PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài : Kinh tế thủy sản là thế mạnh thứ hai của tỉnh Kiên Giang và là ngành có khả năng tạo ra sản phẩm hàng hóa có giá trị cao. Với 200 km bờ biển và 63.000 km2 ngư trường, nguồn lợi thủy sản phong phú, hàng năm sản lượng khai thác đạt tương đối lớn. Tuy nhiên hiện nay vấn đề cốt lõi là vốn đầu tư và cơ chế chính sách cũng như việc định hướng chiến lược phát triển ngành nghề thủy sản thực tế còn đòi hỏi cần có thêm nhiều chính sách mới, giải pháp mới đồng bộ của Nhà nước để không chỉ khôi phục mà điều quan trọng hơn là đầu tư chiều sâu, xây dựng chiến lược thủy sản thật sự vững mạnh để đáp ứng với yêu cầu của chiến lược kinh tế biển của Tỉnh.
Kinh tế thủy sản là ngành kinh tế quan trọng và có tiềm năng lớn của tỉnh Kiên Giang, trong những năm qua tuy có phát triển nhưng chưa đáp ứng với yêu cầu của xã hội, chưa tương xứng với khả năng nguồn lợi to lớn của ngành, nhất là ngành chế biến thủy sản: Tuy đã có được uy tín tương đối tốt tại một số thị trường thủy sản truyền thống, việc được xuất hàng trực tiếp sang Châu Âu, Bắc Mỹ cũng là bước nhảy của ngành, tạo thêm lực đẩy cho xuất khẩu thủy sản phát triển, nhưng sản phẩm thủy sản xuất khẩu của Kiên Giang hiện nay vẫn còn ở dạng nguyên liệu, bán thành phẩm nhiều, để đạt được hiệu quả trong sản xuất kinh doanh cần xử lý nhiều vấn đề, trong đó các vấn đề về quản lý, tiền vốn, công nghệ, con người, thị trường… mà thị trường là yếu tố quan trọng. Là một ngành kinh tế kỹ thuật mang tính khép kín từ các khâu sản xuất nguyên liệu như khai thác, nuôi trồng thủy sản đến các khâu chế biến và dịch vụ hậu cần nghề cá, kinh tế nghề cá của tỉnh Kiên Giang trong giai đoạn 2005 – 2010 muốn phát triển đi lên cần phải tranh thủ mọi nguồn vốn để đầu tư đầy đủ và đồng bộ ở tất cả các khâu trong qui trình sản xuất khép kín của mình. Nhằm khuyến khích đầu tư và phát triển các lĩnh vực thủy sản, UBND Tỉnh và sở Thủy sản Kiên Giang đã rất quan tâm đến sự phát triển của ngành, đã xây dựng các dự án và cũng đã có nhiều biện pháp để hỗ trợ. Chính vì những cơ hội, thách thức và tiềm năng của tỉnh Kiên Giang hiện tại cũng như tương lai về phát triển thủy sản tôi đã nghiên cứu đề tài : Một số giải pháp góp phần phát Trang 2 triển ngành thủy sản tỉnh Kiên Giang đến năm 2010” để góp một phần vào tiến trình phát triển của ngành Thủy sản Kiên Giang.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Như chúng ta đã biết Kiên Giang là tỉnh được thiên nhiên ưu đãi, có bờ biển dài và sản lượng hải sản lớn, có rất nhiều tiềm năng và lợi thế phát triển trong khai thác, nuôi trồng và chế biến thủy sản. Tuy nhiên trong đề tài này tôi chỉ đánh giá một cách tổng quan về ngành thủy sản Kiên Giang. Những nội dung nghiên cứu và phân tích, đánh giá trong đề tài chỉ đi sâu một số lĩnh vực như vấn đề về thị trường, nuôi trồng và chế biến từ đó tìm ra các giải pháp mang tính qui hoạch chiến lược cho sự phát triển đi lên của ngành. Các phương pháp nghiên cứu : + Phương pháp thu thập dữ liệu : - Dữ liệu thứ cấp:.
Từ các báo cáo tổng kết và tài liệu hội thảo về phát triển thủy sản của địa bàn nghiên cứu. Các số liệu niên giám thống kê, bộ thủy sản, cùng với nguồn số liệu phong phú trên internet. - Dữ liệu sơ cấp:. Khảo sát ghi nhận thông tin cần thiết về các vấn đề cần nghiên cứu.
Phỏng vấn trực tiếp các cán bộ chủ chốt của ngành trên địa bàn nghiên cứu. Phỏng vấn một số ngư dân. + Phương pháp nghiên cứu, phân tích: Trong luận văn này các phương pháp nghiên cứu, phân tích trong quản trị được sử dụng gồm: phương pháp lịch sử, phương pháp mô tả, phương pháp nghiên cứu tương quan kết hợp với các kỹ thuật so sánh, thống kê, dự báo nhằm xem xét và phân tích sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng và có hệ thống, để từ đó phát hiện ra những thuận lợi cũng như những bất cập nhằm tạo cơ sở cho việc đề ra giải pháp hợp lý cho việc phát triển ngành thủy sản tỉnh Kiên Giang. Trang 3 PHẦN MỘT : TỔNG QUAN VỀ NGÀNH THỦY SẢN I.
ĐẶC ĐIỂM SẢN XUẤT KINH DOANH TRONG NGÀNH THỦY SẢN: Mỗi ngành, mỗi địa phương đều có lịch sử hình thành và phát triển. Trên bước đường lịch sử đó, mỗi ngành, mỗi địa phương đã xây dựng nên những truyền thống tốt đẹp, làm nền tảng cho các bước phát triển sau này. Ngành thủy sản được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn, đã có quá trình phát sinh và phát triển lâu đời gắn liền với việc xây dựng và phát triển nền kinh tế của đất nước. Nghề cá nhân dân đã nêu cao truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm từ thực dân Pháp đến đế quốc Mỹ, và tiếp tục truyền thống kiên cường bất khuất đó, đã đạt nhiều thành tựu trong công cuộc đổi mới do Đảng lãnh đạo.
Truyền thống tốt đẹp của nghề cá nhân dân là vốn quý của ngành thủy sản, không chỉ cho bây giờ mà còn cho mãi mãi các thế hệ mai sau.1 Đặc điểm về sản xuất : Ngành thủy sản là ngành kinh tế có khả năng tạo ra sản phẩm hàng hóa có giá trị kinh tế cao, góp phần tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu cho các địa phương, cũng như giải quyết việc làm cho người lao động. Mục tiêu phát triển kinh tế thủy sản giai đoạn 2005 – 2010 mở ra triển vọng cho các ngành khai thác, nuôi trồng, chế biến và dịch vụ hậu cần nghề cá những điều kiện thuận lợi để đầu tư, nâng cấp, phát triển sản xuất một cách đồng bộ. Gắn nhiệm vụ phát triển kinh tế thủy sản với công tác bảo vệ an ninh quốc phòng vùng biển, ngư dân vừa bám biển sản xuất vừa bảo vệ an ninh quốc phòng trong đó hải đoàn tự vệ biển thuộc các Công ty quốc doanh đánh cá các tỉnh thành phối hợp với các lực lượng vũ trang đã và luôn làm nòng cốt trong công tác an ninh quốc phòng trên biển, bảo vệ môi sinh, môi trường, bảo vệ nguồn lợi thủy sinh vật và cảnh quan thiên nhiên theo những mục tiêu ổn định, lâu bền và đa dạng sinh học. - Về khai thác thủy sản: Ngành nghề khai thác thủy sản của Việt Nam đa dạng, năng lực sản xuất đã tăng lên về số phương tiện và tổng công suất máy.
Khuynh hướng đóng tàu mới có công suất lớn khai thác xa bờ ngày một nhiều, ngư trường sản xuất được mở rộng ra các khu vực Biển Đông và Trường Sa. Lực lượng khai thác tuyến khơi phát triển góp phần giữ gìn an ninh trật tự vùng biển. Trang 4 - Về nuôi trồng thủy sản: Việt Nam là một trong những nước nằm trong nhóm các nước sản xuất nguyên liệu cho chế biến và xuất khẩu lớn trên thế giới với nhiều loại hình, phương thức nuôi đa dạng, phong phú và ngày càng tiến bộ như: nuôi tôm mặn, lợ; nuôi cá ao hầm, mương vườn; nuôi cá ruộng lúa; nuôi cá rừng tràm, nuôi thâm canh, bán thâm canh, nuôi sinh thái, nuôi tôm trên đất cát… Đặc biệt do thiên nhiên ưu đãi về nguồn tôm giống và thức ăn tự nhiên phong phú nên nghề nuôi tôm nước lợ có bước phát triển nhanh chóng trong thời gian gần đây. - Các sản phẩm chủ yếu của thủy sản Việt Nam là: + Tôm đông: ở dưới dạng tôm vỏ và thịt block 2 kg tịnh.
+ Cá đông: nguyên con hoặc fillet. - Về trang thiết bị sản xuất: Cao trào cải tạo và nâng cấp toàn diện các các xí nghiệp hiện có, sự ra đời của hàng chục cơ sở chế biến thủy sản thế hệ mới đã làm thay đổi hẳn diện mạo của ngành công nghiệp chế biến thủy sản Việt Nam. Đặc điểm sản phẩm và xu hướng sử dụng sản phẩm thủy sản : Sản phẩm thủy sản Việt Nam rất được thị trường trong và ngoài nước ưa chuộng vì từ năm 1994 trở lại đây ngành thủy sản Việt Nam chú trọng nâng cấp cũng như đầu tư, quan tâm tiếp cận với nhu cầu khách hàng nên các mặt hàng cũng được nâng dần chất lượng (nhiều sản phẩm chủ yếu đạt tiêu chuẩn qui định cả trong và ngoài nước), qui cách mẫu mã, đa dạng hóa mặt hàng, thị trường cũng được mở rộng hơn. Đặc biệt các mặt hàng chủ lực như Tôm, nước mắm Phú Quốc, nước mắm Phan Thiết – Bình Thuận, khô các loại (khô mực, khô thiều đường, khô đuối, tôm khô, cá cơm sấy…) là các sản phẩm rất được người tiêu dùng trong và ngoài nước ưa chuộng, tín nhiệm và đã có mặt trên thị trường thế giới.
Chính kỹ thuật sản xuất mang tính cha truyền con nối của một số sản phẩm thủy sản cũng là đặc điểm riêng tạo ưu thế riêng cho các sản phẩm thủy sản Việt Nam. Thị trường tiêu thụ :Từ năm 2000, một cơ cấu thị trường mới cho ngành thủy sản cũng đã được thiết lập. Theo đó, thị trường Nhật Bản chiếm 33%, Mỹ chiếm Trang 5 22%, Trung Quốc chiếm 19%, EU chiếm 7%, các thị trường khác là 19%, tạo thế cân bằng có lợi cho thủy sản Việt Nam. Thị trường tiêu thụ sản phẩm thủy sản Việt Nam đã vượt ra khỏi biên giới quốc gia và đang thâm nhập dần vào thị trường quốc tế đặc biệt là hai thị trường khó tính là Mỹ và Châu Âu.
Hiện nay thị trường tiêu thụ sản phẩm thủy sản Việt Nam không chỉ dừng lại ở các nước trong khu vực Châu Á như Thái Lan, Nam Triều Tiên, Singapore, Malaysia, Nhật…mà còn mở rộng sang các nước Châu Âu như Pháp, Ý , Thụy Sĩ, Đan Mạch…với kim ngạch xuất khẩu ngày càng tăng. Tuy nhiên khó khăn nảy sinh trong năm 2004 cũng rất lớn đó là vụ kiện bán phá giá tôm của Mỹ đã gây ách tắc cho việc chế biến và xuất khẩu mặt hàng tôm, nhất là bị ép giá; tôm nguyên liệu còn rớt giá,bấp bênh làm ảnh hưởng đến người nuôi. CÁC YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN NGÀNH THỦY SẢN: I. Tác lực kinh tế: Các yếu tố kinh tế chi phối hoạt động của ngành, của doanh nghiệp.