CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN VÀ VỐN ĐỂ PHÁT TRIỂN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 1.1 Khái niệm nuôi trồng thủy sản. NTTS là hoạt động sản xuất dựa trên cơ sở kết hợp giữa tài nguyên thiên nhiên sẵn có (mặt nước biển, nước sông ngòi, ao hồ, ruộng trũng, sông cụt, đầm phá, khí hậu.) với hệ sinh vật sống dưới nước (chủ yếu là cá, tôm, và thủy sản khác.) có sự tham gia trực tiếp của con người. Hoạt động này ở Việt Nam bao gồm nuôi, trồng các loại thủy sản nước ngọt, nước lợ và nước mặn.
Các loại thủy sản nuôi trồng chủ yếu hiện nay là: tôm sú, tôm càng xanh, cá biển (cá song, cá hồng, cá cam, cá vược, cá bớp, cá chẽm, cá măng…), cá nước ngọt (cá tra, cá ba sa, cá chép, cá mè, rô phi, trê phi, trắm cỏ, cá trôi, bống tượng, tai tượng, cá quả, sặc rằn, cá lóc…) các hình thức nuôi chủ yếu là: - Nuôi tôm sú theo phương pháp công nghiệp và bán công nghiệp, quảng canh, quảng canh cải tiến. - Nuôi cá biển trong lồng bè trên mặt nước biển, sông, đầm phá, ven biển, sông cụt, chủ yếu là cá chẽm, cá mú, cá tra, cá ba sa, cá bống tượng, cá trôi, cá cá chép, cá mè, ba ba, lươn, ếch. - Nuôi tôm càng xanh. - Nuôi nhuyễn thể: ngao, nghêu, sò huyết, ốc.
- Nuôi thủy sản ao hồ, đìa, hầm. - Nuôi thủy sản trên ruộng trũng, ruộng lúa. - Trồng rong biển, các đối tượng chủ yếu là rong câu chỉ vàng, rong mơ, rong kỳ lân, rong cước và rong sụn. *Chủ thể nuôi: các tổ chức (DN, HTX, tổ hợp tác), hộ gia đình, cá nhân.
Như vây, hoạt động NTTS rất đa dạng cả về phương thức nuôi, đối tượng nuôi, mặt nước nuôi trên cơ sở tận dụng các loại diện tích đất, mặt nước bỏ hoang, mặt nước biển, nước sông suối, dòng chảy, hồ thủy lợi, thủy điện. hoặc diện tích đất có mặt nước đang sử dụng kém hiệu quả trong nông nghiệp, lâm nghiệp. Đặc điểm của nuôi trồng thủy sản. NTTS có các đặc điểm như sau: - NTTS là một ngành phát triển trên phạm vi cả nước và có đối tượng phức tạp so với các ngành sản xuất khác.
Tính chất rộng khắp của ngành thủy sản thể hiện nghề NTTS phát triển ở khắp các vùng trong nước từ đồng bằng, trung du, miền núi cho đến các vùng ven biển, ở đâu có diện tích mặt nước là ở đó có thể phát triển nghề NTTS. Song, mỗi vùng có điều kiện địa hình, khí hậu, thời tiết khác nhau nên có sự khác nhau về đối tượng sản xuất, về quy trình kỹ thuật, về mùa vụ sản xuất. Do đó, trong công tác quản lý và chỉ đạo sản xuất của ngành thủy sản cần lưu ý đến các vấn đề như: xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch, chính sách giá cả, vốn đầu tư cho phù hợp đối với từng khu vực, từng vùng lãnh thổ. - Trong NTTS đất đai, diện tích mặt nước vừa là tư liệu sản xuất chủ yếu vừa là tư liệu sản xuất đặt biệt không thể thay thế được.
Nếu không có đất đai, diện tích mặt nước thì không thể tiến hành NTTS được. Đất đai không những là tư liệu sản xuất mà còn là tư liệu sản xuất đặc biệt, khác với các tư liệu sản xuất khác. Do diện tích đất đai, mặt nước có giới hạn, vị trí của chúng cố định, sức sản xuất của chúng thì không giới hạn và nếu biết sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai, diện tích mặt nước không những không bị hao mòn đi mà còn tốt hơn (tức độ phì nhiêu, độ màu mỡ của đất đai, diện tích mặt nước ngày một tăng); mặt khác đất đai, diện tích mặt nước là tư liệu sản xuất không đồng nhất về mặt chất lượng do cấu tạo thổ nhưỡng, địa hình, vị trí dẫn đến độ màu mỡ của đất đai, diện tích mặt nước giữa các vùng thường là khác nhau. Chính vì vậy, khi sử dụng đất đai, diện tích mặt nước phải hết sức tiết kiệm, phải quản lý chặt chẽ đất đai diện tích mặt nước trên cả 3 mặt: pháp chế, kinh tế và kỹ thuật.
- NTTS có tính thời vụ cao. Trong NTTS ngoài sự tác động trực tiếp của con người, các đối tượng nuôi còn chịu sự tác động của môi trường tự nhiên. Nhân tố cơ bản quyết định tính thời vụ là quy luật sinh trưởng và phát triển của các đối tượng nuôi trồng, những biểu hiện chủ yếu của tính thời vụ trong NTTS là: Đối với mỗi đối tượng nuôi trồng, các giai đoạn sinh trưởng, phát triển diễn ra trong các khoảng thời gian khác nhau của mùa vụ sản xuất nên đòi hỏi thời gian, hình thức và mức độ tác động trực tiếp của con người tới chúng cũng khác nhau. Có thời gian đòi hỏi lao động căng thẳng, có thời gian ít căng thẳng.
Cùng một đối tượng NTTS nhưng ở những vùng có điều kiện khí hậu, thời tiết khác nhau thường có mùa vụ sản xuất khác nhau. Các đối tượng NTTS khác nhau có mùa vụ sản xuất khác nhau. Tính thời vụ trong NTTS có xu hướng dẫn tới tính thời vụ trong việc sử dụng các yếu tố sản xuất nhất là sức lao động, công cụ lao động và đất đai, diện tích mặt nước. Do điều kiện lao động thủ công, điều kiện tự nhiên, thời tiết diễn biến bất thường, tính thời vụ trong NTTS càng gây nên nhiều vấn đề phức tạp trong tổ chức quản lý sản xuất và kinh doanh.
Mặt khác, tính thời vụ trong NTTS còn ảnh hưởng và đòi hỏi ngành thủy sản phải có kế hoạch và tổ chức thực hiện tốt việc thu hoạch, tiêu thụ sản phẩm (bao gồm cả xác định giá bán theo mùa cho phù hợp). - Đối tượng sản xuất của ngành NTTS là những cơ thể sống. Chúng sinh trưởng, phát sinh, phát triển và phát dục theo các quy luật sinh học. Do đó, trong quá trình sản xuất chúng luôn luôn đòi hỏi sự tác động thích hợp của con người và tự nhiên để sinh trưởng và phát triển.
Vì thế, có hàng loạt các vấn đề cần nghiên cứu, giải quyết để đạt năng suất các đối tượng NTTS cao như: nâng cao chất lượng con giống, quản lý chất lượng môi trường và xây dựng các quy trình sản xuất tiên tiến cho năng suất cao. - Một số sản phẩm thủy sản sản xuất ra được giữ lại làm giống để tham gia vào quá trình tái sản xuất vụ sau. Trong NTTS một số sản phẩm như: đàn cá thịt, tôm thịt được tuyển chọn làm cá bố mẹ hoặc tôm bố mẹ để cho đẻ trong quy trình sản xuất tiếp theo. Do đó, trong quá trình NTTS phải quan tâm đến việc sản xuất, nhân ra các loại giống tốt.
Đồng thời, ngành thủy sản phải quan tâm xây dựng một hệ thống giống quốc gia, hệ thống giống cho từng vùng, từng khu vực. Ngoài những đặc điểm trên, NTTS Việt Nam còn có những đặc điểm riêng. Đó là: Ngành NTTS Việt Nam có từ lâu đời, song hiện tại vẫn trong tình trạng của một nền sản xuất nhỏ, phân tán, lao động chủ yếu còn là thủ công. Cơ cấu ngành thủy sản đang chuyển dịch theo yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN.
Do đó, ngành NTTS phải thấy hết những tồn tại khó khăn của nền sản suất nhỏ, đó là: cơ sở vật chất kỹ thuật còn thấp, trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật và quản lý của cán bộ, nông dân ở nhiều nơi, nhất là các vùng dân tộc, vùng sâu, vùng xa còn quá yếu kém, tâm lý người sản xuất nhỏ, phân tán, lạc hậu,. để quản lý sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao. Phải nhận thức đúng tính tất yếu của sự tồn tại nhiều hình thức sở hữu trong ngành NTTS, trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần và thực hiện tốt những quy định của Nhà nước về đổi mới quản lý kinh tế trong NTTS. Trong NTTS đất đai, diện tích mặt nước phân bố không đều giữa các vùng cũng ảnh hưởng đến công tác quản lý NTTS.
Đặc điểm này đòi hỏi ngành NTTS phải có kế hoạch khai thác, sử dụng đầy đủ các loại đất đai diện tích mặt nước hiện có; mặt khác phải tiến hành cân đối lao động, bồi dưỡng và nâng cao trình độ lao động, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa. Nghề NTTS Việt Nam chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới ẩm có pha trộn ít khí hậu vùng ôn đới. Tài nguyên khí hậu, một mặt tạo ra nhiều thuận lợi cho ngành NTTS: có thể nuôi trồng được nhiều đối tượng có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới và những đối tượng có nguồn gốc từ các vùng ôn đới, đồng thời có thể nuôi được nhiều vụ trong một năm; mặt khác, khí hậu nước ta cũng gây ra những khó khăn phức tạp cho ngành NTTS như: bão lụt, gió mùa Đông Bắc, sương muối, các vùng ven biển sóng gió thủy triều, sóng thần,. Do đó, ngành thủy sản cần có những phương án đề phòng để chinh phục và cải tạo thiên nhiên, đảm bảo năng suất sản lượng cao và ổn định.
VAI TRÒ CỦA NTTS TRONG CƠ CẤU KINH TẾ VIỆT NAM Sự phát triển của hoạt động NTTS đã trở thành một bộ phận quan trọng trong cơ cấu kinh tế nói chung và nông, lâm nghiệp, thủy sản nói riêng ở nước ta. Trong điều kiện nguồn lợi thủy sản ven bờ bị cạn kiệt, khai thác thủy sản xa bờ có nhiều khó khăn do thiên tai, bão lũ, chi phí lớn, phương tiện hiện đại đầu tư lớn thì NTTS là hướng phát triển ổn định và lâu dài đối với các nước có biển cũng như không có biển. Vai trò của hoạt động NTTS đối với phát triển kinh tế - xã hội thể hiện trên nhiều mặt: thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn, nhất là vùng ven biển; tạo nguồn nguyên liệu quý giá cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu; tạo việc làm tăng thu nhập cho dân cư nhất là vùng nông thôn ven biển; bảo vệ môi trường sinh thái; góp phần bảo vệ nguồn lợi thủy hải sản tự nhiên trên sông, biển. Nhận thức được vai trò đó, Đảng và Nhà nước ta rất coi trọng và đánh giá cao vai trò của NTTS trong sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước trong mọi giai đoạn.
Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nước ta; vai trò của thủy sản nói chung và NTTS nói riêng càng được coi trọng.