PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Thủy sản là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, trong những năm vừa qua, ngành thủy sản đã đóng góp tích cực trong chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, đóng góp hiệu quả cho công cuộc xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm cho trên bốn triệu lao động, nâng cao đời sống cho cộng đồng dân cư khắp các vùng nông thôn, ven biển, đồng bằng… đồng thời góp phần quan trọng trong bảo vệ an ninh quốc phòng trên vùng biển đảo của Tổ quốc. Mặt khác, Thủy sản cũng là một trong những ngành đóng góp tương đối lớn vào kinh ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong nhiều năm. Tuy nhiên, hiện nay ngành Thủy sản của chúng ta cũng gặp phải những khó khăn nhất định như: biến đổi khí hậu diễn ra theo chiều hướng xấu làm cho việc nuôi trồng thủy sản khó khăn hơn dẫn đến khan hiếm nguồn nguyên liệu, các rào cản về thương mại như luật chống bán phá giá, các khâu kiểm định trước khi nhập khẩu vào các nước Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản… ngày càng khắt khe, làm cho tình hình sản xuất kinh doanh của các DN Thủy sản gặp không ít khó khăn.
Điều này đòi hỏi các DN Thủy sản nói chung và các công ty Thủy sản niêm yết nói riêng phải nâng cao HQKD và nâng cao năng lực cạnh tranh đặc biệt là năng lực quản trị, thu hút nhiều vốn đầu tư nhằm tạo ra giá trị gia tăng cho ngành và đóng góp nhiều hơn nữa cho nền kinh tế. Việc sử dụng các thông tin phân tích tài chính nói chung và phân tích HQKD nói riêng như một công cụ hỗ trợ trong quản trị, điều hành DN đối với hầu hết các công ty Thủy sản niêm yết còn chưa được chú trọng. Qua khảo sát cho thấy các nhà quản trị DN chưa quan tâm nhiều đến phân tích HQKD, các chỉ tiêu phân tích HQKD mà các công ty Thủy sản niêm yết sử dụng hiện nay chủ yếu là các chỉ tiêu bắt buộc đối với các công ty niêm yết theo quy định của nhà nước mà chưa quan tâm đến các chỉ tiêu đặc thù ngành, các chỉ tiêu phi tài chính… Đồng thời, các chỉ tiêu này chỉ giúp đo lường và đánh giá HQKD thông 1 qua các con số mà chưa chỉ ra được các nhân tố ảnh hưởng cũng như mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố, điều này làm cho các nhà quản trị sẽ không biết được nguyên nhân gốc rễ để có biện pháp điều chỉnh cho phù hợp. Việc tổ chức bộ máy phân tích, các phương pháp phân tích và nội dung phân tích HQKD còn chưa phản ánh một cách rõ nét về HQKD của các công ty Thủy sản niêm yết chưa đáp ứng được nhu cầu cung cấp thông tin kịp thời, đầy đủ cho quản trị điều hành và các nhà đầu tư.
Ngoài ra, việc đánh giá HQKD ở hầu hết các công ty Thủy sản niêm yết hiện nay chủ yếu là quan tâm đến các chỉ tiêu tài chính mà không quan tâm đến các chỉ tiêu phi tài chính. Xuất phát từ những lý do trên, NCS lựa chọn đề tài “Hoàn thiện phân tích hiệu quả kinh doanh tại các công ty Thủy sản niêm yết ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận án tiến sĩ của mình. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Trong quá trình tổng hợp các nghiên cứu có liên quan đến luận án, NCS khái quát hóa các công trình này theo các nhóm sau: các công trình nghiên cứu về cơ sở dữ liệu phân tích, các công trình nghiên cứu về quy trình phân tích, các công trình nghiên cứu về phương pháp phân tích, các công trình nghiên cứu về nội dung phân tích. Các công trình nghiên cứu về cơ sở dữ liệu Các công trình nghiên cứu về phân tích tài chính nói chung và phân tích hiệu quả kinh doanh nói riêng đều đề cập đến cơ sở dữ liệu phục vụ cho phân tích, tiêu biểu phải kể đến các tác giả như: PGS.TS Nguyễn Trọng Cơ, PGS.
TS Nghiêm Thị Thà [38], [39], các tác giả PGS.TS Nguyễn Năng Phúc [26], [27], tác giả Nguyễn Ngọc Quang [28], tác giả Nguyễn Thị Minh Tâm [34], tác giả Huỳnh Đức Lộng [21], tác giả Nguyễn Trọng Cơ [37], tác giả Nguyễn Thị Quyên [35], tác giả Phạm Xuân Kiên [54], tác giả Nguyễn Thị Cẩm Thúy [32], tác giả Phạm Thị Quyên [50]… trong những nghiên cứu của mình, các tác giả nêu trên đã nghiên cứu cơ sở dẫn liệu phục vụ cho phân tích chủ yếu là các báo 2 cáo tài chính của DN như bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, và một số báo cáo chung của ngành. Theo tổng hợp từ Nytimes [82] cơ sở dẫn liệu để phục vụ cho phân tích HQKD được các nhà phân tích ở Mỹ sử dụng là: bảng cân đối kế toán, báo cáo thu nhập, báo cáo vốn chủ sở hữu, báo cáo lưu chuyển tiền tệ. NCS nhận thấy rằng các tác giả đã đưa ra cơ sở dữ liệu chính phục vụ cho phân tích, tuy nhiên các nghiên cứu trên còn chưa hoặc ít sử dụng các báo cáo quản trị, báo của các công ty cùng ngành… 2. Các công trình nghiên cứu về quy trình phân tích Đề cập đến quy trình phân tích tài chính cũng như quy trình phân tích HQKD có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau: PGS.
Nguyễn Ngọc Quang [28]: Quy trình phân tích được tác giả định nghĩa là việc thiết lập các bước công việc cần thiết trong quá trình phân tích, bao gồm 3 giai đoạn chính là lập kế hoạch phân tích – tiến hành phân tích và giai đoạn kết thúc, 3 giai đoạn này được thực hiện thông qua 7 bước cơ bản. Tác giả Martin Fridson và Fernando Alvarez [71], tác giả David E. Vance [66], tác giả George T.Friedlob và Lydia L.Schleifer [67], giáo trình thi CFA [64], tác giả White, G.Fried [74] đã khái quát một số điểm cơ bản trong quy trình phân tích tài chính: chuẩn bị phân tích, tiến hành phân tích và kết thúc phân tích. Tác giả Hà Thị Việt Châu [19], tác giả Nguyễn Thu Trang [41] đều đưa ra quy trình phân tích tài chính gồm: xác định nhiệm vụ và nội dung phân tích, thu thập dữ liệu, xử lý dữ liệu, phân tích những dữ liệu đã xử lý, kết luận và đề xuất, theo dõi phù hợp với các DN trong nhóm ngành thuộc phạm vi nghiên cứu của mình.
Tác giả Nguyễn Trọng Kiên [40] trong luận án của mình tác giả đã đưa ra giải pháp hoàn thiện quy trình phân tích HQSXKD cho các DN bất động sản niêm yết bao gồm ba giai đoạn và công việc cụ thể của từng giai đoạn: giai đoạn chuẩn bị phân tích: xây dựng kế hoạch phân tích, xác định các chỉ tiêu phân tích, 3 thu thập và xử lý tài liệu phục vụ cho phân tích. Giai đoạn thực hiện phân tích: đánh giá khái quát HQSXKD của công ty, phân tích nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến các chỉ tiêu phản ánh HQSXKD, tổng hợp kết quả phân tích và rút ra nhận xét, kết luận. Và giai đoạn kết thúc phân tích: lập báo cáo phân tích và hoàn thiện hồ sơ phân tích. NCS nhận thấy, các tác giả đều đã xây dựng quy trình phân tích phù hợp với thực trạng của các DN trong nhóm ngành mà các tác giả nghiên cứu.
Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến quy trình phân tích HQKD dành cho các công ty Thủy sản niêm yết ở Việt Nam. Các công trình nghiên cứu về phương pháp phân tích Có rất nhiều tài liệu viết về phương pháp phân tích tài chính cũng như phân tích HQKD, để có cái nhìn rõ hơn về các phương pháp phân tích mà các nhà khoa học đã đề cập đến NCS chia các công trình nghiên cứu thành các nhóm sau: Các công trình nghiên cứu về phương pháp đánh giá, các công trình nghiên cứu về phương pháp phân tích nhân tố và các công trình nghiên cứu về phương pháp dự báo. Các công tình nghiên cứu về phương pháp đánh giá Phương pháp đánh giá nói chung và đặc biệt là phương pháp so sánh nói riêng là phương pháp được sử dụng phổ biến nhất trong các nghiên cứu về phân tích HQKD. Điển hình như: PGS.TS Nguyễn Trọng Cơ, PGS.TS Nghiêm Thị Thà [38], [39], các tác giả PGS.TS Nguyễn Năng Phúc [27], [28], tác giả PGS.TS Nguyễn Ngọc Quang [29] đều đề cập rất chi tiết đến phương pháp đánh giá đặc biệt là phương pháp so sánh như điều kiện sử dụng, xác định gốc so sánh và kỹ thuật so sánh, đồng thời đã giới thiệu về phương pháp phương pháp phân chia, phương pháp liên hệ đối chiếu và phương pháp đồ thị.
Tuy nhiên, ở những nghiên cứu này chỉ đưa ra các phương pháp chung chứ không áp dụng cho từng ngành cụ thể nên khi áp dụng và từng ngành, từng DN thì cần phải linh động phù hợp với đặc thù ngành nghề và đặc điểm kinh doanh của các DN. 4 Tác giả Phạm Trọng Bình [53], tác giả Phạm Thị Gái [49], tác giả Trương Đình Hẹ [60], tác giả Phùng Thị Thanh Thủy [55], tác giả Nguyễn Thị Minh Tâm [35], tác giả Huỳnh Đức Lộng [22], tác giả Nguyễn Trọng Cơ [40], tác giả Nguyễn Thị Quyên [36], tác giả Phạm Xuân Kiên [54], tác giả Nguyễn Thị Cẩm Thúy [33], tác giả Phạm Thị Quyên [50]… Điểm chung của những đề tài trên trên là các tác giả đã sử dụng phương pháp đánh giá cụ thể là phương pháp so sánh và phương pháp đồ thị để phân tích tài chính nói chung và phân tích HQKD trong các DN của những nhóm ngành cụ thể như dệt may, khai thác, các doanh nghiệp nhà nước… Tuy nhiên, nhóm các công trình nghiên cứu trên mới chỉ đưa ra phương pháp so sánh giữa hai năm với nhau, chưa so sánh nhiều năm và chưa so sánh với chỉ tiêu trung bình ngành. Các công trình nghiên cứu về phương pháp phân tích nhân tố Phương pháp phân tích nhân tố cũng là một trong những phương pháp được các tác giả đề cập đến nhiều trong các nghiên cứu của mình. Các nghiên cứu tiêu biểu như: PGS.TS Nguyễn Trọng Cơ, PGS.TS Nghiêm Thị Thà [38], [39], tác giả GS.TS Nguyễn Văn Công [43], [44], tác giả PGS.TS Nguyễn Năng Phúc [28], tác giả PGS.TS Nguyễn Ngọc Quang [29] đều đề cập rất chi tiết đến phương pháp phân tích nhân tố bao gồm phương pháp Dupont, phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố, và phương pháp phân tích tính chất của các nhân tố.
Những nghiên cứu này chỉ mang tính giới thiệu các phương pháp chung chứ không áp dụng cho từng ngành cụ thể.