Nghiên cứu đặc tính virut Rota gây bệnh tiêu chảy ở trẻ em vào bệnh viện Nhi Khánh Hòa năm 2010

Nghiên cứu đặc tính virus rota gây bệnh tiêu chảy trẻ em tại Bệnh viện Nhi Khánh Hòa năm 2010, cung cấp thông tin quan trọng cho y học.

Chuyên ngành

Vi sinh vật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2013

82
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ PHÁT HIỆN VIRUT ROTA

1.2. HÌNH THÁI VÀ CẤU TRÚC

1.2.1. Hình thái

1.2.2. Cấu trúc

1.3. PHÂN NHÓM VÀ CÁC TÝP HUYẾT THANH

1.3.1. Tính bền vững với PH

1.3.2. Tính chịu nhiệt

1.3.3. Tính nhạy cảm

1.3.4. Tính đề kháng

1.4. ĐẶC TÍNH VIRUT ROTA TRÊN TẾ BÀO NUÔI CẤY MÔ

1.5. QUÁ TRÌNH NHÂN LÊN CỦA VIRUT ROTA

1.6. KHẢ NĂNG GÂY BỆNH CỦA VIRUT ROTA

1.6.1. Khả năng gây bệnh cho trẻ em

1.6.2. Khả năng gây bệnh ở người lớn

1.6.3. Cơ chế gây bệnh

1.7. DỊCH TỄ HỌC BỆNH TIÊU CHẢY CẤP DO VIRUT ROTA

1.7.1. Đường lây truyền

1.7.2. Lứa tuổi mắc bệnh

1.8. SỰ PHÂN BỐ CÁC KIỂU GEN CỦA VIRUT ROTA

1.8.1. Phân bố trên thế giới

1.8.2. Phân bố tại Việt Nam

1.9. TÌNH HÌNH MẮC BỆNH TIÊU CHẢY CẤP VÀ VẮC XIN PHÒNG NGỪA BỆNH TIÊU CHẢY CẤP DO VIRUT ROTA

1.9.1. Tình hình mắc bệnh tiêu chảy cấp do virut Rota trên thế giới và Việt Nam

1.9.1.1. Tình hình mắc bệnh do virut Rota trên thế giới
1.9.1.2. Tình hình mắc bệnh do virut Rota tại Việt Nam

1.9.2. Tình hình sử dụng vắc xin phòng ngừa bệnh tiêu chảy cấp do virut Rota

1.9.2.1. Các chủng virut Rota được cân nhắc để phát triển vắc xin
1.9.2.2. Các loại vắc xin được nghiên cứu và sử dụng

1.10. CÁC PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN VIRUT ROTA

1.10.1. Các kỹ thuật phát hiện virut Rota

1.10.2. Các kỹ thuật phát hiện kháng thể virut Rota

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu

2.2.2. Phương pháp thực hiện

2.2.2.1. Lấy mẫu bệnh phẩm
2.2.2.2. Xác định virut Rota trong mẫu bệnh phẩm bằng phương pháp ELISA
2.2.2.3. Phương pháp tách chiết ARN từ mẫu phân
2.2.2.4. Phương pháp xác định týp virut Rota bằng RT – PCR
2.2.2.5. Chạy điện di và đọc kết quả

2.3. Phương pháp thống kê xử lý số liệu

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. XÁC ĐỊNH TỶ LỆ TCC DO VIRUT ROTA TẠI BỆNH VIỆN NHI KHÁNH HÒA NĂM 2010

3.2. TỶ LỆ BỆNH NHÂN TCC DO VIRUT ROTA THEO THÁNG

3.3. TỶ LỆ BỆNH NHÂN TCC DO VIRUT ROTA THEO NHÓM TUỔI

3.4. TỶ LỆ BỆNH NHÂN TCC DO VIRUT ROTA THEO GIỚI TÍNH

3.5. ĐẶC TÍNH CÁC CHỦNG VIRUT ROTA LƯU HÀNH TẠI BỆNH VIỆN NHI KHÁNH HÒA NĂM 2010

3.5.1. Đặc tính chủng P

3.5.2. Đặc tính chủng G

3.6. Sự lưu hành các chủng tổ hợp G – P của virut Rota

3.6.1. Sự phân bố các chủng tổ hợp G – P tại miền Trung

3.6.2. Sự lưu hành các chủng tổ hợp G – P theo thời gian

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu virut Rota gây bệnh tiêu chảy ở trẻ em tại Khánh Hòa

Nghiên cứu virut Rota là một trong những vấn đề quan trọng trong y học, đặc biệt là đối với trẻ em. Virut này được biết đến là nguyên nhân chính gây ra bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ nhỏ, dẫn đến nhiều ca nhập viện và tử vong. Tại Khánh Hòa, nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định tỷ lệ mắc bệnh và đặc tính của virut Rota trong năm 2010. Việc hiểu rõ về virut này sẽ giúp nâng cao hiệu quả phòng ngừa và điều trị bệnh tiêu chảy ở trẻ em.

1.1. Lịch sử phát hiện và sự phát triển của virut Rota

Virut Rota được phát hiện lần đầu vào những năm 1970 và nhanh chóng trở thành một trong những nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tiêu chảy ở trẻ em. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng virut này có khả năng lây lan nhanh chóng và gây ra các triệu chứng nghiêm trọng nếu không được điều trị kịp thời.

1.2. Tình hình bệnh tiêu chảy cấp do virut Rota tại Khánh Hòa

Tại Khánh Hòa, tỷ lệ trẻ em mắc bệnh tiêu chảy cấp do virut Rota chiếm một phần lớn trong tổng số ca nhập viện. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng virut này không chỉ ảnh hưởng đến trẻ nhỏ mà còn có thể gây bệnh ở người lớn, làm tăng mức độ nghiêm trọng của dịch bệnh.

II. Vấn đề và thách thức trong việc phòng ngừa bệnh tiêu chảy do virut Rota

Bệnh tiêu chảy do virut Rota gây ra nhiều thách thức cho hệ thống y tế, đặc biệt là trong việc phòng ngừa và điều trị. Các yếu tố như vệ sinh kém, thiếu thông tin và sự lây lan nhanh chóng của virut đã làm gia tăng tỷ lệ mắc bệnh. Việc nâng cao nhận thức cộng đồng về bệnh này là rất cần thiết.

2.1. Các yếu tố nguy cơ gây bệnh tiêu chảy cấp

Các yếu tố như vệ sinh kém, chế độ dinh dưỡng không hợp lý và sự tiếp xúc với nguồn lây nhiễm là những nguyên nhân chính dẫn đến bệnh tiêu chảy cấp do virut Rota. Trẻ em dưới 5 tuổi là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương nhất.

2.2. Tác động của virut Rota đến sức khỏe trẻ em

Virut Rota có thể gây ra các triệu chứng nghiêm trọng như tiêu chảy, nôn mửa và mất nước. Nếu không được điều trị kịp thời, bệnh có thể dẫn đến tử vong, đặc biệt là ở trẻ em dưới 2 tuổi.

III. Phương pháp nghiên cứu virut Rota gây bệnh tiêu chảy ở trẻ em

Nghiên cứu này sử dụng các phương pháp hiện đại để xác định sự hiện diện của virut Rota trong mẫu bệnh phẩm. Các kỹ thuật như ELISA và RT-PCR được áp dụng để phát hiện và phân loại các chủng virut, từ đó đưa ra các biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

3.1. Thiết kế nghiên cứu và thu thập mẫu

Nghiên cứu được thiết kế để thu thập mẫu từ trẻ em nhập viện tại Bệnh viện Nhi Khánh Hòa. Các mẫu phân được lấy và xử lý theo quy trình nghiêm ngặt để đảm bảo độ chính xác của kết quả.

3.2. Kỹ thuật phát hiện virut Rota

Kỹ thuật ELISA được sử dụng để phát hiện kháng thể virut Rota trong mẫu bệnh phẩm. Đồng thời, phương pháp RT-PCR giúp xác định các týp virut, từ đó cung cấp thông tin quan trọng cho việc điều trị và phòng ngừa.

IV. Kết quả nghiên cứu về virut Rota tại Khánh Hòa năm 2010

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ trẻ em mắc bệnh tiêu chảy cấp do virut Rota tại Bệnh viện Nhi Khánh Hòa là khá cao. Các chủng virut lây lan có sự đa dạng về gen, điều này cho thấy sự cần thiết phải theo dõi và cập nhật thông tin về virut Rota thường xuyên.

4.1. Tỷ lệ mắc bệnh theo tháng và nhóm tuổi

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy cấp do virut Rota có sự biến động theo tháng và nhóm tuổi. Trẻ em dưới 2 tuổi có tỷ lệ mắc cao nhất, đặc biệt trong các tháng mùa mưa.

4.2. Đặc tính các chủng virut Rota lưu hành

Các chủng virut Rota được xác định có sự khác biệt về gen, cho thấy sự đa dạng trong cấu trúc di truyền. Điều này có thể ảnh hưởng đến hiệu quả của các loại vắc xin hiện có.

V. Kết luận và hướng phát triển trong nghiên cứu virut Rota

Nghiên cứu về virut Rota tại Khánh Hòa đã cung cấp những thông tin quan trọng về tình hình bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ em. Việc theo dõi và nghiên cứu các chủng virut mới là cần thiết để nâng cao hiệu quả phòng ngừa và điều trị. Hướng phát triển trong tương lai cần tập trung vào việc cải thiện vắc xin và nâng cao nhận thức cộng đồng.

5.1. Tầm quan trọng của việc giám sát dịch tễ học

Giám sát dịch tễ học giúp phát hiện sớm các đợt bùng phát bệnh và đưa ra các biện pháp can thiệp kịp thời. Điều này đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe trẻ em.

5.2. Hướng phát triển vắc xin mới

Nghiên cứu cần tập trung vào việc phát triển các loại vắc xin mới có khả năng bảo vệ hiệu quả hơn trước sự đa dạng của các chủng virut Rota. Việc này sẽ góp phần giảm thiểu tỷ lệ mắc bệnh và tử vong do virut này.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hus nghiên cứu đặc tính virut rota lưu hành gây bệnh tiêu chảy trẻ em vào bệnh viện nhi khánh hòa năm 2010

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Virut Rota đƣợc phát hiện vào đầu những năm 70 của thế kỷ XX, là một virut ARN sợi đôi, thuộc họ Reovitridae [37]. Virut Rota là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất gây viêm dạ dày ruột mà không do vi khuẩn ở trẻ nhỏ dƣới 5 tuổi. Tuy nhiên ngƣời ta cũng quan sát thấy ở trẻ lớn hơn và cả ở ngƣời lớn. Virus rota đƣợc đánh giá là đã gây ra 40% trong tổng số vụ nhập viện do tiêu chảy của trẻ dƣới 5 tuổi trên toàn cầu và gây ra mỗi năm 100 triệu ca tiêu chảy cấp cùng 450 đến 800 nghìn ca tử vong [67].

Ở các nƣớc phát triển có 35% - 52% trẻ em bị tiêu chảy cấp (TCC) do virut Rota. Còn ở các nƣớc đang phát triển, virut Rota là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tiêu chảy và tử vong ở trẻ dƣới 2 tuổi. Ƣớc tính hàng năm ở những nƣớc này có trên 12,5 triệu trẻ em dƣới 5 tuổi bị TCC do virut Rota và khoảng 873.000 trƣờng hợp tử vong [50],[51]. Tại Việt Nam, hàng năm tỷ lệ mắc tiêu chảy do virut Rota chiếm trên 50% trong số trẻ dƣới 5 tuổi bị tiêu chảy vào điều trị tại 1 số bệnh viện Nhi lớn của Việt Nam.

Số trẻ chết do virut Rota chiếm từ 4% - 8% trong tổng số trẻ dƣới 5 tuổi bị chết vì mọi nguyên nhân [6]. Bệnh lây lan theo đƣờng phân – miệng, từ ngƣời sang ngƣời nên trong điều kiện vệ sinh của nƣớc ta còn kém thì bệnh rất dễ lây lan thành vụ dịch lớn. Virut Rota khi xâm nhập vào cơ thể nhân lên ở ruột non, phá hủy tế bào trụ niêm mạc ruột gây ra các rối loạn dẫn đến tình trạng mất nƣớc và điện giải, bệnh nhân suy sụp rất nhanh nếu không đƣợc chuẩn đoán và điều trị kịp thời rất dễ dẫn đến tử vong. Hiện nay, trên thế giới đã cấp phép lƣu hành hai loại vắc xin là: vắc xin Rotarix của hãng Glaxo Smith Kline và Rotateq của Merck.

Các vắc xin này đƣợc sử dụng ở nhiều quốc gia nhƣng hiệu lực bảo vệ lại khác nhau theo khu vực, điều này đƣợc giải thích là do tính đa dạng về di truyền của các chủng virut Rota và sự lƣu hành các chủng có sự biến đổi theo không gian và thời gian [6,8]. Tại Việt Nam đã sản xuất đƣợc vắc xin virut Rota uống, từ chủng phổ biến G[1]P[8] đã đƣợc làm giảm độc lực Kết quả thử nghiệm lâm sàng đƣợc đánh giá là đạt về mức độ an toàn trên cơ thể ngƣời lớn và trẻ em [5]. Việc giám sát dịch tễ học 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sĩ Nguyễn Phương Thuý và xác định đặc tính của các chủng virut Rota trong thời gian dài trên thế giới cũng nhƣ tại Việt Nam, trƣớc và sau khi sử dụng vắc xin là cơ sở đánh giá hiệu quả của các vắc xin đang sử dụng, sự biến đổi bất thƣờng của các chủng virut Rota để từ đó có hƣớng phát triển vắc xin mới hiệu quả hơn. Xuất phát từ thực tiễn trên, để góp phần đánh giá tình hình tiêu chảy cấp do virut Rota ở Việt Nam, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu: “ Nghiên cứu đặc tính virut Rota gây bệnh tiêu chảy ở trẻ em vào bệnh viện Nhi Khánh Hòa năm 2010” nhằm các mục tiêu sau: 1.

Xác định tỷ lệ bệnh nhi bị tiêu chảy cấp do virut Rota tại bệnh viện Nhi Khánh Hòa và mối liên quan của bệnh này với yếu tố mùa, tuổi, giới. Xác định đặc tính các týp virut Rota lƣu hành tại bệnh viện Nhi Khánh Hòa. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sĩ Nguyễn Phương Thuý 5. CHƢƠNG 1 – TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 SƠ LƢỢC LỊCH SỬ PHÁT HIỆN VIRUT ROTA Năm 1943, Jacob Light và Horace Hodes đã chứng minh rằng các tác nhân đi qua màng lọc vi khuẩn có khả năng gây ra tiêu chảy cho bò.

Năm 1972, Kapikian lần đầu tiên phát hiện ra chủng virut có liên quan đến bệnh tiêu chảy và đặt tên là Norwalk[14].F và cộng sự quan sát bằng kính hiển vi điện tử mảnh sinh thiết ruột non của trẻ em chết vì bệnh tiêu chảy cấp thấy có virut giống nhƣ Reovirus (Reovirus – like), có đƣờng kính 70nm và ông đặt tên cho virut này là Rotavirus vì hình thể của nó rất giống cái bánh xe với các nan hoa. Bryden, Midleton cũng đề cập tới vai trò của virut Rota trong bệnh viêm dạ dày ruột. Sau này những nghiên cứu về hình thái học bằng âm bản những lát cắt cực mỏng của tổ chức nhiễm virut Rota, quan sát dƣới kính hiển vi điện tử cho phép xác định virut Rota thuộc họ Reoviridae [15,18]. Ở Việt Nam mãi đến năm 1980 mới nghiên cứu và xác định virut này là nguyên nhân chính gây nên bệnh tiêu chảy ở trẻ em.

Từ năm 1998 đến nay, đƣợc sự hợp tác và tài trợ của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa bệnh tật CDC-Atlantta- Mỹ, Trung tâm nghiên cứu, sản xuất vắc xin và Sinh phẩm y tế đã tiến hành giám sát bệnh tiêu chảy do virut Rota và xác định các chủng lƣu hành phổ biến tại Việt Nam [6,8].2 HÌNH THÁI VÀ CẤU TRÖC 1.1 Hình thái Hạt virut trƣởng thành dạng khối cầu 20 mặt, đƣờng kính khoảng 75nm. Dƣới kính hiển vi điện tử virut Rota giống hệt nhƣ một cái bánh xe có các gai ngắn và một cái vành rất nhẵn. Tên “Rota” tiếng La tinh có nghĩa là “bánh xe” xuất phát từ hình thái của nó.[58] 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sĩ Nguyễn Phương Thuý Hình 1. Hình ảnh virut Rota chụp dƣới kính hiển vi điện tử [58] 1.2 Cấu trúc Virut Rota có dạng khối cầu 20 mặt, đƣờng kính khoảng 75nm, chuỗi nucleocapsit của virut đƣợc tạo thành bởi 3 vòng xoắn đồng tâm.

Vỏ Capsit của virut Rota có dạng đối xứng 20 mặt, 132 capsomer sắp xếp đối xứng xoắn [15,19,58]  Cấu trúc capsit của virut Rota gồm 3 lớp rõ rệt.  Lớp ngoài chứa protein cấu trúc VP4 và VP7.  Lớp trong chứa protein cấu trúc VP6 là loại kháng nguyên đặc hiệu nhóm, chiếm 50% hạt virut và có thể đƣợc phát hiện trong kỹ thuật ELISA.  Lớp lõi chứa protein cấu trúc VP1, VP2 và VP3.

Các nghiên cứu bằng kỹ thuật điện di miễn dịch và kính hiển vi điện tử đã khẳng định: Capsit trong mang kháng nguyên đặc hiệu nhóm, capsit ngoài mang kháng nguyên đặc hiệu týp, nhân của virut không mang tính kháng nguyên. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sĩ Nguyễn Phương Thuý  Hình 2. Hình minh họa cấu trúc của virut Rota Chú thích : Neutralization antigen: Kháng nguyên trung hoà Subgroup antigen : Kháng nguyên phân nhóm Core : Lõi  Hệ gen: Bộ gen của virut rota gồm 11 đoạn ARN sợi kép, có độ lớn khoảng 18.555 cặp bazơ, trọng lƣợng phân tử của 11 đoạn ƣớc tính từ 10. Mỗi gen có khối lƣợng phân tử từ 2.106 Dalton và mã hoá cho một protein cấu trúc hoặc không cấu trúc, trừ gen 9 và gen 11 [8,13,28].

Đặc điểm chuỗi nucleotit các đoạn gen của virut Rota [16,18] Đoạn gen Số cặp Bazơ Tỷ lệ G + C ( %) Số axit amin 1 3.581 33,90 491 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sĩ Nguyễn Phương Thuý Đoạn gen Số cặp Bazơ Tỷ lệ G + C ( %) Số axit amin 6 1.799 Khi điện di trên gel polyacrylamit 11 gen này chia làm 4 khu vực [30,44] - Khu vực I gồm các đoạn gen 1, 2, 3 và 4 có khối lƣợng phân tử cao nhất (theo bảng 1 và hình 2) khi chạy trên gel polyacrylamit sẽ chạy chậm nhất. - Khu vực II gồm các đoạn 5 và 6. - Khu vực III gồm các đoạn 7, 8, 9. - Khu vực IV gồm các đoạn 10 và 11 có khối lƣợng phân tử thấp nhất, khi chạy điện di trên bản gel sẽ chạy nhanh nhất.

 Protein Hạt virut chứa ít nhất 6 protein cấu trúc [6,21,37]: - Các gen 1, 2, 3 và 6 mã hoá cho các protein VP1, VP2, VP3 và VP6. - Đoạn gen 4, 9 mã hoá cho các protein capsit lớp ngoài VP4 và VP7. Đặc điểm protein của virut Rota đƣợc trình bày ở bảng 2 nhƣ sau: 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sĩ Nguyễn Phương Thuý Bảng 2. Các gen và protein của virut Rota [6,8] Sản Khối lƣợng Vị trí Đoạn phẩm phân tử trong hạt Chức năng gen protein protein virut 125.005 Bao quanh ARN polymerase phụ thuộc ARN, liên kết với 1 VP1 (125K) sợi ARN ARN sợi đơn, tạo phức hợp với VP3 102.431 Bao quanh 2 VP2 Kích thích tái tạo ARN của virut (94K) sợi ARN Enzyme Guanylyl transferase xúc tác 98.120 Bao quanh 3 VP3 cho quá trình gắn mũ 5‟của mARN trong (88K) sợi ARN quá trình cải biến trƣớc dịch mã 86.782 Capsít Ngƣng kết hồng cầu, kháng nguyên 4 VP4 (88K) lớp ngoài trung hòa 58.654 Không Không có vai trò cho sinh trƣởng của 5 NSP1 (53K) cấu trúc virut 44.816 Capsít 6 VP6 Cấu trúc và kháng nguyên đặc hiệu loài (41K) lớp trong Làm tăng hoạt tính của mARN virut và 34.600 Không 7 NSP3 ngừng tổng hợp protein trong tế bào vật (34K) cấu trúc chủ 36.700 Không NTPase tham gia đóng gói hạt virut và 8 NSP2 (35K) cấu trúc sao chép hệ gen 37.368 Capsít Protein cấu trúc và kháng nguyên trung 9 VP7 (38K) lớp ngoài hòa 20.290 Không Độc tố ruột, vai trò trong quá trình hình 10 NSP4 (28K) cấu trúc thành hạt virut 21.725 Không 11 NSP5 Độc tố ruột ( 26K) cấu trúc 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sĩ Nguyễn Phương Thuý + Protein cấu trúc Ba protein mang tính đặc hiệu kháng nguyên của virut là VP4, VP6 và VP7 [22,25,58]: - VP4 là một protein nhạy cảm với proteasa (P serotype) là kháng nguyên có đặc tính ngƣng kết hồng cầu.

Nhờ enzym protease phân hủy, VP4 đƣợc phân cắt một cách đặc hiệu thành VP5* và VP8* giúp cho sự xâm nhập của virut vào tế bào. VP4 định ra týp P của virut Rota. - VP6 là kháng nguyên chung cho các dƣới nhóm của virut Rota. Chúng đƣợc sử dụng trong các thử nghiệm phát hiện nhiễm virut Rota nhóm A.

- VP7 là một glycoprotein (G serotype) là kháng nguyên trung hoà đặc hiệu cho týp huyết thanh, định ra týp G của virut Rota [16,20,22,25,35] Ngoài ra các protein nằm trong lõi cũng có vai trò rất quan trọng trong quá trình nhân lên của virut Rota: - VP1 là enzym ARN polymerase nằm trong lõi hạt virut tham gia vào quá trình phiên mã tạo ra các phân tử mARN và tạo ra các bản sao genom ARN cho các hạt virion mới .

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu virut Rota gây bệnh tiêu chảy ở trẻ em tại Khánh Hòa (2010)" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự ảnh hưởng của virut Rota đối với sức khỏe trẻ em, đặc biệt là trong bối cảnh dịch bệnh tại Khánh Hòa. Nghiên cứu này không chỉ xác định đặc điểm của virut mà còn phân tích các yếu tố nguy cơ và cách thức lây lan, từ đó giúp nâng cao nhận thức về phòng ngừa và điều trị bệnh tiêu chảy do virut này gây ra. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin quý giá về cách bảo vệ sức khỏe cho trẻ em, cũng như các biện pháp can thiệp hiệu quả.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến vi sinh vật và bệnh tật, bạn có thể tham khảo các tài liệu như Luận văn thạc sĩ hus xác định đặc tính virut rota gây bệnh năm 2010 tại việt nam, nơi cung cấp thông tin chi tiết về virut Rota tại Việt Nam. Ngoài ra, tài liệu Tìm hiểu mức độ nhiễm khuẩn và sự kháng kháng sinh của escherichia coli và salmonella trong thịt gà tại các cơ sở giết mổ ở tp hcm cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các loại vi khuẩn gây bệnh khác. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ vnua nghiên cứu sự lưu hành bệnh giun xoắn trichinella sp ở một số loài động vật tại huyện mường lát tỉnh thanh hóa và đề xuất biện pháp phòng bệnh sẽ cung cấp thêm thông tin về các bệnh truyền nhiễm khác có thể ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề sức khỏe liên quan đến vi sinh vật.