Tổng quan nghiên cứu

Tai biến mạch máu não là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tàn tật và tử vong trên thế giới, với khoảng 16,3 triệu ca mắc mới và 5,8 triệu ca tử vong mỗi năm theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới. Tại Việt Nam, mô hình bệnh tật ghi nhận tỷ lệ mắc tai biến mạch máu não có chiều hướng gia tăng theo tuổi thọ; riêng tại tỉnh Nghệ An, tỷ lệ hiện mắc từng được ghi nhận ở mức 355,9/100.000 dân và tỷ lệ mới mắc hàng năm là 104,7/100.000 dân. Sau giai đoạn cấp tính, có tới 50% người bệnh sống sót phải chịu di chứng vận động và ngôn ngữ từ mức độ vừa đến nặng, trong đó chỉ khoảng 26% người bệnh có khả năng phục hồi để tiếp tục công việc cũ, số còn lại trở thành gánh nặng kinh tế - xã hội lâu dài cho gia đình.

Quá trình điều trị phục hồi chức năng sau tai biến mạch máu não đòi hỏi sự kiên trì và liên tục trong nhiều tháng. Tuy nhiên, thời gian nằm viện nội trú tại các cơ sở y tế thường chỉ kéo dài từ 1 đến 2 tháng do giới hạn về nguồn lực giường bệnh, dẫn đến sự gián đoạn chăm sóc khi người bệnh trở về cộng đồng. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Y học cổ truyền của tác giả Phạm Thị Nhung tại Học viện Y Dược học Cổ truyền Việt Nam giải quyết vấn đề cấp thiết này thông qua hai mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng và thực trạng can thiệp Y học cổ truyền trên 1.620 hồ sơ bệnh án người bệnh tai biến sau giai đoạn cấp tại thành phố Vinh từ năm 2018 đến 2020; đồng thời xác định tỷ lệ và các yếu tố liên quan đến nhu cầu sử dụng Y học cổ truyền tại gia đình qua phỏng vấn 189 người bệnh trong năm 2021. Kết quả xác định 72,5% người bệnh có nhu cầu can thiệp tại nhà, tạo tiền đề khoa học vững chắc để phát triển mạng lưới y tế gia đình và nâng cao chỉ số phục hồi chức năng cho người bệnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kết hợp giữa lý luận Y học cổ truyền và nguyên lý Y học gia đình hiện đại. Trong Y học cổ truyền, tai biến mạch máu não thuộc phạm vi chứng "Trúng phong", xuất phát từ sự suy giảm công năng của ba tạng Can, Thận, Tâm kết hợp với chính khí hư tổn, khiến khí huyết ứ trệ, đàm trọc bế tắc thanh khiếu mà sinh bệnh. Sau giai đoạn cấp, bệnh cảnh diễn biến theo hướng hư thực lẫn lộn, quy tụ thành ba thể lâm sàng chủ yếu: Can thận âm hư, Phong đàm và Khí trệ huyết ứ. Phương pháp điều trị cốt lõi là bổ can thận, dưỡng khí huyết kết hợp sơ thông kinh lạc bằng thuốc thang và các kỹ thuật không dùng thuốc như điện châm, thủy châm, xoa bóp bấm huyệt.

Song song đó, nghiên cứu vận dụng 6 nguyên lý cơ bản của Y học gia đình gồm: chăm sóc liên tục, toàn diện, phối hợp, dự phòng, hướng gia đình và hướng cộng đồng. Căn cứ Thông tư 21/2019/TT-BYT và Quyết định 1568/QĐ-BYT, trạm y tế xã phường và phòng khám bác sĩ gia đình có đầy đủ cơ sở pháp lý để cung cấp các kỹ thuật Y học cổ truyền tại nhà như xoa bóp chống loét, bấm huyệt điều trị cứng khớp, châm cứu và chườm ngải. Nghiên cứu cũng chuẩn hóa việc đánh giá mức độ khuyết tật vận động thông qua thang điểm phân độ liệt 5 bậc theo Henry (từ độ 1 là tự đi lại được đến độ 5 là liệt hoàn toàn không có co cơ).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp hai thiết kế: nghiên cứu hồi cứu mô tả đối với 1.620 hồ sơ bệnh án nội trú trong 3 năm (2018–2020) và nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 189 người bệnh hoặc người chăm sóc chính từ tháng 5/2021 đến tháng 9/2021. Địa bàn thu thập số liệu tập trung tại 3 cơ sở khám chữa bệnh lớn tại thành phố Vinh gồm: Khoa Y học cổ truyền Bệnh viện Đa khoa thành phố Vinh (quy mô 500 giường bệnh), Khoa Y học cổ truyền Bệnh viện Đa khoa 115 Nghệ An (48 giường bệnh nội trú YHCT) và Khoa YHCT - Phục hồi chức năng Bệnh viện Đa khoa TTH Vinh (20 giường bệnh).

Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được áp dụng cho cả hai giai đoạn thu thập dữ liệu nhằm triệt tiêu sai số chọn mẫu và phản ánh bức tranh dịch tễ học chân thực của địa phương. Nghiên cứu sử dụng phiếu thu thập bệnh án chuẩn hóa và bộ câu hỏi phỏng vấn trực tiếp đã được điều tra thử nghiệm trên 10 bệnh nhân trước khi triển khai chính thức. Toàn bộ dữ liệu được quản lý bằng Microsoft Excel 2016 và xử lý trên phần mềm SPSS 20.0. Các thuật toán thống kê mô tả, kiểm định Chi-square (χ²), tính toán tỷ suất chênh OR với khoảng tin cậy 95% CI và mô hình hồi quy Logistic đa biến được áp dụng để kiểm soát các yếu tố gây nhiễu, từ đó xác định chính xác các biến số độc lập ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng dịch vụ và sự đồng ý chi trả của người bệnh.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích hồi cứu 1.620 hồ sơ bệnh án giai đoạn 2018–2020 ghi nhận các đặc điểm nhân khẩu và lâm sàng nổi bật: Tỷ lệ người bệnh nam giới chiếm 58,3% (944 ca), cao hơn nữ giới với 41,7% (676 ca). Độ tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu là 63 tuổi, trong đó nhóm người bệnh từ 60 đến 74 tuổi chiếm tỷ lệ lớn nhất với 43,6% (737 ca), tiếp đến là nhóm 45–59 tuổi chiếm 31,4% (508 ca). Về phân loại bệnh học hiện đại, thể nhồi máu não chiếm đa số tuyệt đối với 78,4% (1.269 ca), trong khi xuất huyết não chiếm 21,6% (351 ca). Phân thể theo Y học cổ truyền chỉ ra thể Can thận âm hư chiếm ưu thế áp đảo với 78,8% (1.277 ca), tiếp theo là thể Khí trệ huyết ứ chiếm 12,1% (196 ca) và thể Phong đàm chiếm 9,1% (147 ca). Phần lớn người bệnh bị tai biến lần đầu (70,0%), thời gian mắc bệnh từ 10 ngày đến 1 tháng chiếm 57,2% và có bệnh lý nền tăng huyết áp chiếm 73,2% (1.187 ca). Mức độ liệt vận động tập trung nhiều nhất ở liệt độ 4 với 31,8% và liệt độ 3 với 23,7%, đồng thời 55,3% số ca có kèm theo rối loạn ngôn ngữ.

Về thực trạng sử dụng Y học cổ truyền tại bệnh viện, phương pháp dùng thuốc thang sắc truyền thống chiếm 65,9%, cao hơn thuốc chế phẩm thành phẩm với 57,6%. Trong nhóm phương pháp không dùng thuốc, xoa bóp bấm huyệt là thủ thuật được chỉ định nhiều nhất với tỷ lệ 92,4% (1.494 ca), tiếp theo là điện châm đạt 83,0% (1.340 ca) và thủy châm đạt 79,4% (1.286 ca).

Khảo sát cắt ngang trên 189 người bệnh chuẩn bị xuất viện ghi nhận có tới 72,5% (137 người) bày tỏ nhu cầu sử dụng dịch vụ Y học cổ truyền tại gia đình, trong khi nhóm không có nhu cầu chỉ chiếm 27,5% (52 người). Lý do hàng đầu thúc đẩy nhu cầu này là tính tiện lợi trong sinh hoạt và chăm sóc, được 67,0% người bệnh khẳng định.

Thảo luận kết quả

Tỷ lệ nhồi máu não (78,4%) cao gấp 3,6 lần xuất huyết não (21,6%) hoàn toàn tương đồng với các công bố dịch tễ học đột quỵ tại Việt Nam, như nghiên cứu tại Quân y viện 103 ghi nhận nhồi máu não chiếm 71,1%. Tỷ lệ tăng huyết áp đi kèm lên tới 73,2% là minh chứng cho thấy bệnh lý tim mạch và xơ vữa mạch máu là căn nguyên chính dẫn tới tổn thương mạch máu não. Trong Y học cổ truyền, can thận âm hư làm can dương thượng kháng sinh phong hỏa, lý giải nguyên nhân thể Can thận âm hư chiếm tới 78,8% trên mẫu nghiên cứu.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ phân bố mức độ liệt hoặc bảng ma trận đối chiếu tỷ lệ nhu cầu dịch vụ theo từng nhóm tuổi và bệnh lý kèm theo. Tỷ lệ 72,5% người bệnh mong muốn được điều trị Y học cổ truyền tại nhà phản ánh nhu cầu cấp thiết trong thực tế. Sau khi xuất viện, nhóm bệnh nhân liệt độ 3 và độ 4 (chiếm tổng cộng 55,5%) cùng rối loạn ngôn ngữ (55,3%) gặp trở ngại rất lớn trong việc đi lại tái khám. Việc 92,4% người bệnh tiếp nhận hiệu quả thủ thuật xoa bóp bấm huyệt và 83,0% can thiệp điện châm tại viện cho thấy đây là những dịch vụ kỹ thuật hoàn toàn khả thi để chuyển giao can thiệp tại gia đình theo mô hình Y học gia đình.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Xây dựng và chuẩn hóa gói kỹ thuật Y học cổ truyền điều trị tại gia đình: Sở Y tế tỉnh Nghệ An chủ trì ban hành hướng dẫn quy trình kỹ thuật phục hồi chức năng ngoại viện (bao gồm điện châm, thủy châm, xoa bóp bấm huyệt chống loét và co cứng); đặt mục tiêu đạt 80% độ bao phủ dịch vụ cho người bệnh sau tai biến có nhu cầu tại thành phố Vinh trong giai đoạn 2023–2025.
  2. Nâng cao năng lực chuyên môn cho mạng lưới y tế cơ sở: Trung tâm Y tế thành phố Vinh phối hợp với các bệnh viện chuyên khoa tổ chức đào tạo thực hành cho 100% cán bộ y tế tại 25 trạm y tế xã phường về kỹ năng châm cứu, bấm huyệt và quản lý bệnh nhân đột quỵ tại nhà trong vòng 12 tháng.
  3. Hoàn thiện cơ chế chính sách bảo hiểm y tế: Cơ quan Bảo hiểm Xã hội phối hợp ngành Y tế địa phương mở rộng danh mục thanh toán bảo hiểm y tế đối với dịch vụ khám chữa bệnh Y học cổ truyền tại nhà theo nguyên lý Y học gia đình; phấn đấu giảm tỷ lệ chi trả tiền túi của gia đình người bệnh xuống dưới 30% tổng chi phí điều trị phục hồi trước năm 2026.
  4. Triển khai chương trình truyền thông và hướng dẫn gia đình người bệnh: Các khoa Y học cổ truyền tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Vinh, Bệnh viện 115 và Bệnh viện TTH Vinh định kỳ tổ chức 4 đợt tập huấn mỗi năm, hướng dẫn người chăm sóc kỹ thuật xoa bóp, tập vận động thụ động và chế độ dưỡng sinh nhằm nâng tỷ lệ người nhà có kỹ năng chăm sóc đúng cách lên 85%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Bác sĩ và kỹ thuật viên chuyên ngành Y học cổ truyền - Phục hồi chức năng: Tiếp cận cơ sở dữ liệu lâm sàng từ 1.620 hồ sơ bệnh án để tối ưu hóa phác đồ điều trị kết hợp thuốc thang (65,9%) với xoa bóp bấm huyệt (92,4%) và điện châm (83,0%) cho bệnh nhân ngoại trú và tại cộng đồng.
  2. Nhà quản lý y tế và chuyên gia hoạch định chính sách: Sử dụng số liệu thực chứng về tỷ lệ 72,5% nhu cầu tại nhà để triển khai cụ thể hóa mô hình Trạm y tế hoạt động theo nguyên lý Y học gia đình theo đúng tinh thần Thông tư 21/2019/TT-BYT.
  3. Học viên sau đại học và nghiên cứu sinh ngành Y tế công cộng: Tham khảo quy trình thiết kế nghiên cứu kết hợp giữa hồi cứu bệnh án đa trung tâm và khảo sát cắt ngang có ứng dụng mô hình phân tích hồi quy Logistic đa biến trong dịch tễ học lâm sàng.
  4. Người bệnh tai biến và thân nhân chăm sóc: Nắm rõ diễn tiến của thể bệnh Can thận âm hư (78,8%), nhận biết các mốc thời gian phục hồi vàng (từ 10 ngày đến 6 tháng chiếm 89,9%) để chủ động tiếp cận các kỹ thuật chăm sóc Y học cổ truyền an toàn, tiện lợi tại nhà.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao người bệnh tai biến sau giai đoạn cấp có nhu cầu điều trị Y học cổ truyền tại nhà lên tới 72,5%? Nguyên nhân chủ yếu là do 67,0% người bệnh nhận thấy tính tiện lợi khi điều trị tại nhà. Với tỷ lệ người bệnh bị liệt nặng ở độ 3 và độ 4 chiếm 55,5%, việc di chuyển liên tục đến bệnh viện gây nhiều khó khăn và tốn kém chi phí, khiến việc chăm sóc tại nhà trở thành giải pháp ưu tiên.

  2. Các phương pháp Y học cổ truyền không dùng thuốc nào được áp dụng phổ biến nhất? Kết quả hồi cứu cho thấy ba phương pháp chiếm tỷ lệ cao nhất là xoa bóp bấm huyệt (92,4%), điện châm (83,0%) và thủy châm (79,4%). Các kỹ thuật này kích thích tuần hoàn cục bộ, duy trì tầm vận động khớp, phòng ngừa teo cơ và hỗ trợ tái rèn luyện dẫn truyền thần kinh.

  3. Thể bệnh Y học cổ truyền nào xuất hiện nhiều nhất ở người bệnh tai biến? Nghiên cứu xác định thể Can thận âm hư chiếm tỷ lệ áp đảo với 78,8%, cao hơn nhiều so với thể Khí trệ huyết ứ (12,1%) và thể Phong đàm (9,1%). Tỷ lệ này gắn liền với tiền sử tăng huyết áp mạn tính chiếm 73,2% và độ tuổi trên 60 chiếm 60,4% tổng số bệnh nhân.

  4. Thời điểm nào thích hợp nhất để bắt đầu điều trị phục hồi chức năng bằng Y học cổ truyền tại nhà? Sau 10 ngày đầu của giai đoạn cấp khi huyết động đã ổn định là thời điểm vàng để can thiệp. Nghiên cứu ghi nhận 57,2% người bệnh bắt đầu điều trị trong khoảng 10 ngày đến 1 tháng và 32,7% trong giai đoạn từ 1 đến 6 tháng, giúp tối ưu hóa khả năng hồi phục vận động.

  5. Mô hình Y học gia đình đóng vai trò gì trong việc cung cấp dịch vụ Y học cổ truyền tại nhà? Theo Thông tư 21/2019/TT-BYT, cơ sở y học gia đình đóng vai trò quản lý sức khỏe toàn diện và thực hiện các dịch vụ kỹ thuật Y học cổ truyền tại nhà (xoa bóp chống loét, bấm huyệt, châm cứu), đảm bảo tính an toàn chuyên môn và liên tục trong chăm sóc người bệnh.

Kết luận

  • Dữ liệu hồi cứu trên 1.620 bệnh nhân khẳng định nhồi máu não (78,4%), thể Can thận âm hư (78,8%) và bệnh kèm tăng huyết áp (73,2%) là các đặc trưng dịch tễ chủ yếu của tai biến mạch máu não sau giai đoạn cấp tại thành phố Vinh.
  • Các phương pháp Y học cổ truyền đạt tỷ lệ áp dụng điều trị nội trú rất cao, tiêu biểu là xoa bóp bấm huyệt (92,4%), điện châm (83,0%) và thuốc thang sắc (65,9%).
  • Nghiên cứu xác định có 72,5% người bệnh có nhu cầu sử dụng dịch vụ Y học cổ truyền tại gia đình, trong đó yếu tố tiện lợi chiếm 67,0% lý do lựa chọn.
  • Luận văn cung cấp bằng chứng thực tiễn khẳng định tính cấp thiết của việc đưa kỹ thuật Y học cổ truyền vào danh mục chăm sóc tại nhà của mạng lưới y tế cơ sở theo nguyên lý Y học gia đình.
  • Lộ trình giai đoạn 2023–2025 cần tập trung chuẩn hóa gói dịch vụ ngoại viện, đào tạo nhân lực trạm y tế và tích hợp bảo hiểm y tế nhằm nâng cao chất lượng sống toàn diện cho người bệnh sau tai biến.