CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Lịch sử vấn để nghiên cứu TTM được coi là một trong những vấn dé cơ bản của tâm lý học.Việc tìm hiểu TTM đã là mối quan tâm của các nhà tâm lý học cách đây nhiều thế kỷ. Khái niệm TTM, vấn dé đo lường TTM, sự khác biệt giữa các cá nhân về TTM, ảnh hưởng của gen và môi trường lên TTM, vai trò của TTM. từng là các vấn để nổi trội trong những nghiên cứu về TTM.
Những nghiên cứu ở nước ngoài Từ thế kỷ 16, tức là thời Phục hung, trong tác phẩm “Kiểm tra trí khôn của con người” (The examination of men's wits), luan Huarte ( Tây Ban Nha ) — cha đẻ của tâm lý học sai biệt — cho rằng TTM là năng lực nhận thức, mỗi người đều có một khả năng tự nhiên đối với một nghề duy nhất hoặc không có gì cả. Huarte đã phát triển một công trình tâm lý chủ yếu ứng dụng dựa trên học thuyết của ông về cơ sở sinh học của con người. Những ý tưởng của ông về cơ sở sinh hoc của TTM được nhận xét là “kha kỳ lạ” (ví dụ, chất lượng của một bộ não tốt phụ thuộc vào nhiệt độ, nói cách khác là phụ thuộc vào 3 loại khí chất: nóng, ẩm ướt, khô ráo thúc đẩy sự khác biệt về TTM ở con người). Tư duy của Huarte dược đánh giá là mang tính cơ học và do vậy các nghiên cứu của ông còn những hạn chế nhất định [20].
Bến thế kỷ 17, trong cuốn “Leviathan” của mình, Thomas Hobbes (Anh), nhà tâm lý học- triết học, để xuất khái niệm TTM tự nhiên và TTM do luyện tập mà các nhà nghiên cứu đánh giá hai khái niệm này chính là ý tưởng khởi xướng cho khái niệm TTM phân kỳ (fluid intelligence) và TTM hội tu (crystallized intelligence) xuất hiện sau này. Điểm nổi bật trong lý thuyết của Hobbes là dng cho rằng sự khác biệt giữa các cá nhãn về TTM có nguén gốc từ sự thiếu hut năng lực phân biệt của các giác quan cùng với những khác biệt về đặc điểm nhân cách, nên giáo dục và van hoá mà cá nhãn được thụ hưởng [20]. Quan niệm TTM là nang lực phân biệt rõ ràng các sự vật hiện tượng trong thé giới do nha triết học — tâm lý học — toán hoc Christian Wolff dé xuất trong tắc phẩm “Thực nghiệm tâm lý” ra đời vào thé kỷ 18 [51, trang 20]. Những ý tưởng của Wolff báo trước những nỗ lực thực nghiệm đầu tiên trong việc nghiên cứu về TTM ở con nguời mà sau này Galton (1883), Spearman (1904, 1927) là những người tiên phong.
Nhìn chung, có thể nói các khái niệm, các ý tưởng mà ba tắc giả trên để xuất đã làm nên tang cho rất nhiều nghiên cứu sau này. Chẳng hạn, ý tưởng của Hobbes và Wolff có thể đồng thuận với ý tưởng của Hebb về TTM A và TTM B, của Cattell & Horn về TTM hội tụ và TTM phân kỳ, của Lindenberger & Baltes về cơ chế và sự ứng dụng của TTM, của Eysenck về TTM xã hội, TTM theo quan điểm đo lường và TTM sinh học 120, trang 53]. Thế kỷ 20 đánh dấu một giai đoạn nghiên cứu sôi động về TTM với khởi điểm là những nghiên cứu của nhà tâm lý học Anh Charles Spearman được trình bày trong hai tac phẩm chủ yếu: “Ban chất của TTM và những nguyễn tắc nhận thức” (The nature of intelligence and the principles of cognition, 1923) và “Khả năng của con người” (The abilities of man, 1927). Spearman cho rằng TTM của con người được cấu thành bởi hai yếu tố: yếu tố chung, gọi là yếu tố “g”, đảm bảo cho sự thành công của con người trong các hoạt động chung và yếu tổ chuyên biệt, gọi là yếu tố “s”, đảm bảo cho sự thành công trong các hoạt động cụ thể.
Sự ra đời của lý thuyết TTM hai yếu tố (Two - factor theory of intelligence) đã gây khá nhiễu tranh cãi, mổ ra nhiều hướng nghiên cứu khác nhau. Các nhà nghiên cứu nối tiếp quan điểm của Speaman là Burt (1955) và Venon (1977). Họ mé tả nhiều yếu tố nhóm (group factors) xuất hiện giữa "g” và “s”, Các yếu tố nhóm đó gồm nhiều kỹ năng bằng lời (verbal skills) và khả năng giáo dục (educational abilities) được quy là v:ed và một nhóm khả năng không gian và cơ học được quy là k:m. Burt và Venon xem “ge” là yếu tố di truyền còn các yếu tố nhóm đó và “s" là yếu tố do giáo dục ma có [3].
Những nhà nghiên cứu không đồng tình với Spearman đã xây dựng lý thuyết về TTM đa yếu tố. Đó là Thurstone với lý thuyết “Những năng lực tri tuệ nguyên thủy” (The primary mental abilities) cho rằng TTM gốm 7 yếu tố đặc trưng: + Khả năng hiểu và vận dụng số. + Khả năng hiểu ngôn ngữ, + Su hoạt bát ngôn ngữ. + Khả năng về không gian.
+ Khả năng tri giác. + Khả năng suy luận. Với mục đính tiếp cận hệ thống về TTM nhiều nhà tâm lý học đã xây dựng các lý thuyết khác nhau: lý thuyết tam dạng về TTM (Triarchic theories of Intelligence) của Sternberg (1985), lý thuyết nhiều dạng TTM (The multiple Intelligence) của Howard Gardner (1983), mô hình cấu trúc TTM 3 chiều của Guilford (1967). Nhìn chung, quan điểm của các nhà nghiên cứu khác nhau nhưng suy cho cùng có hai nhóm quan điểm chủ yếu là: (1) TTM là năng lực học từ sự trải nghiệm và (2) TTM là năng lực thích ứng với môi trường xung quanh.
Năm 1986, trong một hội thảo về “TTM và đo lường TTM”, hai loại năng lực nói trên tiếp tục được nhắc đến khi các chuyên gia đưa ra định nghĩa về TTM: “TTM là các quá trình tâm thắn cơ bản (chính là năng lực nhận thức hay năng lực hoc tap), năng lực thích ứng với mỗi trường và tư duy trừu tượng” [6]. TTM được khái niệm hóa như là năng lực tư duy trừu thường được chứng minh rằng có khả năng dự đoán trên phương diện nào đó về sự thành công của cá nhẫn trong cuộc sống, đặc biệt là thành công học đường. Nói chung từ đầu thế kỷ 20 trở đi, khi TTM, học tập và tư duy được các nhà tâm lý học ý thức rằng chúng có mỗi quan hệ chặt chẽ với nhau thì việc xem TTM như là nang lực học tập trở thành một quan niệm phổ biến. Việc nghiên cứu ảnh hưởng của TTM đến thành công học đường được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, chẳng hạn: lũ Nghiên cứu của Venon (1947), Lavin (1965), Jensen (1980), Brody (1992) xác nhận mối tương quan ý nghĩa (0,4 - 0,7) giữa điểm IQ và kết quả thi cử của trẻ 8 - 10 tuổi [22, trang 44].
Năm 1985, nghiên cứu của Horn & Packard, Burtler, Marsh, Sheppard về sự tương quan giữa IQ với thành tích học tập đã chỉ ra rằng điểm IQ đạt được ở một độ tuổi nhất định có thể tiên đoán thành tích học của trẻ ở độ tuổi sau [22, trang 45]. Bên cạnh đó, nghiên cứu của lencks (1972), Mc Call (1977) cũng cho thấy có mối liên hệ ý nghĩa (= 0,6) giữa điểm 1Q với tổng số năm được di học, giữa IQ với các phẩm chất giáo dục mà cá nhân đạt được. Kết quả nghiên cứu của Hearnstein và Murray (1994) cũng cho phép rút ra những kết luận tướng tự [22, trang 46]. Nhìn chung ở nước ngoài, nhất là các nước phương Tây, TTM là lĩnh vực được nghiên cứu sâu rộng và có bể dày lịch sử đáng kể mà sự trình bày trong để tài này chỉ ở mức sơ lược.
Riêng vấn để mối quan hệ giữa IQ và thành tích học tập được không ít nhà tâm lý học tiển hành nghiên cứu. Tuy nhiên, khách thể của những nghiên cứu này chủ yếu ở độ tuổi nhà trẻ, mẫu giáo hoặc học sinh trung học, Đồng thời, một số kết luận rút ra từ các công trình đó vẫn chưa đi đến sự thống nhất, chứng tỏ vấn để còn chứa nhiều mặt đa dạng, phức tạp, cần được đào sâu nghiên cứu hơn nữa, 1. Những nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam TTM chưa được nghiên cứu nhiều. Một số nghiên cứu đáng chú ý là: - Chương trình nghiên cứu TTM của học sinh Việt Nam (do Viện khoa học giáo dục thực hiện) nghiền cứu trên 12.000 học sinh tiểu học, 11 Trung học cơ sở và Trung học phổ thông ở Hà Nội, Huế, TP.HCM kết hợp đốt chứng với học sinh ở một số tỉnh khác đã chỉ ra rằng môi trường kinh tế — xã hội, môi truờng van hóa, đặc biệt là môi trường gia đình đã ảnh hưởng đậm nét đến sự phát triển trí tuệ của học sinh, ví dụ: nhóm học sinh con em gia đình cán bộ, bộ đội có 1Q cao nhất (101 - 105), tiếp đến là con em gia đình kinh doanh (98 - 99), thấp nhất là con em gia đình nông dân (91 —93); học sinh miễn núi có IQ thấp hơn 5 - 10 điểm so với học sinh ở các vùng khác.
Từ các kết quả đó, các nhà nghiên cứu kiến nghị không nên đặt vấn dé tinh giản chương trình mà phải coi trọng việc đổi mới hoạt động dạy và học, đẳng thời từng bước khắc phục khoảng cách chênh lệch về kinh tế, văn hoá xã hội giữa các vùng miền, giữa các nhóm dân cư nhằm đảm bảo độ đồng đều trong cơ hội phát triển của học sinh. - Luận án phó tiến sĩ của Phạm Hoàng Gia (1979) với dé tài “Ban chất TMM va cơ sở của đường lối lĩnh hội khái niệm” chủ yếu tập trung nghiên cứu lý luận về TTM và khả năng ứng dụng vào tâm lý học dạy học. - Một số nghiên cứu, bài viết được công bố trên các tạp chí chuyên ngành. + Để tài “Quan niệm của cha me học sinh tiểu học về TTM” của La Thu Thủy, 2002.
+ Các bài viết "Bàn thêm về TTM” của Phạm Hoàng Gia (1973) và “Trí thông minh” của Nguyễn Công Khanh (2004) chủ yếu nghiên cứu khái niệm TTM trên cơ sở tổng hợp các quan niệm về TTM. Ngoài ra còn có một số nghiên cứu về trí tuệ cam xúc — một quan niệm hiện đại về TTM - như: + “Thử đo đạc chỉ số trí tuệ cảm xúc của sinh viên sư phạm” của các tác giả Đỗ Thu Hiển, Nguyễn Quang Uan (2004). + “Khảo sát mức độ biểu hiện trí tuệ cảm xúc của giáo viên mim non TP.HCM” (2005) của sinh viên Trần Thanh Hùng, khoa Tâm lý ~ Giáo dục, Đại Học Sư Phạm TP.