ĐẶT VẤN ĐỀ Trung tâm Y tế có chức năng cung cấp dịch vụ chuyên môn, kỹ thuật về y tế dự phòng và là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng và các dịch vụ y tế khác nhằm chăm sóc sức khoẻ cho ngƣời bệnh. Một trong những yếu tố quan trọng ảnh hƣởng đến công tác khám chữa bệnh trong Trung tâm Y tế là hoạt động cung ứng và sử dụng thuốc. Cung ứng thuốc đầy đủ kịp thời đồng thời đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý là nhiệm vụ trọng tâm của khoa Dƣợc mỗi bệnh viện.Việc lựa chọn và sử dụng thuốc không hợp lý không những ảnh hƣởng xấu đến công tác chăm sóc, khám chữa bệnh mà còn là nguyên nhân làm tăng chi phí đáng kể cho ngƣời bệnh, tạo gánh nặng cho nền kinh tế, xã hội. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trƣờng và tham gia hội nhập Tổ chức Thƣơng mại thế giới Việt Nam đã có những chuyển biến đáng kể, tăng thu nhập bình quân đầu ngƣời, tăng tuổi thọ trung bình, cải thiện khả năng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe.
Bên cạnh đó, sự phát triển của ngành công nghiệp Dƣợc đã mang lại lợi ích to lớn cho xã hội. Thuốc đƣợc sản xuất với số lƣợng lớn, đa dạng về chủng loại, chất lƣợng tốt hơn, và mạng lƣới phân phối phát triển rộng khắp. Tuy nhiên, sự đa dạng của thuốc cũng gây ra nhiều khó khăn, lúng túng trong việc lựa chọn, sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế. Sự cạnh tranh giữa các công ty dƣợc phẩm, giữa thuốc sản xuất trong nƣớc với thuốc nhập khẩu, cùng với việc sử dụng thuốc bất hợp lý và thiếu hiệu quả nhƣ: các thuốc không thiết yếu sử dụng với tỷ lệ cao, lạm dụng kháng sinh,vitamin.
đã tác động lớn đến tính hợp lý của danh mục thuốc bệnh viện. Vì vậy việc xây dựng đƣợc một danh mục thuốc bảo đảm phù hợp với mô hình bệnh tật và chi phí thuốc dùng trong bệnh viện, phù hợp về phân tuyến chuyên môn kỹ thuật và hạn chế tình trạng lạm dụng, sử dụng thuốc lãng phí và không hợp lý là việc cần thiết với mỗi Trung tâm. 1 Trung tâm y tế thành phố Hải Dƣơng cũng nhƣ nhiều Trung tâm khác trong tỉnh Hải Dƣơng, việc sử dụng thuốc sao cho an toàn, hợp lý, tiết kiệm là một trong những tiêu chí của công tác khám, chữa bệnh.Việc rà soát danh mục thuốc định kỳ là cần thiết để nắm bắt đƣợc những thay đổi về giá cả cũng nhƣ các thông tin về thuốc, từ đó điều chỉnh danh mục thuốc bệnh viện cho phù hợp hoặc có các biện pháp can thiệp giúp khắc phục một số vấn đề còn tồn tại trong quá trình lựa chọn và sử dụng thuốc. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành đề tài “Phân tích danh mục thuốc đã sử dụng tại Trung tâm y tế thành phố Hải Dƣơng năm 2020” với các mục tiêu sau: 1.
Mô tả cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng tại Trung tâm y tế thành phố Hải Dương năm 2020. Phân tích danh mục thuốc đã sử dụng tại Trung tâm y tế thành phố Hải Dương năm 2020 theo phương pháp ABC, VEN và ma trận ABC/VEN. Từ đó đƣa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm xây dựng đƣợc danh mục thuốc chất lƣợng, hợp lý, sử dụng có hiệu quả nguồn ngân sách, tiết kiệm chi phí tại Trung tâm Y tế thành phố Hải Dƣơng trong những năm tiếp theo. Danh mục thuốc sử dụng trong bệnh viện 1.
Khái niệm Danh mục thuốc đã sử dụng của bệnh viện là kết quả của các hoạt động trong chu trình cung ứng thuốc bao gồm các quá trình: lựa chọn, mua sắm, dự trữ, cấp phát, và sử dụng.Việc phân tích danh mục thuốc đã sử dụng là tìm ra những điểm chƣa hợp lý để chấm dứt cho chu kỳ cung ứng thuốc của năm sau. Vai trò của danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện Danh mục thuốc đã sử dụng tại bệnh viện sẽ phản ánh chính xác nhất thực trạng sử dụng thuốc thực tế tại bệnh viện. Qua đó giúp Hội đồng thuốc và điều trị (HĐT&ĐT) nắm bắt đƣợc những thông tin mới nhất về tình hình sử dụng thuốc trong bệnh viện để có thể đƣa ra kế hoạch xây dựng, lựa chọn, mua sắm cũng nhƣ cấp phát sử dụng thuốc cho những năm tiếp theo nhằm đáp ứng cho nhu cầu sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả. Qua phân tích danh mục thuốc đã sử dụng sẽ giúp bệnh viện đƣa ra đƣợc chính sách phù hợp, giúp tiết kiệm chi phí và sử dụng hợp lý hơn nguồn tài chính trong cung ứng thuốc.
Mặt khác, chất lƣợng chăm sóc y tế sẽ đƣợc cải thiện, ngƣời bệnh không phải điều trị bằng nhiều loại thuốc nhƣng vẫn đảm bảo đƣợc hiệu quả tốt và tiết kiệm chi phí trong điều trị. Bác sĩ kê đơn tập trung hơn khi giảm đƣợc số lƣợng đầu thuốc, việc phát hiện các tƣơng tác thuốc và các phản ứng có hại của thuốc sẽ dễ dàng hơn. Các phương pháp phân tích danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện Danh mục thuốc bệnh viện là DMT ban đầu đƣợc HĐT & ĐT lựa chọn và phê duyệt để sử dụng, còn DMT sử dụng tại bệnh viện là DMT đƣợc sử dụng thực tế hàng năm tại bệnh viện. 3 Tiến hành phân tích danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện nhằm có một cái nhìn khái quát về tình hình sử dụng thuốc hàng năm tại bệnh viện, từ đó làm căn cứ để xây dựng DMT năm tiếp theo hợp lý hơn cũng nhƣ có biện pháp cải tiến nâng cao chất lƣợng sử dụng thuốc.
Có nhiều Phƣơng pháp đƣợc sử dụng để phân tích DMT sử dụng tại bệnh viện bao gồm: phân tích ABC, phân tích nhóm điều trị, phân tích VEN và phân tích liều xác định hàng ngày DDD. Tất cả các phƣơng pháp này là công cụ hết sức hữu hiệu mà HĐT & ĐT nên sử dụng để quản lý danh mục thuốc và phát hiện các vấn đề về sử dụng thuốc [5]. Phương pháp phân tích ABC Khái niệm :Phân tích ABC là phƣơng pháp phân tích tƣơng quan giữa lƣợng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách. Mục đích của phân tích ABC: - Cho thấy những thuốc đƣợc sử dụng thay thế với lƣợng lớn mà có chi phí thấp trong danh mục hoặc có sẵn trên thị trƣờng.
- Thông tin này đƣợc sử dụng để: + Lựa chọn những thuốc thay thế có chi phí điều trị thấp hơn. + Tìm ra những liệu pháp điều trị thay thế. + Thƣơng lƣợng với nhà cung cấp để mua đƣợc thuốc với giá thấp hơn. + Lƣợng giá mức độ tiêu thụ thuốc, phản ánh nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của cộng đồng và từ đó phát hiện những vấn đề chƣa hợp lý trong sử dụng thuốc, bằng cách so sánh lƣợng thuốc tiêu thụ với mô hình bệnh tật.
+ Xác định phƣơng thức mua các thuốc không có trong danh mục thuốc thiết yếu của bệnh viện. - Phân tích ABC tạo cơ sở đƣa ra những quyết định quan trọng : + Trong tồn trữ. + Trong mua sắm hàng hóa. + Trong lựa chọn nhà cung ứng [5].
Phương pháp phân tích nhóm điều trị - Phân tích nhóm điều trị là phƣơng pháp dựa vào đánh giá số lƣợng và giá trị tiền thuốc sử dụng của các nhóm tác dụng dƣợc lý. - Phƣơng pháp này sử dụng dữ liệu thống kê chi phí sử dụng, phần trăm chi phí của từng thuốc sử dụng trên tổng chi phí sử dụng thuốc toàn viện, sau đó phân loại nhóm điều trị cho từng thuốc. - Phân loại nhóm điều trị dựa vào phân loại DMT thiết yếu của Tổ chức Y tế thế giới hoặc theo các tài liệu tham khảo khác. Cuối cùng là tổng hợp chi phí, phần trăm chi phí của từng nhóm thuốc, từ đó phân tích, đánh giá tính hợp lý của mối tƣơng quan giữa các nhóm thuốc với mô hình bệnh tật của bệnh viện.
Trong phạm vi luận văn này, thuốc sử dụng đƣợc phân loại theo nhóm tác dụng dƣợc lý quy định trong Thông tƣ 30/2018/TT-BYT Ban hành Danh mục và tỷ lệ, điều kiện thanh toán đối với thuốc hóa dƣợc, sinh phẩm, thuốc phóng xạ và chất đánh dấu thuộc phạm vi đƣợc hƣởng của ngƣời tham gia BHYT và Thông tƣ số 05/2015/TT-BYT Ban hành danh mục thuốc đông y, thuốc từ dƣợc liệu và vị thuốc YHCT thuộc phạm vi thanh toán của quỹ BHYT. Phân tích nhóm điều trị kết hợp với việc tính chi phí sử dụng thuốc giúp: + Xác định những nhóm điều trị có mức tiêu thụ thuốc cao nhất và chi phí nhiều nhất + Xác định những vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý trên cơ sở thông tin về tình hình bệnh tật. + Xác định những thuốc đã bị lạm dụng hoặc những thuốc mà mức tiêu thụ không mang tính đại diện cho những ca bệnh cụ thể ví dụ sốt rét và sốt xuất huyết. + Hội đồng thuốc và điều trị lựa chọn những thuốc có chi phí hiệu quả cao nhất trong các nhóm điều trị và thuốc lựa chọn trong liệu pháp điều trị thay thế[5], [30].
Phương pháp phân tích VEN Đôi khi nguồn kinh phí không đủ để mua tất cả các loại thuốc nhƣ mong muốn. Phân tích VEN là phƣơng pháp phổ biến giúp cho việc lựa chọn những thuốc cần ƣu tiên để mua và dự trữ trong bệnh viện. Các thuốc đƣợc phân chia tùy theo tác dụng thành các hạng mục sống còn, thiết yếu và không thiết yếu. Phân tích VEN cho phép so sánh những thuốc có hiệu lực điều trị và khả năng sử dụng khác nhau.
• Các thuốc sống còn (V): gồm các thuốc dùng để cứu sống ngƣời bệnh hoặc các thuốc thiết yếu cho các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cơ bản. • Thuốc thiết yếu (E): gồm các thuốc dùng để điều trị cho những bệnh nặng nhƣng không nhất thiết phải có cho các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cơ bản. • Thuốc không thiết yếu (N): là các thuốc dùng để điều trị những bệnh nhẹ, có thể có hoặc không có trong DMTBV và không cần thiết phải lƣu trữ trong kho [30].