CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ PHÂN CẤP NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Khái niệm, bản chất, chức năng và vai trò của NSNN 1. Khái niệm về NSNN, thu NSNN, chi NSNN 1. Khái niệm về NSNN Thuật ngữ ngân sách nhà nước (NSNN) bắt nguồn từ nước Anh, có nghĩa đen là cái ví, cái sắc (budget).
Tuy nhiên trong đời sống kinh tế, thuật ngữ này được hiểu theo nghĩa thoát ly nghĩa ban đầu và mang nội dung mới. Cho tới nay, giữa các nhà kinh tế chưa có sự thống nhất về khái niệm ngân sách và NSNN. Do đó chúng ta cần tìm hiểu các tài liệu kinh điển và chuyên ngành để rút ra các kết luận cần thiết về khái niệm NSNN vừa phù hợp với chuẩn mực quốc tế vừa phản ánh được những đặc điểm cụ thể của nước ta. - Từ điển bách khoa toàn thư của Liên Xô (cũ) cho rằng ngân sách là: + Bảng liệt kê các khoản thu, chi bằng tiền trong giai đoạn nhất định của Nhà nước.
+ Mọi kế hoạch thu, chi bằng tiền của bất kỳ một xí nghiệp, cơ quan hoặc cá nhân nào đó trong một giai đoạn nhất định. - Từ điển Nouweau Petit Larousse của Pháp thì giải thích ngân sách là “bảng liệt kê, dự kiến các khoản thu nhập và chi trả của một cơ quan, một công xã. - Từ điển kinh doanh nước Anh do J.Adam biên tập giải thích thuật ngữ ngân sách như sau: + Bảng kế toán về khả năng thu nhập (tiền thu vào) và chi tiêu (tiền xuất ra) trong một giai đoạn nhất định của tương lai thường là 1 năm; + Là bảng kế hoạch về thu nhập và chi tiêu quốc gia (Nhà nước) trong tương lai. Nó được ông Quốc khố đại thần trình ra trước Nghị viện một lần trong một năm, được Nghị viện xem xét và có những đề xuất thay đổi thuế khoá, những đề xuất đó sau này trở thành luật trong năm tài chính; 10 + Bảng tính toán về khả năng chi phí để thực hiện một kế hoạch hoặc một chương trình vì mục đích nhất định nào đó (NSNN quảng cáo, ngân sách đầu tư, ngân sách nghiên cứu).
Luật NSNN năm 2002 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”. Từ các tài liệu trên có thể hiểu NSNN là dự toán (kế hoạch) thu, chi bằng tiền của Nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm. Mặc dù các biểu hiện của NSNN rất đa dạng và phong phú nhưng về thực chất chúng đều phản ánh những nội dung cơ bản là: - NSNN hoạt động trong lĩnh vực phân phối các nguồn tài chính và vì vậy nó thể hiện các mối quan hệ lợi ích kinh tế giữa Nhà nước và xã hội. - Quyền lực về NSNN thuộc về Nhà nước.
Mọi khoản thu, chi tài chính của Nhà nước đều do Nhà nước quyết định và nhằm mục đích phục vụ yêu cầu thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Thu ngân sách nhà nước - Khái niệm về thu NSNN: Theo Luật NSNN năm 2002: “Thu NSNN bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật”. - Nội dung thu NSNN Thu NSNN là quá trình nhà nước sử dụng quyền lực để huy động một bộ phận giá trị của cải xã hội hình thành quỹ ngân sách nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước. Thu NSNN bao gồm những khoản cụ thể sau: + Thuế, phí, lệ phí do các tổ chức, cá nhân nộp theo quy định của pháp luật.
+ Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước theo quy định của pháp luật như: Tiền thu hồi vốn của Nhà nước từ các cơ sở kinh tế; Thu hồi tiền cho vay của Nhà nước; thu nhập từ vốn góp của Nhà nước vào các cơ sở kinh tế. 11 + Thu từ các hoạt động sự nghiệp; tiền sử dụng đất; tiền cho thuê đất; thu từ quỹ đất công ích và thu hoa lợi công sản; tiền cho thuê và bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước. + Các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. + Các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước cho Chính phủ Việt Nam, các cấp chính quyền và các cơ quan, đơn vị nhà nước.
+ Thu từ Quỹ dự trữ tài chính; thu kết dư ngân sách; thu bổ sung từ ngân sách cấp trên. + Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật, gồm: Các khoản di sản nhà nước được hưởng; các khoản phạt, tịch thu, thu hồi dự trữ nhà nước; thu chênh lệch giá, phụ thu; thu từ huy động đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng; thu từ hoạt động xổ số kiến thiết. Chi ngân sách nhà nước - Khái niệm về chi NSNN: Theo Luật NSNN năm 2002: “Chi NSNN bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, đảm bảo hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật”. - Nội dung chi NSNN.
Chi NSNN là quá trình phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhằm thực hiện các nhiệm vụ của nhà nước trong từng thời kỳ. Xuất phát từ vai trò quản lý vĩ mô của nhà nước trong việc phát triển kinh tế - xã hội, nội dung chi ngân sách rất đa dạng. Trong quản lý NSNN hiện nay, chi ngân sách được chia thành 3 nhóm là: chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên và chi khác. + Các khoản chi đầu tư phát triển là những khoản chi có thời hạn tác động dài thường trên một năm, hình thành nên những tài sản vật chất có khả năng tạo được nguồn thu, trực tiếp làm tăng cơ sở vật chất của đất nước.
12 + Chi thường xuyên là những khoản chi có thời hạn tác động ngắn thường dưới một năm. Nhìn chung đây là các khoản chi chủ yếu phục vụ cho chức năng quản lý và điều hành xã hội một cách thường xuyên của Nhà nước. + Chi khác bao gồm: chi trả nợ gốc và lãi; chi viện trợ; chi cho vay, chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính; chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới. Bản chất, chức năng, vai trò của ngân sách nhà nước.
Bản chất của NSNN NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước, do đó hoạt động của NSNN là động viên các nguồn lực tài chính vào tay Nhà nước (những khoản đóng góp theo nghĩa vụ hoặc tự nguyện của mỗi thành viên trong xã hội cho Nhà nước), là các khoản cấp phát của Nhà nước cho các nhu cầu tiêu dùng và đầu tư tích luỹ, đó cũng là những khoản chi phí mà Nhà nước cấp cho các thành viên. Như vậy, hoạt động của NSNN không hề mang tính tự cấp, tự phát hoặc nằm ngoài sự kiểm soát của Nhà nước. Mọi khoản thu, chi của NSNN đều được tính toán, dự định có chủ định nhằm thực hiện mục tiêu quản lý kinh tế xã hội. Các khoản thu được chế định hoá bằng các luật thu (thuế), các khoản chi đều được phân bổ theo những nguyên tắc đã đề ra với quy trình quản lý nghiêm ngặt.
Nhà nước bằng quyền lực chính trị của mình và xuất phát từ nhu cầu về tài chính để đảm bảo thực hiện chức năng của Nhà nước đã xác định các khoản thu, chi của NSNN. Điều này cho thấy sự tồn tại của Nhà nước, vai trò của Nhà nước đối với đời sống kinh tế, xã hội là yếu tố cơ bản quyết định đến sự tồn tại của NSNN và tính chất hoạt động của nó. NSNN được sử dụng để phân phối các nguồn lực tài chính hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung, đồng thời Nhà nước coi ngân sách là công cụ tài chính để kiểm tra các hoạt động kinh tế. Trong quá trình phân phối tổng sản phẩm quốc dân đã làm xuất hiện hệ thống các quan hệ tài chính và được thể hiện các phần thu, chi của NSNN.
Hệ thống các quan hệ tài chính tạo nên bản chất kinh tế của NSNN, được thể hiện dưới những hình thức cụ thể là: - Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. 13 - Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các đơn vị thuộc lĩnh vực phi sản xuất vật chất. - Quan hệ kinh tế giữa NSNN với hộ gia đình và dân cư. - Quan hệ kinh tế giữa NSNN với thị trường tài chính.
Như vậy, bằng các quan hệ kinh tế trong quá trình phân phối các nguồn tài chính của xã hội giữa các chủ thể nhất định đã hình thành quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước và quỹ đó được sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế – xã hội, thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước. Hệ thống các quan hệ kinh tế này luôn gắn bó với các lợi ích kinh tế của các chủ thể tham gia vào quá trình phân phối các nguồn tài chính và chính chúng đã quy định bản chất kinh tế của NSNN. Chức năng cơ bản của NSNN: - Chức năng huy động nguồn lực tài chính và đảm bảo các nhu cầu chi tiêu theo dự toán của Nhà nước. Đây là chức năng đầu tiên quan trọng nhất của NSNN.
Nhà nước ra đời, để thực hiện các chức năng của mình thì phải huy động các nguồn lực tài chính, hình thành quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước. Nhà nước dùng nguồn lực huy động được để chi cho các hoạt động của bộ máy quản lý và đầu tư cho các ngành kinh tế nhằm nuôi dưỡng, củng cố và phát triển nguồn thu. Mặt khác bằng chính sách của mình, Nhà nước điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp và dân cư bằng các chính sách thuế, phân phối lợi nhuận, xử lý khấu hao cơ bản và để khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất, cải tiến công nghệ, thay thế các loại máy móc cũ lạc hậu, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Chức năng tạo vốn là hết sức quan trọng để nền kinh tế có tiềm lực, phát triển ổn định và vững chắc, tăng dần phúc lợi xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh.
- Chức năng thực hiện cân đối giữa các khoản thu và các khoản chi (bằng tiền) của Nhà nước.