Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Chọn lựa nghề nghiệp là một trong những quyết định quan trọng nhất trong cuộc đời mỗi cá nhân, quyết định trực tiếp đến nguồn thu nhập, mức độ hài lòng, niềm vui và sự cống hiến lâu dài cho xã hội. Trong bối cảnh phân công lao động xã hội ngày càng phát triển, hệ thống ngành nghề trở nên đa dạng và phức tạp với những đòi hỏi khắt khe về năng lực, phẩm chất và kỹ năng chuyên môn. Việc thiếu hiểu biết thấu đáo về nghề nghiệp cũng như không nhận thức rõ năng lực bản thân dễ dẫn đến tình trạng lựa chọn sai ngành, gây thất nghiệp, làm trái ngành, suy giảm động lực làm việc và gây lãng phí nghiêm trọng nguồn nhân lực của xã hội.

Hoạt động tư vấn hướng nghiệp (TVHN) hiện nay chủ yếu được chú trọng triển khai tại các trường Trung học phổ thông (THPT). Tuy nhiên, nội dung tư vấn tại bậc học này phần lớn mới dừng lại ở việc cung cấp thông tin bề nổi như khối thi, ngành thi, điểm chuẩn, chỉ tiêu và quy chế tuyển sinh, chưa đi sâu vào việc đánh giá phẩm chất, năng lực, sở thích hay xu hướng tâm lý cá nhân.

Đối với đối tượng học viên (HV) tại các Trung tâm Bồi dưỡng văn hóa và Luyện thi đại học (TTBDVH&LTDH), đây là nhóm đối tượng đã tốt nghiệp THPT, từng trải qua các kỳ thi tuyển sinh đại học - cao đẳng nhưng chưa thành công hoặc có nguyện vọng chuyển đổi ngành nghề. Dù có thêm thời gian tìm hiểu về nghề nghiệp, thực tế nhiều học viên vẫn rơi vào trạng thái lúng túng, thiếu thông tin chuyên sâu về ngành nghề dự định thi, không biết tìm kiếm sự hỗ trợ từ đâu. Nhóm học viên này thường bị xem là đã hoàn thành giai đoạn hướng nghiệp ở phổ thông, dẫn đến việc nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của họ bị bỏ quên, làm gia tăng nguy cơ tiếp tục lãng phí thời gian, kinh phí và cơ hội học tập.

Từ thực tiễn đó, khóa luận tốt nghiệp ngành Tâm lý học của tác giả Hoàng Ngọc Diễm, dưới sự hướng dẫn khoa học của Th.S Đinh Quỳnh Châu tại Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh (năm 2013), đã tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của học viên trung tâm bồi dưỡng văn hóa và luyện thi đại học tại trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh".

Mục tiêu và các nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể:

  1. Mục đích nghiên cứu: Tìm hiểu thực trạng nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của học viên tại Trung tâm Bồi dưỡng văn hóa và Luyện thi đại học.
  2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
    • Nhiệm vụ 1: Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận liên quan đến nhu cầu, tư vấn hướng nghiệp và nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của học viên.
    • Nhiệm vụ 2: Thu thập, xử lý và phân tích số liệu thực chứng nhằm đưa ra các kết luận chính xác về thực trạng nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của học viên.
  3. Giả thuyết nghiên cứu:
    • Đa số học viên có nhu cầu tư vấn hướng nghiệp nhưng mới chỉ dừng lại ở mức độ ý hướng.
    • Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nhu cầu tư vấn hướng nghiệp xét theo các phương diện giới tính, tình trạng đã có hay chưa có quyết định nghề nghiệp, năm tốt nghiệp và khối thi.
  4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
    • Khách thể nghiên cứu: Học viên đang theo học tại TTBDVH&LTDH Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh.
    • Đối tượng nghiên cứu: Nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của học viên tại trung tâm.
    • Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát thực hiện tại khuôn viên Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh trong năm học 2012 - 2013.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các trường phái tâm lý học kinh điển và các công trình nghiên cứu về hướng nghiệp trong nước và quốc tế:

  • Khung lý thuyết về nhu cầu: Tiếp cận theo quan điểm tâm lý học hoạt động của S.L. Rubinstein, A.N. Leontiev, A.G. Kovaliov và các nhà tâm lý học Việt Nam (Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Khắc Viện). Nhu cầu được hiểu là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển. Theo Rubinstein, sự hình thành một nhu cầu cụ thể trải qua 3 giai đoạn phát triển từ thấp đến cao:
    • Ý hướng: Trạng thái thiếu thốn ban đầu, chủ thể chưa ý thức đầy đủ về đối tượng và phương thức thỏa mãn.
    • Ý muốn: Chủ thể đã ý thức rõ đối tượng và mục đích nhưng đang trong quá trình tìm kiếm phương tiện, điều kiện thỏa mãn.
    • Ý định: Chủ thể ý thức đầy đủ về mục đích, nội dung, phương tiện, điều kiện và sẵn sàng hành động để thỏa mãn nhu cầu.
  • Lý thuyết phân loại và phát triển nghề nghiệp:
    • Thuyết đặc điểm nhân cách của John Holland (1992): Mô hình RIASEC phân loại 6 kiểu nhân cách tương ứng với môi trường nghề nghiệp (Thực tế, Khám phá, Nghệ sĩ, Xã hội, Quyết đoán/Dám làm, Truyền thống/Bảo thủ).
    • Thuyết nhu cầu của Ann Roe (Need Approach): Giải thích sự lựa chọn nghề nghiệp dựa trên nguồn gốc phân tâm học và phân chia 8 lĩnh vực nghề nghiệp (Dịch vụ, Kinh doanh, Tổ chức, Công nghệ, Ngoài trời, Khoa học, Văn hóa, Nghệ thuật/Giải trí).
    • Mô hình phát triển nghề nghiệp: Khái niệm bản thân của Donald Super (5 giai đoạn) và Linda Gottfredson (4 giai đoạn); các giai đoạn phát triển nghề của Eli Ginzberg (Yêu thích, Tập trung, Thực tế).
    • Mô hình "Tam giác hướng nghiệp" (K.K. Platonov, Phan Thị Tố Oanh): Sự kết hợp hài hòa giữa 3 đỉnh tam giác: Năng lực/phẩm chất cá nhân – Yêu cầu của nghề nghiệp – Nhu cầu nhân lực của thị trường lao động xã hội.
  • Đặc điểm tâm lý học viên luyện thi: Nhóm học viên từ 18 tuổi trở lên, đã hoàn thành chương trình THPT, mang tư cách công dân đầy đủ theo luật định. Động cơ học tập mang tính tập trung cao độ, hướng thẳng vào kỳ thi tuyển sinh đại học; trong đó động cơ nghề nghiệp giữ vị trí chủ đạo so với động cơ nhận thức thuần túy. Tâm lý học viên dễ rơi vào khủng hoảng tự đánh giá thấp, tự ti do từng trải qua thất bại trong các kỳ thi trước, chịu áp lực tâm lý từ gia đình và xã hội.

Phương pháp nghiên cứu được triển khai đồng bộ gồm:

  1. Phương pháp nghiên cứu lý luận: Thu thập, phân tích, so sánh và hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong và ngoài nước liên quan đến tâm lý học hướng nghiệp và tư vấn hướng nghiệp.
  2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn (Bảng hỏi khảo sát): Xây dựng phiếu trưng cầu ý kiến gồm 2 phần:
    • Phần A: Thu thập thông tin nhân khẩu học (giới tính, tình trạng quyết định ngành học, năm tốt nghiệp THPT, khối thi).
    • Phần B: Gồm 11 câu hỏi (8 câu hỏi đóng và 3 câu hỏi mở) khảo sát khó khăn khi chọn nghề, mức độ cần hỗ trợ, mức độ tự tin, nhận thức về khái niệm TVHN, thái độ đánh giá sự cần thiết và mức độ hiệu quả của các hình thức TVHN.
  3. Phương pháp thống kê toán học: Xử lý và phân tích dữ liệu định lượng bằng phần mềm SPSS for Windows phiên bản 16.0, sử dụng các tham số: Tần số ($f$), Tỷ lệ phần trăm (%), Điểm trung bình ($Mean$), Độ lệch chuẩn ($SD$), Yếu vị ($Mode$), và kiểm nghiệm phi tham số Chi-square ($\chi^2$) để kiểm tra sự khác biệt giữa các nhóm biến số.

Nguồn dữ liệu thực nghiệm được thu thập từ mẫu nghiên cứu gồm $N = 198$ học viên tại TTBDVH&LTDH Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên bốc thăm từ 8 lớp thuộc 5 khối thi (A, A1, B, C, D), cụ thể chọn được các lớp A3, C2, D2...


Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

Chương 1 tập trung tổng quan lịch sử nghiên cứu và xác lập hệ thống khái niệm công cụ phục vụ đề tài:

  • Tổng quan lịch sử nghiên cứu:
    • Trên thế giới: Lịch sử hướng nghiệp trải qua hơn một thế kỷ, khởi nguồn từ các kỳ thi sát hạch tại Trung Quốc cổ đại, tư tưởng của Socrates, Platon, các nghiên cứu tâm lý thực nghiệm của Francis Galton, Wilhelm Wundt (1879), James McKeen Cattell (1890 với thuật ngữ "mental test"), Alfred Binet (1896). Mốc lịch sử quan trọng của ngành tư vấn nghề là bài thuyết giảng ngày 01/05/1908 của Frank Parsons tại Đại học Cornell và tác phẩm "Choosing a vocation" (1909). Giai đoạn từ 1940 đến nay phát triển mạnh mẽ với các lý thuyết nhân cách (Parsons, Holland, Roe), lý thuyết phát triển (Ginzberg, Super, Tiedeman) và lý thuyết học tập (Krumboltz). Trường phái tâm lý học Liên Xô cũng có nhiều đóng góp lớn với các nghiên cứu của E.A. Klimov (10 sai lầm khi chọn nghề), A.V. Petrovsky, V.V. Tsébuséva.
    • Tại Việt Nam: Hoạt động hướng nghiệp manh nha từ năm 1956 với Trung tâm Thông tin - Tư vấn Hướng nghiệp (CIO) tại Sài Gòn. Từ thập niên 1970, các công trình của GS. Đặng Danh Ánh, GS. Phạm Tất Dong, cùng các nghiên cứu của Phạm Huy Thụ, Nguyễn Thế Quảng, Đoàn Chỉ, Lê Khắc Thìn, Lê Đức Phúc, Trần Trọng Thủy, Phan Thị Tố Oanh, Đỗ Thị Lệ Hằng, Lê Thị Thanh Hương, Nguyễn Thị Hạ Huyền đã đóng góp quan trọng cho công tác hướng nghiệp phổ thông. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên biệt về nhu cầu TVHN của đối tượng học viên tại các trung tâm luyện thi.
  • Hệ thống hóa khái niệm cốt lõi: Định nghĩa và làm rõ các khái niệm: Nhu cầu, Hướng nghiệp, Tư vấn, Tư vấn hướng nghiệp (TVHN) và Nhu cầu TVHN của học viên. Tác giả khẳng định TVHN là hoạt động chuyên môn sử dụng hệ thống biện pháp tâm lý - giáo dục - y học nhằm đối chiếu yêu cầu của nghề và thị trường lao động với hứng thú, năng lực của học sinh để đưa ra định hướng chọn nghề khoa học.
  • Đặc điểm tâm lý của học viên trung tâm luyện thi: Làm rõ vị thế xã hội của học viên, các xung đột nội tâm, sự thay đổi định hướng giá trị thiên về yếu tố kinh tế - thực tế, và sự chi phối mạnh mẽ của động cơ nghề nghiệp trong hoạt động học tập.

CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chương 2 trình bày quy trình khảo sát, mã hóa dữ liệu và phân tích kết quả thực trạng thu nhận được từ 198 học viên:

  • Thể thức nghiên cứu và mã hóa biến số:
    • Mẫu khảo sát được mã hóa các biến: STT, GIOI (1: Nam, 2: Nữ), NAMTN (1: Trước năm 2012, 2: Năm 2012), KHOI (1: Khối A, 2: Khối A1, 3: Khối B, 4: Khối C, 5: Khối D, 6: Thi 2 khối), QDNGANHHOC (1: Chưa có quyết định, 2: Đã có quyết định).
    • Thang đo 11 câu hỏi được thiết kế để đo lường toàn diện các khía cạnh khó khăn, mức độ cần trợ giúp, mức độ tự tin, nhận thức và thái độ đối với TVHN.
  • Khó khăn của học viên khi quyết định lựa chọn nghề nghiệp: Kết quả thống kê cho thấy học viên gặp nhiều rào cản thông tin và nhận thức:
Thứ hạng Nội dung khó khăn khi chọn nghề nghiệp Tần số ($f$)
1 Thiếu thông tin về các ngành nghề trong xã hội 75
2 Không có những người thật sự am hiểu về nghề để tư vấn (Xếp hạng 2)
3 Không biết bản thân có những phẩm chất và năng lực gì (Xếp hạng 3)
4 Không hiểu rõ bản thân phù hợp với nghề nào trong xã hội (Xếp hạng 4)
... ... ...
8 Thiếu thông tin về hệ thống các trường đào tạo nghề trong xã hội (Xếp hạng 8)

Khó khăn lớn nhất được học viên lựa chọn nhiều nhất là "Thiếu thông tin về các ngành nghề trong xã hội" ($f = 75$). Trong khi đó, khó khăn xếp cuối cùng (hạng 8) là "Thiếu thông tin về hệ thống các trường đào tạo nghề trong xã hội", do công tác quảng cáo, tuyển sinh của các trường đại học, cao đẳng hiện nay diễn ra rất mạnh mẽ trên các phương tiện truyền thông.

  • Nhu cầu được hỗ trợ từ người khác khi ra quyết định chọn nghề:
    • Nhóm đánh giá "Cần" và "Rất cần": Chiếm tỷ lệ áp đảo 85.3% toàn mẫu.
    • Nhóm đánh giá "Có cũng được, không có cũng được": Chiếm 11.6%.
    • Nhóm đánh giá "Không cần" và "Hoàn toàn không cần": Chỉ chiếm 3.0%.
  • Mức độ tự tin với các thông tin hiện có khi ra quyết định chọn nghề:
    • Điểm trung bình: $Mean = 3.34$; Giá trị yếu vị: $Mode = 3$.
    • Số liệu phản ánh phần lớn học viên đang ở trạng thái phân vân, lưỡng lự, chưa thực sự tự tin vào quyết định chọn nghề của mình do thiếu các cơ sở khoa học và nguồn tư vấn tin cậy.
  • Mức độ phát triển nhu cầu và các yếu tố tương quan:
    • Đánh giá nhu cầu TVHN thông qua nhận thức về khái niệm TVHN (đo lường các mức độ ý hướng, ý muốn, ý định theo Rubinstein).
    • Phân tích tương quan giữa nhận thức về TVHN với thái độ đánh giá sự cần thiết và mức độ hiệu quả của các hình thức tư vấn (tư vấn cá nhân, tư vấn nhóm, trắc nghiệm tâm lý, phương tiện truyền thông).
    • Kiểm nghiệm Chi-square so sánh mức độ nhu cầu TVHN theo giới tính, khối thi, năm tốt nghiệp và tình trạng đã/chưa có quyết định nghề nghiệp.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính từ số liệu thực nghiệm

  1. Nhu cầu TVHN ở mức rất cao: Có đến 85.3% học viên tại trung tâm luyện thi bày tỏ sự cần thiết và rất cần được hỗ trợ, tư vấn chuyên môn khi đưa ra quyết định lựa chọn nghề nghiệp.
  2. Khoảng trống thông tin nghề nghiệp: Khó khăn cốt lõi của học viên không nằm ở việc tìm kiếm trường thi (xếp hạng 8), mà tập trung ở sự thiếu hụt bức thiết về bức tranh tổng thể các ngành nghề trong xã hội ($f = 75$, hạng 1) và sự thiếu vắng chuyên gia tư vấn am hiểu sâu sắc về nghề (hạng 2).
  3. Mức độ tự tin thấp: Điểm tự tin trung bình $Mean = 3.34$ ($Mode = 3$) cho thấy học viên vẫn chưa được trang bị đầy đủ cơ sở để tự tin khẳng định hướng đi tương lai.
  4. Phân hóa mức độ nhu cầu: Nhu cầu TVHN của học viên chủ yếu bộc lộ rõ ở giai đoạn nhận thức ban đầu (ý hướng và ý muốn), đòi hỏi phải có các can thiệp hỗ trợ để chuyển hóa thành ý định và hành động thực tế.

Kiến nghị của tác giả

  • Đối với các cấp lãnh đạo và quản lý giáo dục:
    • Mở rộng phạm vi và đối tượng của công tác tư vấn hướng nghiệp, không chỉ tập trung ở học sinh THPT mà cần triển khai chính thức tại các trung tâm bồi dưỡng văn hóa, trung tâm luyện thi đại học và giáo dục thường xuyên.
    • Đẩy mạnh đào tạo bài bản đội ngũ chuyên viên tư vấn tâm lý - hướng nghiệp có chuyên môn, kỹ năng và đạo đức nghề nghiệp; khắc phục tình trạng giáo viên kiêm nhiệm thiếu nghiệp vụ.
    • Chuẩn hóa và ứng dụng các bộ công cụ trắc nghiệm tâm lý hướng nghiệp phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý và bối cảnh thị trường lao động Việt Nam.
  • Đối với học viên:
    • Chủ động tìm hiểu bản thân (năng lực, sở thích, tính cách, giá trị) và tìm kiếm thông tin ngành nghề qua các kênh khoa học, chính thống.
    • Tích cực tham gia các buổi tư vấn chuyên sâu, trắc nghiệm hướng nghiệp để xây dựng kế hoạch nghề nghiệp rõ ràng, tránh tâm lý phó mặc hoặc lựa chọn theo cảm tính.

Đóng góp khoa học của đề tài

  • Khóa luận là một trong những công trình tiên phong nghiên cứu thực trạng nhu cầu TVHN trên nhóm khách thể đặc thù là học viên trung tâm luyện thi đại học – đối tượng thường bị xem là đã hoàn thành hướng nghiệp ở trường phổ thông.
  • Cung cấp dữ liệu thực chứng có giá trị cho khoa học tâm lý giáo dục về những khó khăn nhận thức, mức độ tự tin và nhu cầu trợ giúp của thanh niên sau khi tốt nghiệp THPT.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế về phạm vi và mẫu khảo sát: Nghiên cứu được giới hạn thực hiện trên mẫu 198 học viên tại một cơ sở duy nhất là Trung tâm Bồi dưỡng văn hóa và Luyện thi đại học thuộc Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh trong năm học 2012 - 2013, do đó tính đại diện cho toàn bộ học viên luyện thi trên địa bàn toàn quốc còn hạn chế.
  • Hạn chế về phương pháp thu thập: Đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi tự thuật; thời gian và nguồn lực nghiên cứu có hạn nên chưa kết hợp sâu với các phương pháp thực nghiệm can thiệp hoặc phỏng vấn sâu cá nhân.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng quy mô khảo sát trên nhiều trung tâm luyện thi, trường nghề và trung tâm giáo dục thường xuyên tại nhiều tỉnh, thành phố khác nhau.
    • Nghiên cứu thiết kế và thử nghiệm mô hình chương trình can thiệp TVHN chuyên biệt dành riêng cho học viên luyện thi đại học.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng và mục đích sau:

  • Sinh viên và học viên cao học chuyên ngành Tâm lý học, Giáo dục học, Công tác xã hội: Tham khảo khung lý luận chi tiết về lịch sử hướng nghiệp (từ Parsons, Holland, Roe đến tâm lý học Liên Xô), các giai đoạn hình thành nhu cầu của Rubinstein, và phương pháp thiết kế bảng hỏi khảo sát định lượng xử lý bằng SPSS.
  • Cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên hướng nghiệp: Cung cấp góc nhìn thực tiễn về khoảng trống hướng nghiệp sau bậc THPT, từ đó đổi mới nội dung giáo dục hướng nghiệp, tránh chỉ tập trung vào thông tin tuyển sinh mà bỏ quên việc đánh giá năng lực cá nhân.
  • Chuyên viên tư vấn tâm lý học đường: Sử dụng các kết quả khảo sát về khó khăn và mức độ tự tin của học viên để xây dựng các chuyên đề tư vấn, các buổi hội thảo hướng nghiệp và công cụ hỗ trợ chọn nghề sát với thực tế tâm lý lứa tuổi thanh niên.

Câu hỏi thường gặp

1. Khách thể và dung lượng mẫu khảo sát trong nghiên cứu này là bao nhiêu?

Nghiên cứu được thực hiện trên khách thể là học viên đang học tại Trung tâm Bồi dưỡng văn hóa và Luyện thi đại học tại Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, với dung lượng mẫu là 198 học viên được chọn ngẫu nhiên bốc thăm từ 8 lớp thuộc 5 khối thi (A, A1, B, C, D).

2. Khó khăn lớn nhất mà học viên gặp phải khi lựa chọn nghề nghiệp là gì?

Theo số liệu khảo sát tại Bảng 2.1, khó khăn lớn nhất được đa số học viên lựa chọn là "Thiếu thông tin về các ngành nghề trong xã hội" với tần số $f = 75$ (xếp hạng 1). Ngược lại, khó khăn ít gặp nhất là "Thiếu thông tin về hệ thống các trường đào tạo nghề trong xã hội" (xếp hạng 8).

3. Tỷ lệ học viên có nhu cầu cần được người khác hỗ trợ, tư vấn hướng nghiệp là bao nhiêu?

Kết quả khảo sát chỉ ra rằng có tới 85.3% học viên trong toàn mẫu đánh giá mức độ "Cần" và "Rất cần" được hỗ trợ từ người khác khi ra quyết định chọn nghề. Nhóm "Có cũng được, không có cũng được" chiếm 11.6%, và nhóm "Không cần / Hoàn toàn không cần" chỉ chiếm 3.0%.

4. Mức độ tự tin của học viên đối với các thông tin chọn nghề hiện có được đánh giá như thế nào?

Mức độ tự tin của học viên đạt điểm trung bình $Mean = 3.34$ và giá trị yếu vị $Mode = 3$, phản ánh phần lớn học viên đang ở trạng thái phân vân, lưỡng lự, chưa thực sự tự tin với những thông tin mình đang có để đưa ra quyết định nghề nghiệp.

5. Tác giả đã vận dụng lý thuyết nào để phân chia các mức độ của nhu cầu tư vấn hướng nghiệp?

Tác giả đã vận dụng lý thuyết về sự hình thành và phát triển nhu cầu của nhà tâm lý học S.L. Rubinstein, trong đó nhu cầu được phân chia qua 3 giai đoạn kế tiếp nhau từ thấp đến cao: Ý hướng, Ý muốn và Ý định.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hoàng Ngọc Diễm đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về nhu cầu và tư vấn hướng nghiệp, đồng thời phản ánh khách quan thực trạng nhu cầu TVHN của học viên tại Trung tâm Bồi dưỡng văn hóa và Luyện thi đại học - Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh. Dữ liệu thực nghiệm chứng minh rằng có tới 85.3% học viên có nhu cầu bức thiết cần được tư vấn hướng nghiệp, trong khi phần lớn các em vẫn gặp khó khăn lớn về thông tin ngành nghề và thiếu tự tin khi lựa chọn nghề tương lai. Công trình là tài liệu tham khảo có giá trị khoa học và thực tiễn, đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng cho công tác tư vấn tâm lý - hướng nghiệp đối với nhóm đối tượng người học sau THPT.