Phần mở đầu - Chương 2: Cơ sở lý thuyết và Mô hình nghiên cứu 6 - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu - Chương 4: Kết quả nghiên cứu - Chương 5: Kết luận và thảo luận 7 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm về công việc làm thêm Khái niệm về “Hợp đồng làm thêm (Part-time job)” được định nghĩa là “một dạng lao động được thực hiện vài giờ trên tuần ít hơn so với hợp đồng làm việc toàn thời gian, trong đó người làm việc có quyền thay đổi nhưng vẫn đảm bảo theo yêu cầu hết việc và trong suốt mỗi năm, và thông thường có tính chất xoay vòng” (Anh và cộng sự, 2013). “Công việc làm thêm”, hay còn thường được gọi là “Công việc bán thời gian (Part - time work)” được định nghĩa là “việc làm mà trong đó số giờ làm việc ít hơn bình thường” (Thurman & Trah, 1990). Bên cạnh đó, khái niệm về “Công việc làm thêm” còn có một định nghĩa là “một công việc mang tính chất không chính thức, không thường xuyên, không cố định bên cạnh một công việc chính thức, là việc làm mà người lao động tận dụng thời gian để tăng thêm thu nhập” (Duy và cộng sự, 2015).2 Khái niệm về công việc đi làm thêm của các sinh viên Trong đó, dựa theo quy định của “ILO - Tổ chức lao động quốc tế quy định” về công việc bán thời gian, các sinh viên đi làm thêm hiện nay đang có các đặc điểm như sau (Duy, 2016): + Công việc có ít hơn 30 hay 35 giờ hàng tuần 8 + Số lượng người làm việc bán thời gian đang gia tăng từ 1 4 đến 1 2 trong 20 năm vừa qua ở hầu hết các quốc gia phát triển. + Thời gian dao động làm việc trong ngày từ 3 đến 5 giờ.
+ Bên cạnh tiền lương cứng và một số cơ sở có tiền thưởng hoặc hoa hồng, các sinh viên sẽ không được hưởng các chế độ khác dành cho người lao động, ví dụ như BHTN, BHXH, BHYT và các phúc lợi xã hội.2 Lƣợc khảo các nghiên cứu liên quan Bảng 2.1 Lƣợc khảo về các nghiên cứu trƣớc Tác giả Tên đề tài Đối tƣợng Phạm vi Phƣơng pháp nghiên nghiên cứu nghiên cứu cứu Mai Các nhân tố 500 sinh Các Khoa Kiểm định sự Thanh ảnh hưởng viên tại Trường khác biệt và Văn, đến quyết Đại học phân tích các Nguyễn định đi làm Kinh tế nhân tố ảnh Việt Anh, thêm của Huế hưởng qua mô & Hoàng sinh viên tại hình Binary Triệu Huy. Trường Đại Logistic (2022). học Kinh tế Huế 9 Xác Định 400 sinh Đại Học Mô hình Binary Các Nhân viên Cần Thơ Logistic Vương Tố Ảnh Quốc Duy Hưởng Đến và cộng sự Quyết Định (2015) Đi Làm Thêm Của Sinh Viên Đại Học Cần Thơ Nguyễn Các yếu tố 300 sinh Trường Đại SPSS Trọng ảnh hưởng viên học Văn Hiền Tôn đến quyết Lang (2022) định làm thêm của sinh viên Trường Đại học Văn Lang Nguyễn Những yếu 350 sinh Khoa Kinh Mô hình hồi quy Thị tố ảnh hưởng viên tế - Trường Phượng đến quyết Đại học An (2020) định làm Giang thêm của sinh viên Khoa Kinh 10 tế - Trường Đại học An Giang Nguyễn Những nhân 561 sinh Sinh viên SPSS Thị Thu tố ảnh hưởng viên năm thứ An và kết quả học nhất và cộng sự tập của năm thứ hai (2016) sinh viên của Trường năm thứ nhất Đại học Kỹ và năm thứ thuật – hai của Công nghệ Trường Đại Cần Thơ học Kỹ thuật – Công nghệ Cần Thơ Nguồn: Tác giả tổng hợp, 2023. Nhìn chung, có thể thấy những bài nghiên cứu hiện nay có cùng đề tài liên quan đều có các đối tượng và phạm vi nghiên cứu đa dạng khác nhau.
Do đó, sự cụ thể nhất định về các đối tượng và phạm vi nghiên cứu này chính là một hạn chế nghiên cứu khiến cho các kết quả nghiên cứu này rất khó để có thể được ứng dụng và đại diện riêng cho đối tượng nghiên cứu là các sinh viên tại thành phố Hồ Chí Minh nói chung và của trường Đại học 11 Ngân hàng TP. Sở dĩ vì, mỗi sinh viên ở từng quốc gia, tỉnh, thành phố khác nhau, cũng như ở các cơ sở giáo dục đại học khác nhau sẽ bị ảnh hưởng đến quyết định đi làm thêm bởi rất nhiều các yếu tố đa dạng khác nhau. Vì vậy, bài nghiên cứu chỉ tiến hành lược khảo và kế thừa lại một số biến quan sát để tự xây dựng lên mô hình và giả thuyết nghiên cứu cho công trình nghiên cứu này, thông qua bảng 2.2 sau đây: 12 Bảng 2.2 Lƣợc khảo về mô hình nghiên cứu Tác giả Kết Chi Thời Khoá Kinh Mối Động Tính quả tiêu gian học nghiệm quan cơ chủ học rảnh – Kỹ hệ học động tập năng tập sống Mai Thanh Văn, x x x x x Nguyễn Việt Anh, & Hoàng Triệu Huy. Vương Quốc x x x Duy và cộng sự (2015) Nguyễn Trọng x x x x Hiền Tôn (2022) Nguyễn Thị x x x x Phượng (2020) Nguyễn Thị Thu x x x x An và cộng sự (2016) Nguồn: Tác giả tổng hợp, 2023.
13 Thông qua phần lược khảo các biến quan sát bên trên, có thể thấy được có tổng cộng bốn biến quan sát được đề cập đến nhiều nhất trong các bài nghiên cứu, chứng tỏ là có độ tin cậy và thích hợp cao để tiếp tục kế thừa và kiểm định trong bài nghiên cứu này, cụ thể như sau: + (i) Biến “Kết quả học tập”: được kiểm định có tác động đến động lực làm việc của nhân viên trong 3 bài nghiên cứu. + (ii) Biến “Chi tiêu”: được kiểm định có tác động đến động lực làm việc của nhân viên trong 4 bài nghiên cứu. + (iii) Biến “Thời gian rảnh”: được kiểm định có tác động đến động lực làm việc của nhân viên trong 3 bài nghiên cứu. + (iv) Biến “Kinh nghiệm – Kỹ năng sống”: được kiểm định có tác động đến động lực làm việc của nhân viên trong 4 bài nghiên cứu.
+ (v) Biến “Mối quan hệ”: được kiểm định có tác động đến động lực làm việc của nhân viên trong 3 bài nghiên cứu. Trong khi đó, những biến chỉ được đề cập đến duy nhất một lần trong một bài nghiên cứu sẽ không được kế thừa lại, vì chưa phải là một biến phổ biến được chứng minh có tác động lên động lực làm việc của nhân viên, bao gồm có: + (i) Biến “Khoá học”: chỉ được đề cập đến trong bài nghiên cứu của nhóm tác giả Mai Thanh Văn, Nguyễn Việt Anh, & Hoàng Triệu Huy (2022).3 Giả thuyết nghiên cứu Khái niệm về “Kết quả học tập” được định nghĩa là “yếu tố phản ánh được những sự hiểu biết hoặc khả năng thực hành của một học sinh – sinh viên sau một quá trình học tập, thường được thể hiện dưới dạng kiến thức, kỹ năng hoặc thái độ, cũng như khối lượng lý thuyết học được từ các cơ sở giáo dục” (UNICEF, 2023). Để có được một kết quả học tập tốt, các học sinh – sinh viên cần phải có một chế độ quản lý thời gian tốt, cân bằng giữa việc học và các công việc khác trong cuộc sống, trong đó có cả việc đi làm thêm (An và cộng sự, 2016). Do đó, việc đi làm thêm càng chiếm nhiều thời gian của các học sinh – sinh viên, thì sẽ càng gây ra những hạn chế đến kết quả học tập của họ.
Do đó, các sinh viên sẽ thường bị chi phối vào quyết định đi làm thêm dựa trên kết quả học tập của họ là tốt hay xấu, từ đó đặt ra giả thuyết: H1: Kết quả học tập có ảnh hưởng tích cực đến quyết định đi làm thêm của các sinh viên tại trường Đại học Ngân hàng TP. Khái niệm về “Chi tiêu” được định nghĩa là “một khoản chi phí, một khoản mục yêu cầu, một khoản tiền chảy ra, hoặc bất kỳ hình thức tài sản nào nói chung, cho một người hoặc một nhóm người khác dưới dạng thanh toán cho một hạng mục, dịch vụ hoặc loại chi phí khác”, hoặc thông thường cũng có thể gọi là mức chi phí sử dụng đối với các học sinh – sinh viên hằng tháng (Anh và cộng sự, 2013). Trên thực tế, việc đi làm thêm chính là nhằm hỗ trợ về vấn đề nhu cầu tài chính cho các sinh viên trong quá trình chi tiêu hằng tháng. Do đó, nếu một sinh viên càng có mức chi tiêu càng lớn, thì quyết định đi làm thêm của họ sẽ càng lớn hơn, nhằm kiếm được một khoản thu nhập đáp ứng cho mục đích chi tiêu, từ đó giả thuyết được đặt ra là: 13 H2: Chi tiêu có ảnh hưởng tích cực đến quyết định đi làm thêm của các sinh viên tại trường Đại học Ngân hàng TP.
Khái niệm về “Thời gian rảnh” được định nghĩa là “khoản thời gian nhàn, thư nhàn, hoặc cũng có thể là thời gian tùy ý mà con người có thể sử dụng trong các hoạt động và sinh hoạt không bắt buộc trong cuộc sống” (Duy, 2016). Khi đó, một sinh viên càng có nhiều thời gian rảnh, thì họ sẽ càng có ý muốn đi làm thêm nhiều hơn, để không chỉ giải quyết được vấn đề thời gian rảnh đó, mà còn để kiếm thêm thu nhập cho bản thân. Nói cách khác, số lượng thời gian rảnh của các sinh viên sẽ tỷ lệ thuận với số giờ làm thêm của các sinh viên, từ đó đặt ra giả thuyết là: H3: Thời gian rảnh có ảnh hưởng tích cực đến quyết định đi làm thêm của các sinh viên tại trường Đại học Ngân hàng TP. Dựa theo “Tổ chức Y tế Thế giới”, khái niệm về cụm từ “Kinh nghiệm – Kỹ năng sống” được định nghiax là “khả năng để con người có hành vi thích ứng và tích cực trong các tình huống xảy ra trong đời sống của mỗi cá nhân, nhằm giúp cho mỗi cá nhân có thể ứng xử có hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức cuộc sống hằng ngày”.
Trong khi đó, việc đi làm thêm chính là một trong những hoạt động có thể giúp cho con người nói chung và các sinh viên nói riêng có thể vừa nâng cao được kinh nghiệm và vốn sống, vừa cải thiện được kiến thức và kỹ năng sống của bản thân. Vì thế, tác giả quyết định đặt ra tiếp tục giả thuyết nghiên cứu cho bài nghiên cứu là: H4: Kinh nghiệm – Kỹ năng sống có ảnh hưởng tích cực và đáng kể lên quyết định đi làm thêm của các sinh viên tại trường Đại học Ngân hàng TP. 14 Khái niệm về “Mối quan hệ” có thể được hiểu theo nghĩa là “sự tác động qua lại giữa hai, hoặc nhiều hơn hai đối tượng, hoặc hai, cũng như nhiều hơn hai nhóm đối tượng có liên quan với nhau” (Hằng, 2022).