ĐẶT VẤN ĐỀ Sử dụng thuốc thiếu hiệu quả, bất hợp lý nói chung và trong bệnh viện nói riêng đã và đang là vấn đề bất cập của nhiều quốc gia. Theo một số nghiên cứu, chi phí mua thuốc chiếm khoảng 30 - 40% ngân sách ngành Y tế của nhiều nƣớc và phần lớn số tiền đó bị lãng phí do sử dụng thuốc không hợp lý và các hoạt động cung ứng thuốc không hiệu quả [33]. Các nghiên cứu đã cho thấy tình trạng sử dụng thuốc bất hợp lý xảy ra tại nhiều nƣớc trên thế giới. Tại các nƣớc đang phát triển, 30 – 60% bệnh nhân sử dụng thuốc kháng sinh gấp 2 lần so với tình trạng cần thiết và hơn một nửa số ca viêm đƣờng hô hấp trên điều trị kháng sinh không hợp lý [31].
Ở nƣớc ta, với những chính sách mở cửa của cơ chế thị trƣờng và đa dạng hóa các loại hình cung ứng thuốc, thị trƣờng thuốc ngày càng phong phú về số lƣợng, chủng loại và cả nhà cung cấp. Điều này giúp cho việc cung ứng thuốc nói chung và cung ứng thuốc trong bệnh viện nói riêng trở lên dễ dàng và thuận tiện hơn. Tuy nhiên, nó cũng tác động không nhỏ tới hoạt động sử dụng thuốc trong bệnh viện, dẫn đến sự cạnh tranh không lành mạnh cũng nhƣ tình trạng lạm dụng thuốc. Việc dùng thuốc thiếu hiệu quả và bất hợp lý trong bệnh viện là nguyên nhân làm tăng đáng kể chi phí cho ngƣời bệnh, tăng khả năng kháng thuốc trong điều trị.
Việc quản lý DMT là rất quan trọng, có ảnh hƣởng đến chất lƣợng chăm sóc y tế. Do đó phân tích DMT giúp lựa chọn thuốc phù hợp và xác định vấn đề sử dụng thuốc, thúc đẩy sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả và giảm chi phí điều trị. Để có DMT tốt các trung tâm y tế, bệnh viện cần thu thập, phân tích tình hình sử dụng các năm trƣớc để bổ sung hoặc loại bỏ các thuốc mới một cách hợp lý, khoa học. DMT sử dụng phù hợp là yêu cầu cần thiết để đảm bảo cân bằng giữa hiệu quả điều trị, hiệu quả kinh tế trong việc cung ứng thuốc, đồng thời mức độ phù hợp giữa DMT sử dụng và DMT trúng thầu cũng cần đƣợc quan tâm nghiên cứu.
Có bất cập gì trong DMT sử dụng hay không? Trung 1 tâm sử dụng nhóm thuốc nào/đƣờng dùng nào nhiều nhất? Tỷ lệ thuốc nhập khẩu/ thuốc biệt dƣớc gốc chiếm tỷ trọng nhƣ thế nào? Đó là những câu hỏi mà trung tâm y tế quận Hồng Bàng mong có câu trả lời để công tác lựa chọn sử dụng thuốc đƣợc thực hiệt tốt hơn. Để có cái nhìn tổng thể về hoạt động cung ứng thuốc từ đó đƣa ra các đề xuất giúp HĐT&ĐT có giải pháp phù hợp, giải quyết các vấn đề tồn tại đảm bảo DMT đƣợc xây dựng sát với nhu cầu sử dụng, tối ƣu hóa trong lựa chọn thuốc và nâng cao hiệu quả kinh tế chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại trung tâm y tế quận Hồng Bàng – thành phố Hải Phòng năm 2020” với các mục tiêu: Mục tiêu 1: Phân tích cơ cấu thuốc sử dụng của Trung tâm y tế quận Hồng Bàng – thành phố Hải Phòng năm 2020. Mục tiêu 2: Xác định nguyên nhân của một số bất cập trong danh mục thuốc của Trung tâm y tế quận Hồng Bàng – thành phố Hải Phòng năm 2020. Các văn bản pháp quy - Thông tƣ số 23/2011/TT-BYT ngày 10/6/2011 của Bộ Y tế Hƣớng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có giƣờng bệnh “Chỉ dùng đƣờng tiêm khi ngƣời bệnh không uống đƣợc thuốc hoặc khi sử dụng thuốc theo đƣờng uống không đáp ứng đƣợc yêu cầu điều trị hoặc với thuốc chỉ dùng đƣờng tiêm”.
- Quyết định số 4824/QĐ-BYT ngày 03/12/2012 của Bộ trƣởng Bộ Y tế về việc phê duyệt Đề án Ngƣời Việt Nam ƣu tiên dùng thuốc Việt Nam: “mục tiêu giai đoạn 2 của đề án “Ngƣời Việt Nam ƣu tiên dùng thuốc Việt Nam” đặt ra đến 2020 tỷ lệ sử dụng thuốc sản xuất trong nƣớc chiếm khoảng 75% ở tuyến huyện”. - Thông tƣ 21/2013/TT-BYT ngày 08/8/2013 của Bộ y tế quy định hoạt động của HĐT & ĐT : „Ƣu tiên lựa chọn thuốc ở dạng đơn chất. Đối với những thuốc ở dạng phối hợp nhiều thành phần phải có đủ tài liệu chứng minh liều lƣợng của từng hoạt chất đáp ứng yêu cầu điều trị trên một quần thể đối tƣợng ngƣời bệnh đặc biệt và có lợi thế vƣợt trội về hiệu quả, tính an toàn hoặc tiện dụng so với thuốc ở dạng đơn chất”. “Thông thƣờng, sản phẩm hạng A chiếm 10 – 20% tổng số sản phẩm, hạng B chiếm 10 – 20% và còn lại là hạng C chiếm 60 -80%”.
- Quyết định số 68/QĐ-TTg về việc phê duyệt chiến lƣợc quốc gia phát triển ngành dƣợc Việt Nam giai đoạn đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 của thủ tƣớng chính phủ ngày 10/01/2014 thì mục tiêu cụ thể đến năm 2020 thuốc sản xuất trong nƣớc chiếm 80% tổng giá trị thuốc tiêu thụ trong năm, trong đó thuốc từ dƣợc liệu chiếm 30%. 3 - Thông tƣ 05/2015/TT-BYT ngày 17/3/2015 của Bộ y tế ban hành danh mục thuốc đông y, thuốc từ dƣợc liệu và vị thuốc y học cổ truyền thuộc phạm vi thanh toán của quỹ bảo hiểm y tế. - Công văn số 3968/BHXH-DVT của Bảo hiểm Xã hội Việt Nam gửi Bộ Y tế ngày 8/9/2017 về thống nhất tỷ lệ sử dụng BDG tại các cơ sở khám chữa bệnh theo chỉ đạo của Chính phủ: “Đối với bệnh viện hạng 3 trực thuộc Sở Y tế các tỉnh, thành phố và các cơ sở khám chữa bệnh tƣơng đƣơng: tỷ lệ sử dụng BDG không quá 4% so với tổng chi thuốc”. - Thông tƣ 30/2018/TT-BYT ngày 30/10/2018 của Bộ y tế về danh mục và tỷ lệ, điều kiện thanh toán đối với thuốc hóa dƣợc, sinh phẩm, thuốc phóng xạ và chất đánh dấu thuộc phạm vi đƣợc hƣởng của ngƣời tham gia bảo hiểm y tế.
Thông tƣ quy định về 1030 thuốc tân dƣợc phân thành 27 nhóm tác dụng dƣợc lý và 59 thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu nằm trong phạm vi thanh toán quỹ BHYT. - Thông tƣ 03/2019/TT-BYT ngày 28/3/2019 của Bộ y tế ban hành danh mục thuốc sản xuất trong nƣớc đáp ứng nhu cầu điều trị, giá thuốc và khả năng cung ứng thay thế cho thông tƣ 10/2016/TT-BYTcó hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 06 năm 2019. „Các cơ sở y tế khi lập hồ sơ yêu cầu, hồ sơ mời thầu phải quy định rõ không đƣợc chào thầu thuốc nhập khẩu cùng nhóm tiêu chí kỹ thuật với nhóm sản xuất trong nƣớc thuộc danh mục ban hành kèm theo thông tƣ này‟. - Thông tƣ số 15/2019/TT-BYT ngày 11/7/2019 của Bộ y tế Quy định việc đấu thầu thuốc tại các cơ sở y tế công lập thay thế thông tƣ 11/2016/TT-BYT có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 10 năm 2019: “Thủ trƣởng cơ sở y tế và nhà thầu trúng thầu chịu trách nhiệm thực hiện hợp đồng cung cấp thuốc theo đúng các quy định của pháp luật có liên quan về hợp đồng kinh tế, phải thực hiện tối thiểu 80% giá trị của từng phần trong hợp đồng đã ký kết.
Đối với thuốc cấp cứu, thuốc giải độc, thuốc hiếm, thuốc kiểm soát đặc biệt, dịch truyền và những tình huống khác sau khi báo cáo cơ quan có 4 thẩm quyền, cơ sở y tế bảo đảm thực hiện tối thiểu 50% giá trị của từng phần trong hợp đồng đã ký kết. Trƣờng hợp cơ sở y tế không thực hiện tối thiểu 80% giá trị của từng phần trong hợp đồng đã ký kết thì Thủ trƣởng cơ sở y tế phải báo cáo, giải trình lý do với ngƣời có thẩm quyền. Các trƣờng hợp sau đây đƣợc phép mua vƣợt nhƣng số lƣợng không đƣợc vƣợt quá 20% so với số lƣợng của nhóm thuốc đó trong hợp đồng đã ký và không phải trình duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu bổ sung: a) Đã sử dụng hết số lƣợng thuốc của các nhóm khác có cùng hoạt chất, nồng độ hoặc hàm lƣợng và chỉ còn số lƣợng thuốc trong gói thầu thuốc biệt dƣợc gốc hoặc tƣơng đƣơng điều trị; b) Các nhóm thuốc khác có cùng hoạt chất, cùng nồng độ hoặc hàm lƣợng đã trúng thầu nhƣng buộc phải dừng cung ứng hoặc thuốc bị đình chỉ lƣu hành, thuốc bị rút ra khỏi Danh mục thuốc có chứng minh tƣơng đƣơng sinh học sau khi đã trúng thầu; c) Nhà thầu chƣa cung cấp hết số lƣợng thuốc của một nhóm thuốc trong hợp đồng đã ký nhƣng không có khả năng cung cấp tiếp vì các lý do bất khả kháng, trong trƣờng hợp này phải có thông báo bằng văn bản kèm theo tài liệu chứng minh”. - Quyết định số 5631/QĐ-BYT ngày 31/12/2020 của Bộ y tế về việc hƣớng dẫn thực hiện quản lý sử dụng kháng sinh trong bệnh viện nhƣ sau: “Xây dựng hƣớng điều trị một số bệnh thƣờng gặp tại bệnh viện.
Xây dựng các kháng sinh dự phòng phẫu thuật. Xây dựng danh mục các kháng sinh cần ƣu tiên quản lý và các quy định giám sát sử dụng tại các cơ sở khám, chữa bệnh (Phụ lục 2) bao gồm hai nhóm: - Kháng sinh cần ƣu tiên quản lý - Nhóm 1; Kháng sinh cần theo dõi, giám sát sử dụng – Nhóm 2”. Các phƣơng pháp phân tích dữ liệu thuốc sử dụng tại cơ sở khám chữa bệnh Sử dụng thuốc không hợp lý là vấn đề đƣợc quan tâm trên toàn cầu vì những hậu quả nghiêm trọng mà nó mang lại nhƣ làm tăng đáng kể chi phí cho hoạt động chăm sóc sức khỏe, giảm chất lƣợng điều trị, tăng nguy cơ xảy ra các phản ứng có hại của thuốc. Trong các bệnh viện, HĐT&ĐT với nhiệm vụ tƣ vấn cho Giám đốc bệnh viện về việc sử dụng thuốc nhằm mục đích đảm bảo thuốc đƣợc sử dụng một cách hiệu quả, an toàn, hợp lý và kinh tế.
Để quản lý đƣợc việc sử dụng thuốc một cách hiệu quả cần có các phƣơng pháp phân tích dữ liệu và tổng hợp thông tin về thuốc. Từ những kết quả thu đƣợc, HĐT&ĐT sẽ có những biện pháp thích hợp nhằm quản lý và phát hiện ra các vấn đề về sử dụng thuốc. Để phân tích hoạt động sử dụng thuốc trong bệnh viện Hội đồng thuốc cần áp dụng các phƣơng pháp nhƣ: Phân tích ABC, phân tích nhóm điều trị, phân tích VEN, phân tích theo liều xác định trong ngày- DDD (Defined Daily Dose) và giám sát các chỉ số dùng thuốc [4]. Phương pháp phân tích ABC - Khái niệm: là phƣơng pháp phân tích mối tƣơng quan giữa lƣợng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách.