Thực Trạng và Nhu Cầu Sử Dụng Y Học Cổ Truyền Trong Điều Trị Bệnh Cơ Xương Khớp Tại Nhà

Luận văn thạc sĩ y học phân tích thực trạng và nhu cầu sử dụng y học cổ truyền trong điều trị bệnh cơ xương khớp tại thành phố Vinh, Nghệ An.

Chuyên ngành

Y học cổ truyền

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2022

121
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nhu Cầu Sử Dụng Y Học Cổ Truyền Điều Trị Bệnh Cơ Xương Khớp Tại Nhà

Y học cổ truyền (YHCT) đã trở thành một phần quan trọng trong việc điều trị bệnh cơ xương khớp tại nhà. Nhu cầu sử dụng YHCT ngày càng tăng do sự tiện lợi và hiệu quả của các phương pháp điều trị này. Theo nghiên cứu, nhiều bệnh nhân tìm đến YHCT để giảm đau và cải thiện chất lượng cuộc sống. Việc điều trị tại nhà không chỉ giúp tiết kiệm thời gian mà còn tạo cảm giác thoải mái cho người bệnh.

1.1. Tình Hình Sử Dụng Y Học Cổ Truyền Tại Nhà

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ người bệnh sử dụng YHCT tại nhà đang gia tăng. Nhiều bệnh nhân cho biết họ cảm thấy an tâm hơn khi điều trị tại nhà với sự hỗ trợ của các phương pháp YHCT.

1.2. Lợi Ích Của Y Học Cổ Truyền Trong Điều Trị Bệnh Cơ Xương Khớp

YHCT mang lại nhiều lợi ích như giảm đau, cải thiện chức năng vận động và tăng cường sức khỏe tổng thể. Các phương pháp như châm cứu, bấm huyệt và sử dụng thuốc nam đã được chứng minh là hiệu quả trong việc điều trị bệnh cơ xương khớp.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Việc Sử Dụng Y Học Cổ Truyền

Mặc dù YHCT có nhiều lợi ích, nhưng vẫn tồn tại một số thách thức trong việc áp dụng. Người bệnh thường gặp khó khăn trong việc tìm kiếm thông tin chính xác và đáng tin cậy về các phương pháp điều trị. Ngoài ra, sự thiếu hụt chuyên gia YHCT có thể ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ.

2.1. Thiếu Thông Tin Về Y Học Cổ Truyền

Nhiều người bệnh chưa hiểu rõ về YHCT và các phương pháp điều trị. Điều này dẫn đến việc họ không biết cách áp dụng YHCT một cách hiệu quả.

2.2. Khó Khăn Trong Việc Tiếp Cận Dịch Vụ Y Học Cổ Truyền

Sự thiếu hụt chuyên gia YHCT tại nhiều khu vực khiến người bệnh khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ điều trị. Điều này có thể làm giảm hiệu quả của YHCT trong điều trị bệnh cơ xương khớp.

III. Phương Pháp Điều Trị Bệnh Cơ Xương Khớp Bằng Y Học Cổ Truyền

YHCT cung cấp nhiều phương pháp điều trị hiệu quả cho bệnh cơ xương khớp. Các phương pháp này bao gồm sử dụng thuốc nam, châm cứu, bấm huyệt và thảo dược. Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm riêng, giúp người bệnh giảm đau và cải thiện sức khỏe.

3.1. Sử Dụng Thuốc Nam Trong Điều Trị

Thuốc nam được sử dụng rộng rãi trong YHCT để điều trị bệnh cơ xương khớp. Các loại thảo dược như ngải cứu, gừng và nghệ có tác dụng giảm đau và chống viêm.

3.2. Châm Cứu Và Bấm Huyệt

Châm cứu và bấm huyệt là hai phương pháp phổ biến trong YHCT. Chúng giúp kích thích các điểm huyệt trên cơ thể, từ đó giảm đau và cải thiện lưu thông máu.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Y Học Cổ Truyền Trong Điều Trị Bệnh Cơ Xương Khớp

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng YHCT có thể mang lại hiệu quả tích cực trong việc điều trị bệnh cơ xương khớp. Các bệnh nhân sử dụng YHCT thường báo cáo giảm đau và cải thiện chức năng vận động. Điều này cho thấy YHCT có thể là một lựa chọn điều trị hiệu quả cho bệnh nhân.

4.1. Kết Quả Nghiên Cứu Về Y Học Cổ Truyền

Nghiên cứu cho thấy YHCT có thể giúp giảm triệu chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân mắc bệnh cơ xương khớp. Các phương pháp như châm cứu và thuốc nam đã được chứng minh là hiệu quả.

4.2. Trường Hợp Thành Công Trong Điều Trị

Nhiều bệnh nhân đã thành công trong việc điều trị bệnh cơ xương khớp bằng YHCT. Họ cho biết cảm thấy khỏe mạnh hơn và có thể quay lại với các hoạt động hàng ngày.

V. Kết Luận Về Nhu Cầu Sử Dụng Y Học Cổ Truyền

YHCT đang ngày càng được ưa chuộng trong việc điều trị bệnh cơ xương khớp tại nhà. Nhu cầu sử dụng YHCT không chỉ giúp người bệnh giảm đau mà còn cải thiện chất lượng cuộc sống. Việc nâng cao nhận thức về YHCT và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ sẽ giúp người bệnh hưởng lợi nhiều hơn từ các phương pháp này.

5.1. Tương Lai Của Y Học Cổ Truyền

YHCT có tiềm năng phát triển mạnh mẽ trong tương lai. Việc kết hợp giữa YHCT và YHHĐ có thể mang lại nhiều lợi ích cho người bệnh.

5.2. Khuyến Khích Sử Dụng Y Học Cổ Truyền

Khuyến khích người bệnh tìm hiểu và áp dụng YHCT trong điều trị bệnh cơ xương khớp sẽ giúp nâng cao sức khỏe cộng đồng.

27/06/2025
Luận văn thạc sĩ y học thực trạng và nhu cầu sử dụng y học cổ truyền điều trị bệnh cơ xương khớp tại nhà của người bệnh ở một số cơ sở y tế thành phố vinh tỉnh nghệ an

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Mô hình bệnh tật đang có xu hƣớng dịch chuyển dần về phía nhóm bệnh không lây nhiễm (BKLN), trong đó bệnh lý cơ xƣơng khớp là một trong những bệnh lý chiếm tỷ lệ lớn trong dân chúng. Hiện nay, cùng với sự gia tăng tuổi thọ trung bình của ngƣời Việt Nam thì tỷ lệ mắc các bệnh cơ xƣơng khớp cũng dần phổ biến hơn. Cơ xƣơng khớp là nhóm bệnh rất thƣờng gặp và đang gia tăng nhanh chiếm trên 33% dân số chung và trên 54% dân số trƣởng thành, gây đau đớn kéo dài cho hàng trăm triệu ngƣời, gây tàn phế, gắn liền với nghỉ việc, giảm năng suất lao động, hạn chế các hoạt động hằng ngày và làm giảm chất lƣợng sống của con ngƣời [1]. Theo Báo cáo chung tổng quan ngành Y tế 2016 bệnh cơ xƣơng khớp chủ yếu gây ra gánh nặng do khuyết tật.

Tính đến năm 2015 chỉ số năm sống mất đi do bệnh lý cơ xƣơng khớp (DALY – Disability Adjusted Life Year) là 8% trên tổng số DALY của ngƣời cao tuổi mặc dù nó chỉ gây ra tỷ lệ tử vong dƣới 1% ở ngƣời cao tuổi. Năm 2009 có tới 22% đối với nam và 29% đối với nữ ở ngƣời cao tuổi tự đánh giá có khó khăn về vận động [2]. Theo thống kê năm 2012 của tác giả Yoshihito Sakai khoảng 80% dân số từng đau thắt lƣng ít nhất một lần trong đời, tỷ lệ đau thắt lƣng trên thế giới lên tới 65 triệu ngƣời mỗi năm; khoảng 17% ngƣời trên 60 tuổi mắc bệnh đau lƣng và con số này là 30% ở các bệnh nhân tuổi từ 20 – 55 tuổi [3]. Các kết quả nghiên cứu cho thấy, chỉ riêng ở Mỹ, hằng năm có 21 triệu ngƣời mắc bệnh thoái hóa khớp [4].

Cũng tại Mỹ mỗi năm có khoảng 1,5 triệu ca gãy xƣơng có liên quan đến loãng xƣơng [5]. Tần suất mắc bệnh xƣơng khớp ở nƣớc ta là 47,6% ở ngƣời trên 60 tuổi [6]. Tại Bệnh viện Bạch Mai (số liệu thống kê năm 2012), tỷ lệ bệnh nhân mắc các bệnh lý xƣơng khớp chiếm tới 10,4% tổng lƣợt khám hằng năm [7]. Theo khảo sát mô hình bệnh tật tại khoa Nội Cơ Xƣơng Khớp Bệnh viện Thống Nhất năm 2012- 2013 cho thấy: Cơ cấu bệnh tật của khoa Nội Cơ Xƣơng Khớp gồm thoái hóa khớp, loãng xƣơng, gout, viêm khớp nhiễm khuẩn là thƣờng gặp nhất [8].

2 Y học hiện đại (YHHĐ) có nhiều phƣơng pháp điều trị bao gồm dùng thuốc và không dùng thuốc, tuy nhiên mỗi phƣơng pháp điều trị có những ƣu và nhƣợc điểm riêng biệt. Trong những năm gần đây, theo đƣờng lối phát triển về Y học cổ truyền (YHCT) của Đảng và Chính phủ, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra YHCT có giá trị đặc biệt trong hỗ trợ điều trị một số bệnh cơ xƣơng khớp [9]. Điều trị các bệnh cơ xƣơng khớp bằng YHCT cũng đã đƣợc chứng minh là có tính an toàn và làm giảm nguy cơ các biến chứng [10],[11]. Bệnh lý cơ xƣơng khớp ngoài liên quan đến vấn đề tuổi tác thì yếu tố nghề nghiệp, thói quen sinh hoạt cũng góp phần không nhỏ trong quá trình hình thành nên bệnh, do đó bệnh lý cơ xƣơng khớp có thể gặp ở mọi lứa tuổi.

Đa phần các bệnh lý cơ xƣơng khớp là bệnh mạn tính, điều trị kéo dài, đòi hỏi phải có sự phối hợp giữa bệnh nhân và bác sĩ. Nhƣng với tâm lý “ngại” đi bệnh viện để điều trị bệnh do nhiều nguyên nhân khác nhau nên ngƣời bệnh có xu hƣớng tìm đến các dịch vụ Y học gia đình (YHGĐ). Chúng tôi nhận thấy việc sử dụng dịch vụ y học cổ truyền tại gia đình trong điều trị bệnh nói chung và bệnh cơ xƣơng khớp nói riêng có thể xem là một hƣớng phát triển mới của y học cổ truyền và chƣa có nghiên cứu nào đánh giá về vấn đề này. Xuất phát từ thực trạng trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và nhu cầu sử dụng Y học cổ truyền điều trị bệnh cơ xƣơng khớp tại nhà của ngƣời bệnh ở một số cơ sở y tế, thành phố Vinh tỉnh Nghệ An” với hai mục tiêu sau đây: 1.

Mô tả thực trạng người bệnh cơ xương khớp điều trị tại 3 khoa Y học cổ truyền của 3 bệnh viện ở thành phố Vinh tỉnh Nghệ An thời gian từ năm 2018 đến năm 2020. Xác định nhu cầu sử dụng y học cổ truyền tại nhà của người bệnh cơ xương khớp điều trị tại 3 khoa Y học cổ truyền của 3 bệnh viện ở thành phố Vinh tỉnh Nghệ An thời gian từ tháng 5 đến tháng 9 năm 2021. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TÌNH HÌNH MẮC BỆNH CƠ XƢƠNG KHỚP 1.

Tình hình mắc bệnh cơ xƣơng khớp trên thế giới Tổ chức Y tế Thế giới và Liên hợp quốc đã đồng đề xƣớng lấy 20 năm đầu tiên của thế kỷ 21 làm Thập niên Xƣơng và Khớp [1], từ đó có thể thấy tốc độ gia tăng nhanh chóng của các bệnh lý cơ xƣơng khớp trên phạm vi toàn cầu. Theo thống kê năm 2012 của tác giả Yoshihito Sakai khoảng 80% dân số từng đau thắt lƣng ít nhất một lần trong đời, tỷ lệ đau thắt lƣng trên thế giới lên tới 65 triệu ngƣời mỗi năm, khoảng 17% ngƣời trên 60 tuổi mắc bệnh đau lƣng và con số này là 30% ở các bệnh nhân tuổi từ 20 – 55 tuổi [3]. Các kết quả nghiên cứu cho thấy, chỉ riêng ở Mỹ, hằng năm có 21 triệu ngƣời mắc bệnh thoái hóa khớp, với 4 triệu ngƣời phải nằm viện, khoảng 100.000 bệnh nhân không thể đi lại đƣợc do thoái hóa khớp gối nặng [4]. Ở Pháp, bệnh thoái hóa khớp chiếm khoảng 28,6% trong số các bệnh xƣơng khớp, mỗi năm khoảng 50.000 ngƣời đƣợc ghép khớp háng nhân tạo [12].

Tại các nƣớc châu Âu chi phí trực tiếp cho điều trị thoái hóa khớp khoảng 4.000 USD/bệnh nhân/năm [13]. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, loãng xƣơng là nguyên nhân phổ biến nhất gây gãy xƣơng và chiếm khoảng 1,5 triệu ca gãy xƣơng ở Mỹ mỗi năm. Trong tƣơng lai, với sự gia tăng tuổi thọ trung bình, sẽ gia tăng đáng kể tỷ lệ mắc bệnh loãng xƣơng và tỷ lệ gãy xƣơng có liên quan đến loãng xƣơng. Đến năm 2020, hơn 14 triệu đối tƣợng trên 50 tuổi có thể bị ảnh hƣởng bởi bệnh loãng xƣơng và 47 triệu ngƣời khác có thể có khối lƣợng xƣơng thấp.000 ca nhập viện, hơn 2,6 triệu lƣợt khám bệnh, hơn 800.000 lƣợt nhập viện cấp cứu và khoảng 180.000 cá nhân đƣợc đƣa vào viện dƣỡng lão đƣợc đăng ký hàng năm tại Mỹ, dự đoán sự gia tăng chi phí từ 100% đến 200% vào năm 2040 [5].

Theo thống kê, tỷ lệ mắc bệnh viêm khớp dạng thấp 4 khoảng 0,5% – 1% dân số một số nƣớc châu Âu và khoảng 0,17% - 0,3% ở các nƣớc châu Á [14]. Số liệu cho thấy năm 2011, chi phí cho nhóm bệnh cơ xƣơng khớp đã lên tới 874 tỷ USD, chiếm tới 5,7% GDP của Mỹ, tăng gấp 3,6 lần so với năm 1999, năm cuối cùng của thế kỷ 20 là 225 tỷ USD. Các chi phí này đang gia tăng rất nhanh cùng với việc ứng dụng điều trị sinh học. Riêng chi phí cho bệnh viêm khớp dạng thấp tại Mỹ đã tăng 7 lần (10 tỷ năm 1999 tăng lên 75 tỷ năm 2011) [1].

Tình hình mắc bệnh cơ xƣơng khớp tại Việt Nam Mô hình bệnh tật ở mỗi quốc gia là khác nhau do đặc điểm về địa lý, tình hình phát triển, tập quán, văn hóa khác nhau. Mô hình bệnh tật nƣớc ta vẫn là mô hình bệnh tật của các nƣớc đang phát triển, cơ cấu giữa 3 nhóm bệnh lây nhiễm, không lây nhiễm và tai nạn thƣơng tích đã có sự thay đổi nhanh chóng trong vòng hơn 30 năm trở lại đây với sự gia tăng nhanh tỷ trọng của các bệnh không lây nhiễm. Sự dịch chuyển các nhóm bệnh thấy rõ nhất từ năm 1976 (bệnh lây nhiễm 55,5% ca mắc; bệnh không lây nhiễm 42,65% ca mắc; tai nạn ngộ độc thƣơng tích 1,84% ca mắc) đến năm 2014 (bệnh lây nhiễm giảm xuống 19,82% ca mắc; bệnh không lây nhiễm tăng lên 67,43% ca mắc; ngộ độc tai nạn thƣơng tích tăng lên 10,15% ca mắc) [15]. BKLN là bệnh mạn tính, điều trị kéo dài và cần đƣợc nâng cao sức khỏe, đây là tiềm năng phát triển của YHCT.

Nhóm bệnh cơ xƣơng khớp tuy ít gây tử vong nhƣng lại làm ảnh hƣởng đến chức năng vận động, làm giảm hoặc mất khả năng lao động. Tần suất mắc bệnh xƣơng khớp ở nƣớc ta là 47,6% ở ngƣời trên 60 tuổi [6]. Tại Bệnh viện Bạch Mai (số liệu thống kê 2012), tỷ lệ bệnh nhân mắc các bệnh lý xƣơng khớp chiếm tới 10,4% tổng lƣợt khám hằng năm [7]. Theo khảo sát mô hình bệnh tật tại khoa Nội Cơ Xƣơng Khớp bệnh viện Thống Nhất năm 2012-2013 cho thấy: Cơ cấu bệnh tật của khoa Nội Cơ Xƣơng Khớp gồm thoái hóa khớp, loãng xƣơng, gout, viêm khớp nhiễm khuẩn là thƣờng gặp nhất, thoái hóa khớp cao nhất (57,4%), viêm nhiều khớp (16,4%), bệnh khớp nhiễm khuẩn (10,8%), rối loạn mật độ và cấu trúc xƣơng 5 (10,2%).

Bệnh thƣờng gặp là: thoái hóa cột sống và khớp gối chiếm tỷ lệ cao nhất là 33,4% và 19,0%. Bệnh gout 11,1% và viêm khớp dạng thấp 3,6%. Viêm khớp nhiễm khuẩn 10,8%. Loãng xƣơng 10,6% [8].

Cũng theo Lƣu Thị Bình và Đoàn Anh Thắng (2014), tỷ lệ nhóm bệnh thoái hóa khớp là cao nhất chiếm 55% [16]. Theo Nguyễn Thị Quỳnh Nga (2014) nghiên cứu tại Nhƣ Xuân – Thanh Hóa, tỷ lệ mắc các bệnh liên quan đến cơ xƣơng khớp cũng có tới 49,0% ngƣời mắc đau lƣng, thoái hóa khớp gối và các khớp cổ tay, cổ chân, bàn chân là 21,7% [6]. Tại cộng đồng theo nghiên cứu tại một số xã tỉnh Hƣng Yên năm 2017 tỷ lệ mắc bệnh lý cơ xƣơng khớp là 36,6%, trong đó tỷ lệ mắc ở ngƣời trên 60 tuổi là 42,63%, với nhu cầu chăm sóc sức khỏe bằng YHCT là 61,5%. Cũng theo nghiên cứu khác tại Thái Nguyên trong tổng số các chứng bệnh ngƣời dân đến khám, chữa bệnh bằng YHCT tại trạm y tế, tỷ lệ hay gặp nhất là đau lƣng chiếm 57,0%, đau thần kinh tọa chiếm 41,3% và đau vai gáy chiếm 24,0% [17] Theo nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Tiến năm 2019 tại huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh thì tỷ lệ bệnh cơ xƣơng khớp hay gặp nhất là đau cột sống thắt lƣng chiếm 39%; các bệnh về thoái hóa (thoái hóa cột sống, thoái hóa khớp gối, thoái hóa nhiều khớp) lần lƣợt là 22,8%, 21,3% và 4,1%; đau thần kinh tọa và thoát vị đĩa đệm lần lƣợt chiếm 9,3% và 7,6%.

Thấp nhất là viêm cột sống dính khớp, bệnh gout và viêm màng hoạt dịch viêm gân chiếm 1,7% [18].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Nhu Cầu Sử Dụng Y Học Cổ Truyền Điều Trị Bệnh Cơ Xương Khớp Tại Nhà" khám phá sự gia tăng nhu cầu sử dụng y học cổ truyền trong việc điều trị các bệnh lý cơ xương khớp tại nhà. Tài liệu nhấn mạnh những lợi ích của phương pháp này, bao gồm khả năng giảm đau, cải thiện chức năng vận động và tăng cường sức khỏe tổng thể cho bệnh nhân. Đặc biệt, việc áp dụng y học cổ truyền không chỉ giúp người bệnh cảm thấy thoải mái hơn mà còn mang lại sự an tâm khi điều trị tại nhà.

Để mở rộng thêm kiến thức về y học cổ truyền và các ứng dụng của nó, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ thực trạng và nhu cầu sử dụng y học cổ truyền tại gia đình của người bệnh tai biến mạch máu não sau giai đoạn cấp tại thành phố vinh tỉnh nghệ an, nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về nhu cầu sử dụng y học cổ truyền trong điều trị tai biến mạch máu não. Bên cạnh đó, tài liệu Khảo sát đặc điểm và chất lượng cuộc sống của bệnh người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị tại bệnh viện y học cổ truyền bộ công an cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân khi áp dụng y học cổ truyền. Cuối cùng, tài liệu Đặc điểm lâm sàng và mối liên quan chỉ số non hdl c với các thể chế y học cổ truyền ở bệnh nhân rối loạn lipid máu tại bệnh viện đa khoa tỉnh hải dương sẽ cung cấp thêm thông tin về mối liên hệ giữa y học cổ truyền và các vấn đề sức khỏe khác. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về y học cổ truyền và ứng dụng của nó trong điều trị bệnh.