần thúc đẩy và duy trì sự phát triển bền vững của nền kinh tế – xã hội, ổn định đời sống nhân dân, đồng thời tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
Nhờ đó mà các doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) cạnh tranh bình đẳng hơn và đang thực sự là động lực thúc đẩy thị trường bảo hiểm Việt Nam, đặc biệt là thị trường BHNT phát triển. Với khối nhân thọ, tính đến nay có 17 doanh nghiệp được cấp phép thành lập và hoạt động tại Việt Nam (Prudential, Bảo Việt, Manulife, AIA, ACE Life, Dai-ichi Life, PVI – Sunlife…), số lượng này được dự báo sẽ còn tăng thêm theo thời gian vì tiềm năng thị trường bảo hiểm tại Việt Nam được đánh giá là rất lớn. Mặt khác, với số lượng các doanh nghiệp BHNT tham gia vào thị trường ngày càng đông đã làm cho thị trường BHNT Việt Nam luôn có sự cạnh tranh gay gắt (về sản phẩm, kênh phân phối, dịch vụ công tác chăm sóc khách hàng…). Theo Báo cáo sơ bộ của Cục Quản lý và giám sát bảo hiểm - Bộ Tài chính cho biết: Năm 2014, tổng doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường ước đạt 52.680 tỷ đồng, tăng 14,2% so với năm 2013.
Trong đó, doanh thu phí bảo hiểm của khối phi nhân thọ ước đạt 25.250 tỷ đồng, tăng 10,5%; doanh thu phí BHNT ước đạt 27.430 tỷ đồng, tăng 17,9%. Việt Nam được coi là một trong những thị trường bảo hiểm mới nổi với tốc độ tăng doanh thu phí bảo hiểm luôn đạt trên 2 con số cho cả BHNT và phi nhân thọ. Tuy nhiên, doanh thu phí bảo hiểm trên GDP hiện nay vẫn còn rất thấp. Dịch vụ bảo hiểm chính thức triển khai tại Việt Nam từ 1996, qua 18 năm hoạt động, tổng doanh thu phí bảo hiểm toàn ngành chỉ đạt khoảng 2% GDP, trong khi doanh thu phí bảo hiểm/GDP của các nước trong khu vực ASEAN là Thái Lan, Malaysia hay Singapore… đã đạt khoảng 15 - 17%.
Nếu so với nhu cầu và tiềm năng của thị trường Việt Nam thì doanh thu phí bảo hiểm vẫn còn rất nhỏ bé, đặc biệt là khối nhân thọ. Theo thông tin từ báo điện tử VTV, tính đến năm 2014 chỉ 8% dân số Việt Nam tham gia mua BHNT. Tỷ trọng người dân Việt Nam tham gia BHNT vẫn còn thấp, nhất là khu vực nông thôn, vùng núi, vùng sâu, vùng xa. Điều này cho thấy nhận thức của người dân về BHNT còn hạn chế.
Các sản 2 Luan van phẩm BHNT vừa có tính rủi ro, vừa có tính tiết kiệm, nhưng người dân tham gia BHNT chỉ quan tâm đến tính tiết kiệm là chủ yếu, trong khi tính rủi ro lại là yếu tố chính thể hiện vai trò của bảo hiểm nói chung và BHNT nói riêng. Một kết quả điều tra trong năm 2001 của Bộ tài chính phối hợp với công ty BHNT NewYork Life cho thấy, các lý do mà người dân Việt Nam ít tham gia BHNT là: Thu nhập còn thấp, không có đủ khả năng tài chính (20,77%); không hiểu hoặc ít hiểu biết về BHNT (19,47%); tham gia các hình thức tiết kiệm khác (11,87%); lý do khác như chưa tin tưởng, không có thời gian (47,89%). Qua thực tế nêu trên, có thể thấy những vấn đề khó khăn đối với thị trường BHNT tại Việt Nam vẫn còn tồn đọng, vẫn còn những rào cản chưa được phá vỡ hoàn toàn. Thị trường BHNT nói chung vẫn là một thị trường trẻ, giàu tiềm năng và hứa hẹn sự cạnh tranh giữa các công ty trong ngành ngày càng sôi động và quyết liệt, đặc biệt là đối với các tập đoàn tài chính - bảo hiểm quốc tế.
Quan tâm nghiên cứu nhằm tìm ra những biện pháp để thu hút khách hàng, nâng cao năng lực cạnh tranh, hội nhập và hợp tác tốt sẽ đảm bảo thành công và mang lại hiệu quả hoạt động kinh doanh cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ BHNT, góp phần phát triển kinh tế - xã hội đất nước và địa phương.2 SỰ CẦN THIẾT NGHIÊN CỨU Bất kỳ ở quốc gia nào, thời kỳ nào thì con người luôn được coi là lực lượng sản xuất chủ yếu, là nhân tố quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội. Song trong lao động sản xuất cũng như trong cuộc sống hàng ngày, những rủi ro như tai nạn, ốm đau, bệnh tật, mất việc làm, già yếu… vẫn luôn tồn tại và tác động đến nhiều mặt của cuộc sống con người. Dù con người đang sống trong một xã hội tiến bộ, văn minh và đang tận hưởng một nền kỹ thuật hiện đại bậc cao nhưng đôi khi cũng phải bất lực trước những hiểm họa, rủi ro không lường trước được và dẫn đến nhiều kết quả không mong đợi. Vì vậy, vấn đề mà bất kỳ xã hội nào cũng quan tâm là làm thế nào để khắc phục được những hậu quả của rủi ro nhằm đảm bảo cuộc sống của con người.
Thực tế đã có rất nhiều biện pháp được áp dụng như: Phòng tránh, cứu trợ, tiết kiệm… nhưng bảo hiểm luôn được đánh giá là một trong những biện pháp hữu hiệu. Có rất nhiều loại hình bảo hiểm ra đời với mục đích giúp con người khắc phục được những rủi ro, giảm thiểu tổn thất và ổn định cuộc sống, đặc biệt là loại hình BHNT. 3 Luan van TP. Vĩnh Long là một thị trường hứa hẹn đầy tiềm năng để phát triển kinh doanh dịch vụ BHNT.
Nằm ngay trung tâm kinh tế văn hoá và cũng là trung tâm giao thương giữa các tỉnh trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long , TP. Vĩnh Long có đủ điều kiện để nền kinh tế - xã hội phát triển ổn định, trình độ dân trí được cải thiện và mức thu nhập của người dân dần được nâng cao, đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng hoàn thiện. Khi đời sống xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu về bảo đảm an toàn của mỗi cá nhân, doanh nghiệp và toàn xã hội ngày càng cao, từ đó sẽ phát sinh nhu cầu tham gia BHNT. Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện tại thì tỷ lệ tham gia BHNT của người dân chưa thực sự tương xứng so với tiềm năng phát triển.
Một dấu chấm hỏi lớn đặt ra cho lĩnh vực BHNT. Nguyên nhân xuất phát từ đâu? Phải chăng một số bộ phận người dân vẫn còn e ngại về vấn đề kinh tế, hay họ chưa thấu hiểu về BHNT cũng như những lợi ích thiết thực mà BHNT mang lại, tâm lý họ cho rằng mua bảo hiểm là mua một điều xui xẻo, các vấn đề liên quan đến BHNT chưa thực sự hấp dẫn họ, hoặc về phía các công ty bảo hiểm chưa thực sự tạo nhu cầu tham gia bảo hiểm cho người dân?. BHNT mang lại nhiều lợi ích cho khách hàng nhưng để khách hàng ra được quyết định mua BHNT ngay cả khi họ chưa có nhu cầu là một điều hết sức khó khăn. Khi khách hàng có nhu cầu mua BHNT không phải lúc nào họ cũng đi đến quyết định mua ngay, khách hàng vẫn còn chịu sự chi phối bởi nhiều yếu tố như thu nhập, gia đình, công ty và đại lý bảo hiểm, dịch vụ chăm sóc khách hàng… Vì thế, việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua BHNT trở nên quan trọng và cần thiết được nghiên cứu.
Vấn đề là làm thế nào để xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm của khách hàng? Việc xác định các yếu tố này cần phải dựa trên cơ sở những kết quả khảo sát thực tế để giúp các công ty khám phá ra những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua của khách hàng, từ đó xây dựng các giải pháp phù hợp tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến quyết định mua của khách hàng, góp phần vào việc thu hút khách hàng, việc gia tăng hiệu quả kinh doanh của các công ty BHNT tại TP. Vĩnh Long hiện nay. 4 Luan van Xuất phát từ thực tế trên, tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài: “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua bảo hiểm nhân thọ của người dân TP. Vĩnh Long” để làm luận văn thạc sĩ của mình.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.1 Mục tiêu tổng quát Đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua BHNT, từ đó đề xuất các khuyến nghị nhằm thu hút người dân trên địa bàn TP.
Vĩnh Long tham gia mua BHNT.2 Mục tiêu cụ thể Để thực hiện được mục tiêu chung đã đề ra, đề tài tập trung giải quyết các mục tiêu cụ thể sau: - Đánh giá thực trạng tham gia BHNT của người dân TP. Vĩnh Long ở các công ty bảo hiểm trên địa bàn TP. Vĩnh Long trong thời gian qua. - Xác định, phân tích và kiểm định mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua BHNT của người dân TP.
- Đề xuất một số khuyến nghị nhằm thu hút người dân trên địa bàn TP. Vĩnh Long tham gia mua BHNT.4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng phát triển của thị trường BHNT, tìm hiểu và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua BHNT của người dân. Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học cho việc đề xuất các khuyến nghị nhằm góp phần thu hút người dân tham gia mua BHNT, bên cạnh đó nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường BHNT tại TP. Các nội dung chính được đề cập trong nghiên cứu gồm: - Thực trạng thị trường BHNT Việt Nam nói chung và TP.
Vĩnh Long nói riêng thời gian qua phát triển ra sao? - Những yếu tố quan trọng nào ảnh hưởng đến quyết định mua BHNT của người dân TP. Vĩnh Long? - Những giải pháp, kế hoạch marketing nào có thể thu hút người dân TP. Vĩnh Long tham gia mua BHNT hiệu quả? 5 Luan van 1.5 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu của đề tài, nội dung nghiên cứu cần bám sát vào các nội dung như sau: - Tổng hợp và hệ thống hóa lý thuyết về hành vi của người tiêu dùng và lý thuyết BHNT. - Lược khảo các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua sắm và những vấn đề có liên quan đến quyết định mua BHNT của khách hàng.