Tổng quan nghiên cứu

Theo báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp cùng Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) năm 2018, có khoảng 8% đến 29% trẻ em và trẻ vị thành niên tại Việt Nam đang đối mặt với các vấn đề sức khỏe tâm thần chung. Trước đó, một khảo sát quy mô lớn năm 2009 trên 21.960 học sinh tại Hà Nội do Bệnh viện Tâm thần ban ngày Mai Hương phối hợp với Đại học Melbourne thực hiện cũng ghi nhận khoảng 20% học sinh gặp khó khăn tâm lý cần hỗ trợ. Bước vào giai đoạn trung học phổ thông (từ 15 đến 18 tuổi), học sinh phải gánh vác khối lượng áp lực học tập nặng nề, kỳ vọng điểm số từ gia đình, sự thay đổi tâm sinh lý lứa tuổi và các xung đột phát sinh trong giao tiếp xã hội cũng như trên không gian mạng.

Mặc dù tỷ lệ thanh thiếu niên gặp tổn thương tâm lý có chiều hướng gia tăng, hệ thống dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần trong trường học tại Việt Nam, đặc biệt là ở khu vực nông thôn, vẫn còn nhiều khoảng trống và chưa được tổ chức đồng bộ. Xuất phát từ thực tế đó, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Tâm lý học lâm sàng trẻ em và vị thành niên của tác giả Trần Thị Thu Hà tại Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tập trung nghiên cứu đề tài: "Nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần cho học sinh của trường trung học phổ thông".

Mục tiêu cốt lõi của đề tài là đánh giá thực trạng sức khỏe tâm thần của học sinh, xác định mức độ nhu cầu sử dụng dịch vụ tham vấn, trị liệu tâm lý và phân tích năng lực triển khai dịch vụ của các trường trung học phổ thông. Nghiên cứu được triển khai vào tháng 4 năm 2020 tại 6 trường trung học phổ thông thuộc 4 tỉnh, thành phố phía Bắc gồm Hà Nội, Bắc Ninh, Nam Định và Ninh Bình với 125 khách thể khảo sát (gồm 104 học sinh và 21 cán bộ quản lý, giáo viên). Luận văn mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở dữ liệu xác thực nhằm giúp ngành giáo dục thiết lập hệ thống phòng tham vấn học đường chuẩn hóa, nâng tỷ lệ học sinh được hỗ trợ tâm lý kịp thời từ mức dưới 5% hiện nay lên các chỉ số an toàn theo tiêu chuẩn quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự giao thoa của các trường phái lý thuyết tâm lý học kinh điển và mô hình can thiệp học đường hiện đại. Thứ nhất, lý thuyết thứ bậc nhu cầu của Abraham Maslow được sử dụng làm nền tảng giải thích sự phát triển nhu cầu con người từ các đòi hỏi sinh lý, an toàn đến nhu cầu được tôn trọng và tự khẳng định bản thân. Thứ hai, luận văn vận dụng quan điểm tâm lý học hoạt động của A. N. Leontiev và định nghĩa của Giáo sư Nguyễn Quang Uẩn: Nhu cầu là sự thể hiện mối quan hệ tích cực của cá nhân đối với hoàn cảnh, là đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển.

Bên cạnh đó, đề tài tiếp cận hệ thống phân loại phòng ngừa ba cấp độ của Viện Y tế Hoa Kỳ (Gordon, 1990) gồm phòng ngừa tổng quát (cho toàn bộ học sinh), phòng ngừa lựa chọn (cho nhóm nguy cơ cao) và phòng ngừa chỉ định (cho cá nhân có dấu hiệu rối loạn). Đồng thời, tác giả liên hệ với mô hình Đáp ứng can thiệp ba tầng (Response to Intervention - RTI) của Hoa Kỳ: Tầng 1 phủ sóng 80% học sinh toàn trường qua các chương trình nâng cao nhận thức; Tầng 2 can thiệp sớm cho 15% học sinh có nguy cơ; Tầng 3 cung cấp trị liệu chuyên sâu cho 5% học sinh có vấn đề nghiêm trọng.

Khung khái niệm cốt lõi của nghiên cứu xoay quanh bốn thuật ngữ chuyên ngành: Sức khỏe tâm thần (trạng thái thoải mái, thích ứng cảm xúc và hành vi theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới WHO), Dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần học đường (chuỗi hoạt động đánh giá, phòng ngừa, tham vấn, trị liệu và chuyển tuyến), Năng lực trường học và Nhu cầu sử dụng dịch vụ sức khỏe tâm thần của học sinh trung học phổ thông.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng cỡ mẫu gồm 125 khách thể, bao gồm 104 học sinh (46 nam chiếm 44,2%; 58 nữ chiếm 55,8%; trong đó 36,5% học sinh lớp 10 và 63,5% học sinh lớp 11) cùng 21 giáo viên (5 nam chiếm 23,8%; 16 nữ chiếm 76,2%; 57,1% có trình độ cử nhân và 42,9% đạt trình độ thạc sĩ). Khách thể được phân bổ tại 6 trường trung học phổ thông đại diện cho cả khu vực đô thị và nông thôn: THPT Lương Tài (Bắc Ninh - 48 học sinh, 4 giáo viên), THPT Lương Thế Vinh (Nam Định - 17 học sinh, 7 giáo viên), THPT Chuyên Lê Hồng Phong (Nam Định - 9 học sinh, 4 giáo viên), THPT Bình Minh (Ninh Bình - 12 học sinh, 4 giáo viên), THPT Chuyên Hà Nội - Amsterdam (Hà Nội - 11 học sinh, 1 giáo viên) và Trường Liên cấp Olympia (Hà Nội - 7 học sinh, 1 giáo viên).

Phương pháp chọn mẫu kết hợp giữa chọn mẫu thuận tiện và phân tầng địa bàn. Do nghiên cứu tiến hành trong giai đoạn tháng 4 năm 2020 khi toàn xã hội thực hiện giãn cách vì dịch Covid-19, quy trình khảo sát được tổ chức trực tuyến qua bảng hỏi Google Forms gửi tới giáo viên đại diện và chuyển tiếp tới học sinh.

Công cụ đo lường chính bao gồm:

  • Thang đo Điểm mạnh và Khó khăn (Strengths and Difficulties Questionnaire - SDQ) của Robert Goodman gồm 25 câu hỏi tự đánh giá, chia thành 5 tiểu thang: Cảm xúc, Hành vi, Tăng động, Quan hệ bạn bè và Hành vi xã hội tích cực. Thang đo phân loại kết quả thành 3 ngưỡng điểm rõ ràng: Bình thường (0 đến 15 điểm), Ranh giới (16 đến 19 điểm) và Có rối loạn (20 đến 40 điểm).
  • Thang đo Năng lực Sức khỏe Tâm thần Trường học (SMHCI) của Feigenberg và cộng sự (2010) gồm 27 tiêu chí khảo sát 3 lĩnh vực: Can thiệp, Nhận biết - Giới thiệu, và Phòng ngừa - Quảng bá.
  • Bảng hỏi khảo sát nhu cầu sử dụng dịch vụ tâm lý gồm 5 câu hỏi phân loại hành vi tìm kiếm hỗ trợ.

Dữ liệu được làm sạch và xử lý định lượng trên phần mềm SPSS phiên bản 23. Các kỹ thuật thống kê toán học bao gồm: thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm, điểm trung bình Mean, độ lệch chuẩn SD) và thống kê suy luận (kiểm định Independent Samples t-test, ANOVA) nhằm so sánh sự khác biệt giữa các biến độc lập như giới tính, khối lớp, học lực và khu vực địa lý với độ tin cậy chuẩn xác.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích số liệu từ thang đo SDQ trên 104 học sinh trung học phổ thông mang lại những phát hiện then chốt sau:

Thứ nhất, về thực trạng sức khỏe tâm thần tổng thể, có 85,3% học sinh đạt mức bình thường (không có rối loạn), 8,8% học sinh nằm trong nhóm ranh giới có nguy cơ, và 5,9% học sinh bộc lộ các vấn đề rối loạn tâm thần rõ rệt cần sự trợ giúp chuyên môn. Điểm trung bình tổng khó khăn SDQ của khách thể là 10,8 điểm.

Thứ hai, khi phân tích chi tiết theo 5 lĩnh vực của thang SDQ, vấn đề Tình cảm (cảm xúc) ghi nhận tỷ lệ rối loạn cao nhất với 11,8% học sinh mắc phải (điểm trung bình 2,9; độ lệch chuẩn 2,527), cùng với 7,8% ở mức ranh giới. Về khía cạnh Quan hệ bạn bè, tỷ lệ học sinh ở mức ranh giới nguy cơ chiếm con số kỷ lục là 27,5% (điểm trung bình 2,98; độ lệch chuẩn 1,312) và 3,9% ở mức có rối loạn. Vấn đề Tăng động giảm chú ý ghi nhận 4,9% có rối loạn (6,9% ranh giới; điểm trung bình 2,93), và vấn đề Hành vi có 4,9% có rối loạn (5,9% ranh giới; điểm trung bình 1,99).

Thứ ba, phân tích so sánh các biến nhân khẩu học bằng kiểm định t-test cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về điểm số khó khăn tâm lý giữa học sinh nam (Mean = 10,83; SD = 4,832) và học sinh nữ (Mean = 10,79; SD = 4,808) với giá trị t = -0,042 và p = 0,967 > 0,05. Tương tự, so sánh giữa học sinh khối 10 (Mean = 10,58; SD = 4,494) và khối 11 (Mean = 10,92; SD = 4,981) cho thấy t = -0,342 và p = 0,733 > 0,05. Sự khác biệt theo kết quả học lực (học sinh giỏi đạt Mean = 10,83; p = 0,841) cũng không mang ý nghĩa thống kê.

Thứ tư, về năng lực cung cấp dịch vụ của nhà trường đo lường qua thang SMHCI, phần lớn các trường trung học phổ thông công lập khu vực nông thôn có điểm năng lực nhận biết, phòng ngừa và can thiệp ở mức thấp hoặc trung bình, thiếu hụt nghiêm trọng nhân sự chuyên trách và quy trình ứng phó khẩn cấp.

Thảo luận kết quả

Tỷ lệ 5,9% học sinh có rối loạn sức khỏe tâm thần trong nghiên cứu này thấp hơn so với tỷ lệ 20% trong khảo sát năm 2009 của Bệnh viện Mai Hương hay 25,76% trong nghiên cứu của Đặng Hoàng Minh và Hoàng Cẩm Tú (2009). Sự khác biệt này bắt nguồn từ hai nguyên nhân chính: độ tuổi mẫu nghiên cứu tập trung vào học sinh THPT (15 đến 16 tuổi) và thời điểm thu thập dữ liệu diễn ra đúng đợt nghỉ học phòng dịch Covid-19 vào tháng 4 năm 2020. Khi không phải đến trường trực tiếp, học sinh tạm thời giải tỏa được các áp lực thi cử căng thẳng và va chạm trực diện tại lớp học.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa sinh động qua biểu đồ hình tròn thể hiện tỷ lệ tổng điểm SDQ (85,3% không rối loạn, 8,8% ranh giới, 5,9% có rối loạn) và bảng ma trận đối sánh 5 tiểu thang khó khăn tâm lý. Qua bảng dữ liệu này, việc tỷ lệ ranh giới trong mối quan hệ bạn bè lên tới 27,5% cùng với 11,8% rối loạn cảm xúc cho thấy khi chuyển sang học trực tuyến và giãn cách xã hội, nhu cầu kết nối ngang hàng bị nghẽn lại, làm gia tăng sự cô đơn và lo âu nội tâm ở các em.

Thực tế này lý giải vì sao học sinh có nhu cầu rất lớn về một không gian chia sẻ an toàn nhưng lại ngần ngại tìm kiếm dịch vụ trực tiếp tại trường do e ngại định kiến xã hội hoặc do nhà trường chưa có phòng tư vấn độc lập.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực nghiệm, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính chiến lược và hành động cụ thể:

Thứ nhất, thành lập và chuẩn hóa hệ thống phòng tham vấn tâm lý học đường tại 100% các trường trung học phổ thông trong giai đoạn 2021-2023. Ban Giám hiệu nhà trường phối hợp cùng Sở Giáo dục và Đào tạo bố trí tối thiểu 01 vị trí việc làm chuyên trách dành cho cử nhân hoặc thạc sĩ chuyên ngành Tâm lý học lâm sàng/Tâm lý học đường, đảm bảo không gian tư vấn bảo mật, tách biệt với phòng giám thị hay phòng y tế.

Thứ hai, triển khai quy trình sàng lọc định kỳ sức khỏe tâm thần theo mô hình Đáp ứng can thiệp (RTI) 3 tầng. Cán bộ tâm lý học đường phối hợp với giáo viên chủ nhiệm sử dụng thang đo SDQ để đánh giá tầm soát 100% học sinh đầu mỗi năm học. Mục tiêu phát hiện sớm 8,8% nhóm học sinh ở mức ranh giới để tổ chức các nhóm rèn luyện kỹ năng xã hội, đồng thời chuyển tuyến can thiệp kịp thời cho 5,9% nhóm có biểu hiện rối loạn nghiêm trọng trong vòng 1 đến 2 tuần sau đánh giá.

Thứ ba, nâng cao năng lực nhận diện và sơ cứu tâm lý cho đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên. Tổ chức các khóa tập huấn thường niên kéo dài 20 đến 40 tiết về các dấu hiệu trầm cảm, lo âu, rối loạn hành vi và kỹ năng lắng nghe thấu cảm. Mục tiêu đạt 90% giáo viên chủ nhiệm hoàn thành chương trình bồi dưỡng trong vòng 12 tháng, giúp xóa bỏ khoảng cách thế hệ và tạo dựng mạng lưới nâng đỡ ban đầu cho học sinh.

Thứ tư, thiết lập mạng lưới liên kết chuyển tuyến y tế - tâm lý chuyên sâu giữa nhà trường, gia đình và các bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh/thành phố. Xây dựng quy trình xử lý khủng hoảng tâm lý khẩn cấp (như nguy cơ tự hại, trầm cảm nặng) với cam kết kết nối chuyên gia y tế trong vòng dưới 24 giờ, đảm bảo tính liên tục và an toàn tuyệt đối cho người học.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và dữ liệu thực chứng của luận văn mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

Nhóm 1: Cán bộ quản lý giáo dục, Ban Giám hiệu các trường trung học phổ thông. Tài liệu cung cấp cơ sở khoa học và hệ tiêu chí đánh giá SMHCI (27 tiêu chí) để nhà trường rà soát năng lực nội tại, từ đó xây dựng kế hoạch phân bổ ngân sách, hoàn thiện cơ sở vật chất và phê duyệt chương trình chăm sóc sức khỏe tinh thần học đường bài bản.

Nhóm 2: Chuyên viên tâm lý học đường, cán bộ công tác xã hội và nhân viên y tế trường học. Đây là cẩm nang thực hành hữu ích về cách ứng dụng thang đo SDQ trong sàng lọc dịch tễ, kỹ thuật phân nhóm nguy cơ theo mô hình RTI 3 tầng và xây dựng các chương trình phòng ngừa chuyên biệt cho 11,8% học sinh gặp trục trặc về cảm xúc.

Nhóm 3: Giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn cấp THPT. Luận văn giúp giáo viên thấu hiểu sâu sắc những khó khăn tâm lý lứa tuổi 15 đến 16 tuổi, thay đổi định kiến về rối loạn tâm thần, từ đó cải thiện phương pháp quản lý lớp học và thiết lập mối quan hệ sư phạm tích cực, cởi mở với học sinh.

Nhóm 4: Học viên cao học, sinh viên và nghiên cứu sinh ngành Tâm lý học, Giáo dục học, Xã hội học. Luận văn cung cấp khung lý thuyết hệ thống, phương pháp phân tích định lượng SPSS chuẩn mực và nguồn tài liệu tham khảo phong phú để mở rộng các hướng nghiên cứu về sức khỏe tâm thần vị thành niên tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Tỷ lệ học sinh trung học phổ thông có biểu hiện rối loạn sức khỏe tâm thần trong nghiên cứu là bao nhiêu? Kết quả khảo sát bằng thang đo SDQ trên 104 học sinh chỉ ra 5,9% học sinh có biểu hiện ở mức rối loạn tâm thần cần can thiệp lâm sàng, bên cạnh 8,8% học sinh nằm ở mức ranh giới nguy cơ. Khó khăn nổi cộm nhất là vấn đề cảm xúc với 11,8% học sinh có biểu hiện rối loạn.

Sức khỏe tâm thần giữa học sinh nam và học sinh nữ có sự khác biệt hay không? Kết quả kiểm định t-test không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về điểm số khó khăn tâm lý giữa nam (Mean = 10,83) và nữ (Mean = 10,79) với giá trị p = 0,967 > 0,05. Điều này khẳng định nguy cơ gặp trục trặc tâm lý giữa hai giới ở cấp trung học phổ thông là tương đương nhau.

Vì sao tỷ lệ rối loạn tâm thần trong nghiên cứu này lại thấp hơn các khảo sát trước đó? Tỷ lệ 5,9% thấp hơn mức 20% năm 2009 do nghiên cứu được thực hiện vào tháng 4 năm 2020 trong thời gian học sinh tạm dừng đến trường vì dịch Covid-19. Học tại nhà giúp giảm áp lực thi cử và xích mích bạn bè trực tiếp, tuy nhiên tỷ lệ học sinh có nguy cơ ranh giới về quan hệ bạn bè vẫn ở mức rất cao đạt 27,5%.

Công cụ nào được sử dụng để đánh giá năng lực hỗ trợ tâm lý của nhà trường? Tác giả đã chuyển ngữ và áp dụng Thang đo Năng lực Sức khỏe Tâm thần Trường học (SMHCI) của Feigenberg và cộng sự (2010) gồm 27 tiêu chí. Công cụ này đánh giá toàn diện 3 trụ cột: năng lực can thiệp, năng lực nhận biết - giới thiệu, và năng lực phòng ngừa - quảng bá sức khỏe tâm thần.

Mô hình can thiệp nào được đề xuất để đáp ứng nhu cầu của học sinh? Luận văn đề xuất áp dụng mô hình Đáp ứng can thiệp (RTI) 3 tầng: Tầng 1 giáo dục kỹ năng phòng ngừa cho 80% học sinh; Tầng 2 hỗ trợ nhóm cho 15% học sinh có nguy cơ; Tầng 3 cung cấp tham vấn, trị liệu cá nhân chuyên sâu cho 5% học sinh có rối loạn nghiêm trọng.

Kết luận

  • Luận văn xác định 5,9% học sinh trung học phổ thông có biểu hiện rối loạn sức khỏe tâm thần và 8,8% ở mức ranh giới nguy cơ cần được nâng đỡ.
  • Khó khăn về cảm xúc chiếm tỷ lệ cao nhất với 11,8% học sinh có rối loạn, trong khi 27,5% học sinh gặp vấn đề ranh giới trong mối quan hệ bạn bè.
  • Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về điểm số sức khỏe tâm thần theo giới tính, khối lớp 10 hay 11, và phân loại học lực của học sinh.
  • Năng lực đáp ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần tại các trường trung học phổ thông công lập vùng nông thôn vẫn còn nhiều hạn chế và thiếu đồng bộ.
  • Áp dụng mô hình phòng ngừa 3 tầng (RTI) và kiện toàn phòng tham vấn học đường chuyên trách là giải pháp tất yếu để bảo vệ học sinh.

Đóng góp quan trọng nhất của luận văn là cung cấp bức tranh thực nghiệm chân thực về sức khỏe tâm thần học đường tại 4 tỉnh phía Bắc trong một bối cảnh xã hội đặc thù, tạo tiền đề khoa học vững chắc cho việc hoạch định chính sách tâm lý học đường tại Việt Nam. Trong lộ trình 2021-2025, các cơ sở giáo dục cần khẩn trương chuẩn hóa nhân sự tâm lý chuyên nghiệp và triển khai các đợt sàng lọc định kỳ. Quý thầy cô, các nhà nghiên cứu và nhà quản lý giáo dục hãy cùng tham khảo, chia sẻ toàn văn công trình nghiên cứu này để chung tay kiến tạo môi trường học đường an toàn, hạnh phúc cho thế hệ tương lai.