CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ HOẠCH KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Lý luận về kế hoạch 1. Khái niệm Kế hoạch: là văn bản nhằm cụ thể hóa chiến lượt kinh doanh của doanh nghiệp để thực hiện trong từng thời gian nhất định. Trong đó bao gồm các nhiệm vụ, chỉ tiêu, bảng biểu tính toán, các biện pháp thực hiện kế hoạch.
Kế hoạch trong doanh nghiệp là một quy trình ra quyết định cho phép xây dựng một hình ảnh mong muốn về trạng thái tương lai của doanh nghiệp và quá trình tổ chức triển khai thực hiện mong muốn đó. Công tác này bao gồm các hoạt động: Lập kế hoạch: đây là khâu giữ vị trí quan trọng hàng đầu trong công tác kế hoạch doanh nghiệp, nó là quá trình xác định các mục tiêu, các chỉ tiêu kế hoạch và đề xuất chính sách giải pháp áp dụng. Kết quả của việc soạn lập kế hoạch là một bản kế hoạch của doanh nghiệp được hình thành và nó chính là cơ sở cho việc thực hiện các công tác sau của kế hoạch. Tổ chức thực hiện kế hoạch, kiểm tra, điều chỉnh và đánh giá kế hoạch là những hoạt động tiếp sau của công tác kế hoạch nhằm đưa kế hoạch vào thực tế hoạt động của doanh nghiệp.
Đây là quá trình tổ chức, phối hợp hoạt động của các bộ phận, các yếu tố nguồn lực của doanh nghiệp, triển khai các hoạt động khác nhau theo kế hoạch mục tiêu đặt ra. (Trích “ Giáo trình kế hoạch kinh doanh ”, ThS. Bùi Đức Tuân (2005), Trường đại học kinh tế quốc dân) 1. Chức năng của kế hoạch trong doanh nghiệp Chức năng ra quyết định: Kế hoạch cho phép ta xây dựng quy trình ra quyết định và phối hợp các quyết định.
Vì trong doanh nghiệp có nhiều bộ phận, đơn vị chức năng khác nhau và mỗi bộ phận đơn vị chức năng này có những vai trò khác nhau trong doanh nghiệp. Nên nhiều khi các bộ phận này có thể không thống nhất với nhau trong quá trình quyết định các hoạt động của doanh nghiệp vì vậy kế hoạch sẽ giúp cho quá SVTH: Hồ Văn Hưng 4 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: PGS.TS Phùng Thị Hồng Hà trình ra quyết định của các bộ phận sẽ theo một quy trình thống nhất để tránh tình trạng xung đột giữa các đơn vị bộ phận. Nhưng khi đó ra được quyết định rồi thì việc phối hợp các quyết định đó lại với nhau cũng không phải đơn giản vì vẫn có sự khác biệt giữa các quyết đinh của các bộ phận chức năng, cho nên nó cần có công tác kế hoạch để phối hợp các quyết định đó sao cho các hoạt động của doanh nghiệp được vận hành suôn sẻ. Chức năng giao tiếp: Kế hoạch trong doanh nghiệp có chức năng giao tiếp vì nó tạo điều kiện cho các nhà lãnh đạo và quản lý của doanh nghiệp có thể giao tiếp được với nhau, nó cho phép lãnh đạo các bộ phận có thể phối hợp trao đổi xử lý các thông tin và những vấn đề trong doanh nghiệp.
Khi có một quy trình kế hoạch thống nhất nó sẽ gúp phần cung cấp trao đổi thông tin giữa các phòng ban chức năng trong doanh nghiệp với nhau, từ đó các lãnh đạo của các bộ phận khác nhau có thể nắm bắt được những thông tin và các hoạt động của các bộ phận khác để từ đó mà có được những phương án hoạt động cho bộ phận mình sao cho phù hợp với các phòng ban bộ phận khác để đảm bảo cho mục tiêu của doanh nghiệp được thực hiện đúng theo kế hoạch đề ra. Chức năng quyền lực: Khi một bản kế hoạch được xây dựng hoàn chỉnh phù hợp với những điều kiện bên trong và bên ngoài doanh nghiệp thì bản kế hoạch đó như là một bản tuyên bố của ban lãnh đạo doanh nghiệp tới các bộ phận và các nhân viên trong doanh nghiệp về chiến lược phát triển của doanh nghiệp trong tương lai, trong đó sẽ ghi những mục tiêu mà doanh nghiệp cần đạt được trong thời gian tới. Với những mục tiêu nhiệm vụ được đặt ra trong bản kế hoạch thì ban lãnh đạo doanh nghiệp đó khẳng định quyền lực lãnh đạo của họ trong doanh nghiệp cũng như với các nhân viên. Nhờ có kế hoạch mà các hoạt động trong doanh nghiệp được quản lý một cách chặt chẽ, hợp lý và từ đó sẽ giúp cho mọi người đều có thể tham gia đóng góp ý kiến vào bản kế hoạch.
Vai trò của kế hoạch Hướng sự chú ý của các hoạt động trong doanh nghiệp vào các mục tiêu, tổ chức triển khai các hoạt động để thực hiện các mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra. Do doanh nghiệp hoạt động trong một thị trường rất linh hoạt, luôn biến đổi vì vậy mà doanh nghiệp cần có kế hoạch để có thể dự bỏ được những cơ hội hay thách thức mà thị trường đem lại để từ đó xác định xem doanh nghiệp nên sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu, sản SVTH: Hồ Văn Hưng 5 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: PGS.TS Phùng Thị Hồng Hà xuất như thế nào, sản xuất cho ai và khi nào thì sản xuất. Mặc dù thị trường luôn biến đổi khó nắm bắt và dự bỏ. Những thay đổi bất ngờ của thị trường có thể làm phá sản những kế hoạch được chuẩn bị công phu, chu đáo nhưng điều đó không có nghĩa là doanh nghiệp không xây dựng kế hoạch mà trả lại doanh nghiệp luôn phải xây dựng kế hoạch cho mình vì nếu không xây dựng kế hoạch thì có nghĩa là doanh nghiệp đang để cho mình bị thả nổi và bị thị trường chi phối, điều đó sẽ làm cho doanh nghiệp gặp nhiều rủi ro, không tự chủ được trong các hoạt động mà luôn phải bị động với những biến đổi của thị trường.
Công tác kế hoạch là việc ứng phó với những thay đổi của thị trường. Vì lập kế hoạch chính là công việc dự bỏ thị trường trong tương lai mà thị trường trong tương lai thường không chắc chắn, khó nắm bắt, tương lai càng xa thì kết quả dự đoán càng kém tin cậy. Cho dù ta có thể nắm bắt được tương lai với sự tin cậy cao thì ta vẫn không thể thiếu được công tác kế hoạch để tìm ra những cách tốt nhất để đạt được mục tiêu, tiến hành phân công, phối hợp giữa các bộ phận để cũng ứng phó với những thách thức từ phía thị trường. Do thị trường luôn biến đổi cho nên trong quá trình thực hiện kế hoạch không thể thiếu được khâu kiểm tra giám so đánh giá để phát hiện ra những phát sinh bất ngờ tìm ra nguyên nhân của những phát sinh đó và có những phương án ứng phó.
Kế hoạch với khả năng tác nghiệp trong doanh nghiệp. Kế hoạch doanh nghiệp đặt ra mục tiêu tối thiểu hóa chi phí và hoạt động có hiệu quả và phù hợp nhất. Kế hoạch hóa sẽ giúp cho doanh nghiệp tránh được những hoạt động nhỏ lẻ, các bộ phận trong doanh nghiệp ngoài việc thực hiện chức năng của mình ra cũng phải quan tâm đến mục tiêu chung của doanh nghiệp đảm bảo mục tiêu chung được thực hiện theo đúng kế hoạch. Muốn vậy thì giữa các kế hoạch bộ phận phải có sự tương tác với nhau, hỗ trợ cho nhau cũng thực hiện để từ đó đảm bảo cho hoạt động của doanh nghiệp được thực hiện suôn sẻ.
Phân loại kế hoạch Trên những góc độ khác nhau thì hệ thống kế hoạch của doanh nghiệp được chia thành những bộ phận khác nhau. Theo góc độ thời gian SVTH: Hồ Văn Hưng 6 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: PGS.TS Phùng Thị Hồng Hà Kế hoạch dài hạn: nó là kế hoạch bao trùm lớn một khoảng thời gian dài thường là 10 năm. Trong bản kế hoạch này thường nói về những mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp, những định hướng của doanh nghiệp trong thời gian dài. Kế hoạch trung hạn: nó là sự cụ thể hóa của kế hoạch dài hạn, kế hoạch trung hạn thường kéo dài khoảng từ 3 đến 5 năm.
Kế hoạch ngắn hạn thường: là kế hoạch hàng năm và kế hoạch tiến độ. Nó thường bao gồm các phương án sử dụng các nguồn lực một cách cụ thể để đạt được mục tiêu trong kế hoạch dài hạn và trung hạn. Theo nội dung cụ thể của kế hoạch kinh doanh Kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Kế hoạch đầu tư và phát triển Kế hoạch khoa học, công nghệ Kế hoạch vật tư Kế hoạch lao động, tiền lương Kế hoạch giá thành tài chính Trong đó kế hoạch sản xuất – tiêu thụ sản phẩm là kế hoạch quan trọng nhất, nêu lên nhiệm vụ sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, mặt hàng, chất lượng sản phẩm, hợp tác sản xuất kinh doanh. Kế hoạch này làm căn cứ, đồng thời cũng chị sự tác động của các bộ phận kế hoạch khác.
(Trích “ Giáo trình kế hoạch kinh doanh ”, ThS. Bùi Đức Tuân (2005), Trường đại học kinh tế quốc dân) 1. Khái quát về kinh danh khách sạn 1. Khái niệm về kinh doanh khách sạn Kinh doanh khách sạn là hoạt động kinh doanh trên cơ sở cung cấp các dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống và các dịch vụ bổ sung khác cho khách nhằm đáp ứng các nhu cầu ăn, nghỉ, giải trí của họ tại các điếm du lịch nhằm mục đích thu lại lợi nhuận.
SVTH: Hồ Văn Hưng 7 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: PGS.TS Phùng Thị Hồng Hà Có 3 loại hình kinh doanh khách sạn chủ yếu: Kinh doanh lưu trú Các hoạt động trong kinh doanh lưu trú, không tồn tại ở dạng vật chất, chúng chỉ là các DV đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi, lưu trú tạm thời của khách. Trong quá trình sản xuất và bán các DV này, các cơ sở kinh doanh lưu trú không tạo ra sản phẩm mới mà cũng không tạo ra giá trị mới. Hoạt động của các cơ sở lưu trú thông qua việc sử dụng cơ sở vật chất kĩ thuật của khách sạn kết hợp với sự phục vụ của các nhân viên đã giúp chuyển dần giá trị từ dạng vật chất sang dạng tiền tệ dưới hình thức khấu hao. Từ đó ta có thể hiểu định nghĩa về kinh doanh lưu trú như sau: "Kinh doanh lưu trú là hoạt động kinh doanh ngoài lĩnh vực sản xuất vật chất, cung cấp các DV cho thuê buồng ngủ các DV bổ sung khác cho khách hàng thời gian ở lại tạm thời tại các điểm du lịch nhằm mục đích có lãi" Kinh doanh ăn uống Kinh doanh ăn uống trong khách sạn bao gồm ba hoạt động cơ bản sau: - Hoạt động sản xuất vật chất: Đây là hoạt động chế biến thức ăn cho khách.