Chương I: giới thiệu Chương này gồm đặt vấn để, nêu mục đích, phạm vi nghiên cứu và nội dung nghiên cứu, sơ lược về cấu trúc luận văn. Chương II: cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Trình bày vai trò của Hội nghề cá Việt Nam, Thực trạng phát triển thuỷ sản và chế biến xuất khẩu thuỷ sản ở Việt Nam Vai trò của Hội nghề cá tỉnh Đồng Tháp. Thực trạng phát triển nuôi trồng và chế biến thuỷ sản ở tỉnh Đồng Tháp, Ý nghĩa, mục đích của Hội nghề cá Đề cập đến phương pháp thu thập số liệu, phân tích Chương II: Tổng quan Tổng quan về điều kiện tự nhiên và xã hội của tỉnh Đồng Tháp. Chương: IV kết quả nghiên cứu và thảo luận Định nghĩa: phát triển thuỷ sản bển vững Phương hướng chủ yếu phát triển và nâng cao hiệu quả ngành thuỷ sản ở Đồng Tháp trong thời gian tới.
Sự hình thành và phát triển Hội nghề cá tỉnh. Các hoạt động của Hội nghề cá. Quá trình hoạt động. Kế hoach hoạt động.
Nội dung hoạt động. Sự tham gia Hội nghề cá. Quyền và nghĩa vụ tham gia Hội nghề cá. Các tiêu chí Hội viên.
Những thuận lợi và khó khăn. Mục tiêu Phương hướng hoạt động V) Kết luận và kiến nghị. Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Vai trò của Hội nghề cá Việt Nam. Tuyên truyén giáo dục Hội viên hiểu rõ đường lối, chủ chương của Dang, chính sách pháp luật của Nhà Nước về xây dựng và phát triển Hội nghề cá trong các thành phan kinh tế; báo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sắn; bảo hộ an toàn lao động; bảo vệ an ninh quốc phòng miễn biển.
Hợp tác giúp đỡ nhau về kinh tế- kỹ thuật trong sản xuất kinh doanh dịch vụ nghề cá, trao đổi kinh nghiệm, phổ biến và ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ mới; đoàn kết giúp nhau phòng chống thiên tai, dịch bệnh, khó khăn trong đời sống Hội tổ chức các cơ sở dịch vụ, hậu cần, tư vấn về nghề cá phục vụ cho Hội viên và người làm nghề cá; liên doanh liên kết để sản xuất- kinh doanh theo đúng các quy định của Nhà Nước nhằm phát triển nghề cá, tạo kinh phí cho hoạt động của Hội. Tổ chức khuyến ngư tự nguyện, phối hợp với tổ chúc khuyến ngư của ngành phổ biến những tiến bộ kỹ thuật, những công nghệ mới, những điển hình sắn xuất giỏi; nâng cao tay nghề, bồi dưỡng trình độ quan lý kinh tế cho hội viên; cung cấp thông tin, thị trường giá cả để Hội viên bố trí lại sản xuất-kinh doanh ổn định, đạt hiệu quả kinh tế cao, từ đó củng cố và phát triển Hội. Hội tổ chức hoặc tham gia tích cực vào các dự án đào tạo, huấn luyện ngư dân, dự án tạo việc làm, chương trình xoá đói giảm nghèo, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho Hội viên. Hợp tác chặt chẽ với cơ quan, đoàn thể trong việc phát triển kinh tế.
Kiến nghị góp ý với các tổ chức Đảng và Nhà Nước về những chủ chương, luật pháp, chính sách, biện pháp khuyến khích, giúp đỡ phát triển nghề cá, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Hội viên và thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà Nước. Xây dựng và phát triển các mối quan hệ quốc tế của Hội nghề cá khu vực Đông Nam A và các nước; với Hội nuôi thuỷ sản thế giới, với các cá nhân, tổ chức quốc tế theo qui định của pháp luật.2 Thực trạng phát triển muôi trồng và chế biến thuỷ sản ở Việt Nam. Bảng 1: Kinh Tế Thuỷ Sản Việt Nam Trong Thời Kỳ Đổi Mới. Tổngsản Sảnlượng Sảnlượng Giá trị Tổngsố Diện tích lượng thuỷ khaithác khaithác xuất khẩu tàu nuôi trồng NĂM sản(tấn) thuỷ san thuỷ sản (triệuusd) thuyển thuỷ sản (tấn) (tấn) (chiếc) (ha) 1990 1.900 Nguồn: Tổng Cục Thống Kê Ngành thuỷ san cùng với nhiều mặt và tăng trưởng liên tục trong những năm qua đã đóng vai trò ngày càng to lớn trong hinh tế xã hội Việt Nam ngay từ đầu năm 1993, tai hội nghị Trung Ương 5 khoá VI, ngành thuỷ sản đã được khẳng định xây dựng thành nền kinh tế mũi nhọn.
Gần đây trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2001-2010 và phương hướng nhiệm vụ kế hoạch 5 năm 2001-2005 được đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Dang thông qua cũng nêu rõ “phát huy lợi thé về thuỷ sản, tạo thành một nền kinh tế mũi nhọn “. Được sự quan tâm và ưu tiên như vậy, ngành thuỷ sắn có sự tăng trưởng liên tục, sản lượng tăng gấp 4 lần và giá trị xuất khẩu gấp khoảng 135 lần trong vòng 20 năm. Điều quan trọng là, cùng với sự tăng trưởng đó, nguồn thực phẩm protein động vật cho nhân dân được cải thiện, tăng thu nhập ngoại tỆ, góp phần quan trọng cho tăng xuất khẩu và giá trị quốc nội (GDP) cho đất nước, tạo công ăn việc làm cho hàng triệu lao động nông thôn và ven biển, kết hợp phát triển kinh tế với giữ gìn vùng biển của tổ quốc cũng như an ninh xã hội vùng biển, đặc biệt với thế mạnh trong sản xuất hàng hoá- thuỷ sẩn, đã góp phần quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nông Nghiệp. Đất nước đang bước vào thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm 2001-2010.
Sự phát triển mạnh mẽ và định hướng theo tinh thân đẩy mạnh Công Nghiệp Hoá, Hiện Đại Hoá, nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh và đảm bảo phát triển bén vững, góp phân cải thiện đời sống vật chất và tinh thân cho cộng đồng dân cư ven biển sẽ là nhiệm vụ hàng đầu cho ngành thuỷ sản, nhưng với kinh nghiệm những năm qua, dưới ánh sáng của đường lối đối mới của Dang ta khỡi xướng và lãnh đạo, được sự chỉ đạo tập trung của Chính Phủ và của ngành đặc biệt là chính sách cụ thể để phát huy nội lực, sự đầu tư thoả đáng cũng như với những chính sách đúng đắn trong sử dụng hợp lý tài nguyên biển và các mặt nước nội địa, ngành thuỷ sản sẽ phát triển mạnh mẽ hơn, có sự thay đổi về chất rõ rệt để có thể vươn lên hàng đầu trong khu vực và có vị thế xứng đáng trên thế giới. * Những thành tựu và hạn chế của kinh tế thuỷ sản nước ta trong thời gian qua. Nước ta đã trải qua chặng đường 17 năm đổi mới, đã thực hiện thắng lợi chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm 1991-2000 và kế hoạch 5 năm 1996- 2000. Các chỉ tiêu chủ yếu để ra trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội ngành thuỷ sản thời kỳ 1991-2000 cũng như cho kế hoạch 5 năm 1996-2000 đã hoàn thành vượt mức.
Các hoạt động khai thác, nuôi trồng, chế biến, hậu cần dịch vụ và xuất khẩu thuỷ sắn đã có bước tiến rõ rệt về kết quả sản xuất kinh doanh, cũng như về năng lực sản xuất thủy sản theo hướng Công Nghiệp Hoá, Hiện Đại Hoá, bảo đảm thế mạnh xuất khẩu và sử dụng hợp lý, bén vững nguồn tài nguyên trên các loại hình mặt nước với bước tiến rõ nhất là đã bắt đấu tiến ra khai thác nguồn tài nguyên xa bờ, đồng thời với phát triển mạnh các vùng nuôi các đối tượng hàng hoá phục vụ cho xuất khẩu. Hiện nay nước ta đang có những thuận lợi cơ bản để phát triển ngành thuỷ sản, nhất là ngành nuôi trồng thuỷ sản, đó là: Đảng và Nhà Nước rất quan tâm, các tầng lớp nhân dân nhận thức rất rõ tầm quan trọng của bước di đầu tiên là Công Nghiệp Hoá Nông Nghiệp; nông thôn:coi ngành thuỷ sản là mũi nhọn; coi Công Nghiệp Hoá Hiện Dai Hoá nông thôn là bước đi ban đầu quan trọng nhất; coi chuyển một bộ phận đất đai đang canh tác Nông Nghiệp và làm muối kém hiệu quả hơn sang nuôi trồng thuỷ hải sản là hướng đi chủ yếu của chuyển đổi cơ cấu kinh tế Nông Nghiệp và nông thôn. 10 Ngành thuỷ sản đã có một thời khá dài chuyển sang cơ cấu kinh tế mới của nên kinh tế hướng theo thị trường có sự quan lý của Nhà Nước: đã có sự cọ sát với kinh tế thị trường và đã tạo ra một nguồn nhân lực khá đổi dào trong tất cả mọi lĩnh vực từ khai tác chế biến, nuôi trồng đến thương mại. Trình độ nghiên cứu và áp dụng thực tiễn cũng đã tăng đáng kể.
Hàng thuỷ sản luôn giữ thế gia tăng, thế thượng phong và ổn định trên thi trường thực phẩm thế giới. Việt Nam có bờ biển dài và khí hậu nhiệt đới với sự da dang sinh hoc cao, vừa có nhiều thuỷ đặc sản quý giá được thế giới ưa chuộng, vừa có điều kiện phát triển hầu hết các đối tượng chủ lực mà thế giới cần, mặt khác có điệu kiện tiếp cận dễ đàng với mọi thị trường trên thế giới và khu vực. Nhìn chung, có thể phát triển thuỷ sản khắp các nơi trên đất nước, ở mỗi vùng có tiểm năng, đặc thù và sản vật đặc sản riêng. Việt Nam có một số vùng sinh thái đất thấp, đặc biệt là Đểng Bằng Sông Cửu Long và châu thổ Sông Hồng, nơi có thể đưa nước mặn vào rất sâu tạo ra một vùng nuôi nước lợi chuyên hoặc nuôi nước lợ hoặc nuôi trồng thuỷ sắn kết hợp với trồng lúa và các hợp đồng hợp tác Nông Nghiệp khác rộng lớn gần 1 triệu ha.
Trong hệ sinh thái này có thể tiến hành các hợp đồng nuôi thuỷ hải sản vừa có chất lượng cao, vừa có giá thành hạ mà các hệ thống canh tác khác không thể có những lợi tế cạnh tranh đó được. Lợi thế này đặc biệt phát huy thế mạnh trong cạnh tranh với hệ thống nuôi trồng công nghiệp khi giá cả thuỷ sản trên thị trường thế giới ở mức thấp, nhất là mặt hàng Tôm. Việt Nam đang phát triển nuôi trồng thuỷ sản công nghiệp nên còn nhiều tiém năng đất đai để phát triển nuôi, còn nhiều tiềm năng các vùng biển để nuôi mà không ảnh hưởng tới môi trường sinh thái. Việc đưa thành công kỹ thuật nuôi hải sản trên cá vùng cát ven biển đã mở ra một tiểm năng và triển vọng mới cho 1 việc phát triển vùng nuôi Tôm và các hải sản khác theo phương thức nuôi công nghiệp , nhất là đối với vùng duyên hải dọc theo bờ biển miễn trung.
Khả năng vừa mang ý nghĩa đẩy nhanh tốc độ phát triển nuôi trồng thuỷ san thâm canh, sử dụng tài nguyên xưa nay bỏ phí, vừa có ý nghĩa thiết thực trong công cuộc xoá đói giảm nghèo, đồng thời cũng là một giải pháp hữu hiệu nhằm cải tạo và bảo vệ môi trường vùng ven biển.