Chương 1 Tổng quan về nợ xấu và các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại các NHTM Việt Nam Chương 2 Các nhân tô ảnh hưởng đến tỷ lệ nợ xấu tại các NHTM Việt Nam giai đoạn 2007-2017. TONG QUAN VE NO XAU VÀ CÁC NHÂN TO ANH HUONG DEN NO XAU TAI CAC NHTM VIET NAM 1.1 Những van đề chung về nợ xấu tai các NHTM 1.1 Khái niệm về no xdu Hiện nay có rat nhiều quan diém khác nhau về nợ xấu. Mỗi quốc gia sẽ có những cái nhìn, những quy định khác nhau về nợ xấu vì vậy sẽ có những quan điểm khác nhau về nợ xấu. Và trong cùng một nền kinh tế thì mỗi một chủ thể cũng có những cách nhìn nhận khác nhau và đưa ra các quan điểm về nợ xấu cũng khác nhau.
Với các NHTM họ cho rằng: “ nợ xấu hay nợ khó đòi là các khoản nợ dưới chuẩn, bị quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ và thu hồi vốn của chủ nợ, thường xảy ra khi các con nợ phá san.” Dưới đây là một s6 các quan điểm về nợ xấu: Theo quan điểm của Ngân hàng trung ương Châu Au(ECB) Thứ nhat:” nợ xấu là những khoản vay không có khả năng thu hồi như những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không có căn cứ đòi bồi thường từ người mắc nợ: người mắc nợ mat tích, tron hoặc không còn tài sản dé thanh toán, những khoản nợ mà ngân hàng không thể liên lạc được với người mắc nợ hoặc không tìm được người mắc nợ, những khoản nợ mà người mắc nợ không còn hoạt động kinh doanh, tài sản không đủ dé trả no, làm ăn thua lỗ hoặc đã thanh lý tài sản.” Thứ hai: “nợ xấu là những khoản cho vay không được thu hồi dầy đủ cho Ngân hàng. Đây là những khoản nợ không có tài sản thế chấp hoặc tài sản đưa ra để thé chấp không đủ dé trả nợ. Tức là ngân hàng không thé thu hồi đủ món nợ vì người mắc nợ khó kiếm được lợi nhuận từ công việc kinh doanh hoặc người mắc nợ không liên lạc với ngân hang dé thanh toán”. Những khoản nợ này gồm có: -Những khoản nợ mà người nợ đồng ý thanh toán trong quá khứ nhưng phần còn lại không được đền bù, những khoản nợ trong đó tài sản dùng dé thanh toán có giá trị không đủ dé trả nợ.
-Những khoản nợ mà người nợ không đủ khả năng trả nợ và yêu cầu gia hạn nợ nhưng lại không đền bù được nợ trong thời gian thoản thuận. -Những khoản nợ mà tài sản đem thế chấp không đủ trử nợ hoặc không được chấp thuận về mặt pháp lý dẫn đến người mac nợ không thé tra đủ nợ cho Ngân hàng. -Những khoản nợ mà tòa án tuyên bố người mắc nợ phá sản nhưng phan bồi toàn ít hơn dư nợ. Theo quan điểm của Qiy tién té quốc té(IMF) “ Nợ xấu bao gồm các khoản nợ quá hạn tra lãi hoặc gốc 90 ngày hoặc hon, khi các khoản lãi suất quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại hoặc trì hoãn theo thỏa thuận, khi các khoản thanh toán dến hạn dưới 90 ngày nhưng vẫn có thé nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thé hoàn trả đầy đủ( người vay pha sản).
Sau khi khoản vay được xếp vào danh mục nợ xấu, nó hoặc bat cứ khoản vay thay thé nào cũng nên đojợc xếp vào danh mục nợ xấu cho đến thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi đơjợc lãi và gốc của khoản vay đó hoặc thu hồi khoản thay thế. Theo chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS): Chuẩn mực kế toán về ngân hàng thường đề cập các khoản nợ bị giảm giá trị (Impairred) thay vì sử dụng thuật ngữ nợ xấu (NPL). Chuẩn mực kế toán IAS 39 công bố tháng 12 năm 1999 và sau 2 lần chỉnh sửa (lần 1 vào tháng 12 năm 2000 và lần 2 đầu tháng 12 năm 2003) được khuyến cáo áp dụng ở một số nước phát triển vào đầu năm 2005 chỉ ra rằng cần phải có bằng chứng khách quan để xếp hạng một khoản vay có dấu hiệu bị giảm giá trị. Trong trường hợp nợ bị giảm giá trị thì tài sản được ghi nhận sẽ bị giảm xuống do những tén thất chất lượng nợ xấu gây ra.
Về cơ ban IAS 39 chú trọng đến khả năng hoàn trả của khoản vay bat luận thời gian quá hạn chưa tới 90 ngày hoặc chưa quá hạn. Phương pháp này dé đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng và là phương pháp phân tích dòng tiền trong tương lai hoặc để xếp hạn khoản vay. Hệ thống này được coi là chính xác về mặt lý thuyết nhưng việc áp dụng thực tế lại gặp nhiều khó khăn. Theo Ủy ban basel về giám sát Ngân hàng (BCDS): Trong các hướng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tin dụng, BCDS xác định việc các khoản nợ được cho là không có kha năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai sự kiện sau đây xảy ra: + Ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì dé có gắng thu hồi + Người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày.
(Basel committee on banking Supervision, 2002) BCDS cũng đề cập tới các khoản vay bị giảm giá trị sẽ xảy ra khi khả năng thu hồi các khoản thanh toán từ khoản vay là không thé. Giá trị tổn that sẽ được ghi nhận bằng cách giảm trừ giá trị khoản vay thông qua một khoản dự phòng và sẽ được phản ánh trên báo cáo thu nhập của ngân hàng. Như vậy, lãi suất của các khoản vay này sẽ không được cộng dồn và sẽ chỉ xuất hiện đưới dạng tiền mặt thực tế nhận được. Theo quan điểm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV) Ngày 22/4/1005, thống đốc ngân hàng nhà nước ban quyết định số 493/2005 về việc phân loại nợ, trích lập , sử dụng dự phòng rủi ro nhằm xử lý các rủi ro tín dụng tong hoạt động ngân hàng, nợ xấu được định nghĩa là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3( nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4( nợ nghi ngờ) và nhóm 5( nợ có khả năng mắt vốn).
Trong đó: + Nếu phân loại theo điều 6 trong quyết định thì các nhóm này chủ yếu dựa trên thời gian quá hạn của các khoản nợ, cụ thể: nhóm 3- thời gian quá hạn từ 90 đến 180 ngày, nhóm 4- từ 181 đến 360 ngày và nhóm 5- thời gian quá hạn là trên 360 ngày. + Nếu phân loại theo điều 7 trong quyết định này thì các nhóm nợ được phân loại chủ yếu dựa vào khả năng trả nợ của người vay, cụ thể: nhóm 3- các khoản nợ được đánh giá là có khả năng mất một phần gốc lẫn lãi, nhóm 4- các khoản nợ được đánh giá có tôn thất cao, nhóm 5- các khoản nợ được đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mat vốn. Như vậy, nhìn chung theo quan điểm của ngân hàng nhà nước Việt Nam thì nợ xâu cũng được xác định dựa vào hai yêu tố là khả năng trả nợ lo ngại và đã quá hạn trên 90 ngày. Dựa vào các quan điểm trên thì theo tác giả , nợ xấu nên tiếp cận dựa vào khả năng chi trả nợ của khách hang, tức là dù khoản vay trong ngắn hạn hay dai han nhưng có biéu hiện rang khả năng trả nợ của khách hàng là đáng nghi ngờ thì khoản vay đó cũng được coi là một khoản nợ xấu.2 Nguyên nhân và hậu quả của nợ xấu Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến nợ xấu như từ phía người vay vốn, từ phía ngân hàng, thậm chi từ những bat ổn của nền kinh tế, yếu t6 khách quan thiên tai dịch bệnh, môi trường.Dưới đây là một số nguyên nhân chủ yêu dẫn đến nợ xấu tai các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
-Về nhóm nguyên nhân khách quan Thứ nhất: thời gian qua sự bất ôn chính trị và kinh tế trên thế giới cũng như tác động của chu kỳ kinh tế và khủng hoảng trên thị trường tài chính tiền tệ và kinh tế quốc tế tác động rất mạnh và gây tiềm ẩn, rủi ro lớn trong hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước. Trong khi đó kinh tế trong nước còn nhiều khó khăn và chất lượng kinh tế cũng tăng trưởng chưa cao, nợ công tăng nhanh. Thêm nữa, thị trường bat động sản có một giai đoạn tram lắng, các doanh nghiệp của Việt Nam hiện phụ thuộc rất nhiều vào vốn vay ngân hàng, hiệu quả sản xuất thấp nên khi chịu sự tác động đều có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp vay vốn dẫn đến tình trạng làm ăn thua lỗ, không có lợi nhuận kém , các doanh nghiệp mat khả năng trả nợ từ đó gián tiếp và trực tiếp gây ra nợ xấu. Thứ hai: tình hình thời tiết trong những năm qua biến đổi bất 6n gây khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh khiến các doanh nghiệp vay vốn không đủ khả năng trả nợ.
Theo thông kê của cục Tổng cục thống kê thì trong giai đoạn 201 1-2015 bình quân mỗi năm có trên 63.000 doanh nghiệp phá sản, yếu tô này đã làm gia tăng nợ xấu trong nền kinh tế và hệ thống ngân hàng lên rất nhiều. Thứ ba, các chính sách kinh tế vĩ mô còn thiếu tính ôn định, làm ảnh hưởng đến khả năng sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ của người vay. Thứ tư, các chính sách về xử lý tài sản còn nhiều bất cập, việc xử lý tài sản cũng như nợ của các tô chức tín dụng còn kém. Thứ năm, do áp lực cấp tín dụng cho các doanh nghiệp nhà nước mà chủ yếu là đối với các ngân hàng thương mại thuộc sở hữu của nhà nước.
Từ đó, các doanh nghiệp nhà nước dễ dàng tiếp cận nguồn vồ tài trợ và sử dụng một cách không hiệu quả vì đã đầu tư vào các lĩnh vực mà doanh nghiệp không am hiểu dẫn đến tình trạng thua lỗ, mất khả năng trả nợ cho ngân hàng làm gia tăng nợ xấu. Thứ sau, một phần lớn nguồn tín dụng được đầu tư vào thị trường bất động sản. Khi thị trường bất động sản trầm lắng, cầu về bất động sản làm khiến các nhà đầu tư không giải phóng được hàng dẫn đến tồn đọng vốn đầu tư vay từ tín dụng ngân hàng, nhiều công ty bất động sản không bán được hàng dẫn đến phá sản, làm ăn thu lỗ không có khả năng trả nợ cho ngân hàng dẫn đến nợ xấu.