ĐẶT VẤN ĐỀ Viêm phổi thở máy (VPTM) là một vấn đề lâm sàng quan trọng không chỉ ở Việt Nam mà còn trên thế giới vì tần suất mắc bệnh và tử vong tăng cao. Tại Canada, VPTM là 18 ca trên 1000 ngày thở máy [75]. Các quốc gia Á Châu VPTM là 18% [43]. Tại Việt Nam, VPTM dao động từ 20% - 52%, [2], [5], [7], [8], [11], [16], [17].
VPTM là nguyên nhân hàng đầu gây tăng tỉ lệ tử vong (26% - 72%), kéo dài thời gian nằm viện (41 so với 23 ngày ở nhóm có và không VPTM) và tăng chi phí điều trị (5 – 10 lần) [5], [41]. VPTM đƣợc định nghĩa là viêm nhu mô phổi xảy ra sau 48 giờ thở máy qua nội khí quản hoặc qua khai khí quản [42], [61]. Chẩn đoán VPTM đƣợc thiết lập dựa trên chứng cứ lâm sàng và vi sinh. Việc xác định vi khuẩn (VK) gây bệnh thông qua cấy định lƣợng hoặc bán định lƣợng đàm hút qua nội khí quản đơn thuần hoặc qua nội soi phế quản [34], [41], [50].
Việc định danh VK bằng nhuộm Gram, nuôi cấy, đặc tính mọc và các phản ứng sinh hóa là chuẩn mực. Tuy nhiên phƣơng pháp vi sinh kinh điển này không thể áp dụng trong các trƣờng hợp sau: VK Gram âm khó mọc, mọc chậm; VK hiếm hoặc chỉ biểu hiện một vài đặc tính về sinh hóa. Cũng nhƣ các VK yếm khí, VK không cấy đƣợc và bệnh lý nhiễm khuẩn có kết quả cấy âm tính, nhất là trên bệnh nhân (BN) sử dụng kháng sinh trƣớc đó [50], [57], [73], [74], [83], [97], [114]. Chẩn đoán phân tử, ngày nay, đã trở thành phƣơng pháp tham chiếu để chẩn đoán vi sinh học của nhiều bệnh lý hô hấp [73].
Vai trò của giải trình tự gene 16S - rRNA trong định danh VK càng đƣợc chứng tỏ và đƣợc áp dụng rộng rãi trên lâm sàng [57], [58], [80], [116], [117]. Phƣơng pháp giải trình tự gene 16S - rRNA có thể phát hiện đƣợc hệ vi sinh trên đƣờng hô hấp của ngƣời khỏe và BN [29], [44], [88]. Tại Việt Nam số liệu từ các NC về định danh VK dựa trên sinh học phân tử ở các BN VPTM chƣa nhiều và chƣa đƣợc hệ thống đầy đủ. 2 Ngày nay, VK đa kháng kháng sinh là một thách thức toàn cầu [58].
Đặc biệt là các quốc gia Á Châu, kể cả Việt Nam [12], [20], [59], [74], [78], [101]. baumannii kháng Carbapenem tăng lên nhanh chóng 6,7% (2001) [8]; 8% (2004) [17]; 80% (2010) [11]; 90% (2012) [5]. Tuy nhiên, kháng sinh đồ định lƣợng MIC bằng que E-test chƣa đƣợc áp dụng rộng rãi và số liệu chƣa đƣợc hệ thống đầy đủ. Các VK mang gene SHV, TEM, IMP, OXA, NDM thủy phân phổ rộng các cephalosporin là thƣờng gặp [81].
Trong nƣớc, việc tiếp cận có hệ thống gene kháng thuốc của VK chính yếu gây VPTM chƣa đƣợc ghi nhận và hệ thống hóa đầy đủ. Ở Việt Nam, chƣa có nghiên cứu nào áp dụng giải trình tự thế hệ mới trong việc xác định VK gây VPTM trên các mẫu dịch rửa phế quản phế nang. Chúng tôi đặt ra 3 câu hỏi nghiên cứu: (a) Có sự khác biệt nào trong định danh VK gây VPTM giữa hai phƣơng pháp định danh VK dựa vào kiểu hình và giải trình tự gene 16S- rRNA; (b) Giá trị MIC và tỉ lệ đề kháng kháng sinh ở các nhóm VK gây VPTM phân bố nhƣ thế nào?; (c) Tỉ lệ VK chính yếu gây VPTM mang gene kháng thuốc là bao nhiêu và có mối liên quan giữa các VK mang gene kháng thuốc với MIC hay không? Trả lời những câu hỏi nghiên cứu trên sẽ cung cấp những kiến thức quan trọng về qui mô đề kháng kháng sinh và xác lập đƣợc những tác nhân liên quan đến VPTM, giúp cho việc điều trị BN tốt hơn. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu: 1.
Xác định đặc điểm vi khuẩn gây viêm phổi thở máy bằng kỹ thuật giải trình tự gene 16S - rRNA, có so sánh với phƣơng pháp định danh vi khuẩn dựa vào nhuộm Gram, nuôi cấy và các phản ứng sinh hóa. Đánh giá MIC và tỉ lệ đề kháng kháng sinh ở các nhóm vi khuẩn gây viêm phổi thở máy. Xác định gene kháng thuốc của vi khuẩn gây viêm phổi thở máy bằng kỹ thuật PCR và mối liên quan với MIC. 3 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Định nghĩa Viêm phổi thở máy (VPTM) đƣợc định nghĩa là viêm nhu mô phổi xảy ra sau 48 giờ thở máy qua nội khí quản hoặc qua khai khí quản [42], [61]. Ngay từ những thập niên đầu áp dụng thở máy xâm nhập đã có nhiều định nghĩa về VPTM. Từ những thập niên 70, Johanson đã áp dụng tiêu chuẩn chẩn đoán cho VPTM bao gồm thâm nhiễm mới hoặc tiến triển trên X-quang ngực; sốt; bạch cầu máu tăng và tăng tiết đàm mủ khí phế quản. Ngoài ra tác giả này còn đƣa ra định nghĩa có thể có khả năng VPTM bao gồm sốt, tăng bạch cầu máu kèm theo hoặc thâm nhiễm mới hay tiến triển trên X-quang ngực hoặc hiện diện đàm mủ.
Kết quả cấy vi sinh không đƣợc áp dụng trong bộ tiêu chí này [60]. Tiêu chuẩn chẩn đoán VPTM dựa vào mô học cũng đƣợc giới thiệu trong giai đoạn này. Các tiêu chí bao gồm tích tụ bạch cầu đa nhân trong màng phế nang mao mạch và số lƣợng VK ≥ 103 cfu/g nhu mô phổi ở ít nhất một mẫu sinh thiết [47]. Từ khi giáo sƣ Shigeto Ekeda giới thiệu nội soi phế quản ống mềm, các nghiên cứu (NC) về VPTM dựa vào đó để tiếp cận chất tiết đƣờng hô hấp dƣới.
Winberley áp dụng nội soi phế quản ống mềm và đề xuất tiêu chuẩn cho nội soi phế quản có nòng bảo vệ với ngƣỡng 103 cfu/ml đƣợc gọi là dƣơng tính [55], [108]. Đối với dịch rửa phế quản phế nang cần ≥ 104 cfu/ml và dịch hút qua nội khí quản cần ≥ 105 cfu/ml đƣợc gọi là dƣơng tính [42]. Năm 1988, CDC đƣa ra định nghĩa cho VP. Bộ tiêu chí đƣợc xây dựng dựa trên hệ thống khảo sát nhiễm khuẩn bệnh viện quốc gia Hoa Kỳ (NNIS1).
Các tiêu chí bao gồm ran hoặc gõ đục ở phổi kèm theo các dấu chứng sau: (a) đàm mủ mới xuất hiện; (b) phân lập đƣợc vi sinh vật từ máu; (c) phân lập đƣợc tác nhân gây bệnh từ dịch hút khí quản, chải phế quản hoặc sinh thiết. Ngoài ra, CDC còn giới thiệu NNIS2 bao gồm thâm nhiễm mới hoặc tiến triển, đông đặc, tạo hang hoặc tràn dịch màng phổi trên X-quang ngực kèm theo ít nhất một trong ba tiêu chí (a), (b), (c) của NNIS1 ở trên [51]. 4 Vào thập niên 90, Pugin giới thiệu thang điểm VP trên lâm sàng (CPIS) từ 0 đến 12 điểm bao gồm nhiệt độ; bạch cầu máu kể cả dạng non; đặc tính dịch tiết khí phế quản; nhuộm Gram và cấy đàm; PaO2/FiO2; X-quang ngực [84]. Năm 2005 ATS và IDSA đƣa ra định nghĩa VPTM trên lâm sàng bao gồm: thâm nhiễm mới hoặc tiến triển trên X-quang ngực kèm theo hai trong ba tiêu chí sau: T0 > 380C, bạch cầu tăng hoặc giảm và tăng tiết đàm mủ.
Xác định tác nhân gây bệnh bằng cấy định lƣợng hoặc bán định lƣợng đàm hút qua nội khí quản hoặc nội soi phế quản. Tiêu chuẩn CPIS và CPIS hiệu chỉnh đƣợc khuyên áp dụng cho chẩn đoán VPTM [24]. Năm 2011 Craven đã đƣa ra tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm khuẩn hô hấp liên quan thở máy (ventilator – associated respiratory infections: VARI), bao gồm các tiêu chí chẩn đoán VPTM nhƣ trên và viêm khí phế quản liên quan thở máy (ventilator – associated tracheobronchitis: VAT). Các tiêu chí viêm khí phế quản liên quan thở máy bao gồm các triệu chứng cơ năng, thực thể và thời gian thở máy giống nhƣ VPTM.
Nhƣng không có thâm nhiễm lan tỏa hay tiến triển ở hai phổi khi dựa vào hình ảnh X-quang hoặc CT ngực và bằng chứng vi sinh khi dựa vào tiêu chí chẩn đoán xâm lấn bằng nội soi phế quản tại giƣờng [40], [86]. CDC 2014 đƣa ra khái niệm biến cố liên quan thở máy (VAE) gồm biến chứng liên quan thở máy, biến chứng liên quan nhiễm khuẩn trên BN thở máy, có thể VPTM, có thể có khả năng VPTM. Trong đó, biến chứng liên quan thở máy (VAC) bao gồm sau hai ngày thở máy, BN có ít nhất một trong hai tiêu chí sau: (1) Tăng tiêu thụ oxy: tăng FiO2 ≥ 20% mỗi ngày, liên tục trong hai ngày liên tiếp. (2) Tăng nhu cầu PEEP: tăng PEEP ≥ 3 cmH20 mỗi ngày, liên tục trong hai ngày liền.
Biến chứng liên quan nhiễm khuẩn trên BN thở máy (IVAC) bao gồm sau 3 – 4 ngày thở máy, BN có VAC kèm hai tiêu chí sau: (1) T0 > 380C hoặc < 360C, hoặc bạch cầu máu > 12. (2) Sử dụng kháng sinh ≥ 4 ngày liền. Có thể VPTM bao gồm sau 3 – 4 ngày thở máy, BN có VAC và IVAC kèm một trong các tiêu chí sau: (1) tăng tiết đàm mủ, (2) cấy đàm dƣơng tính. Có thể có khả năng VPTM gồm sau 3 – 4 ngày thở máy, BN có VAC và IVAC kèm một trong các tiêu chí sau: (1) tăng tiết đàm mủ kèm cấy định lƣợng dƣơng tính.
Tiêu chí cho. 5 cấy định lƣợng bao gồm nếu đàm hút qua nội khí quản cần ≥ 105 cfu/ml, đối với dịch rửa phế quản phế nang và mô phổi cần ≥ 104 cfu/ml, còn tiêu chí chải phế quản có nòng bảo vệ chỉ cần ≥ 103 cfu/ml. (2) Hoặc một trong các tiêu chí sau: (i) cấy dƣơng tính dịch màng phổi, (ii) cấy dƣơng tính mô bệnh học phổi, (iii) xét nghiệm dƣơng tính với Legionella spp, xét nghiệm dƣơng tính với virus từ dịch tiết phổi. Gần đây nhất, năm 2016 IDSA đƣa ra hƣớng dẫn về VP nhƣ sau: thâm nhiễm mới trên phổi cùng với các bằng chứng lâm sàng chứng tỏ thâm nhiễm này có nguồn gốc từ nhiễm khuẩn.
Các bằng chứng lâm sàng bao gồm: mới khởi phát sốt, mới tiết đàm mủ, mới tăng bạch cầu và mới giảm oxy hóa máu. VPTM đƣợc định nghĩa nhƣ là VP trên BN thở máy > 48 giờ sau đặt nội khí quản [61]. Nói tóm lại VPTM có thể đƣợc định nghĩa là viêm nhu mô phổi xảy ra sau 48 giờ thở máy qua nội khí quản hoặc qua khai khí quản [42], [61]. Mặc dù khái niệm rõ ràng nhƣ vậy, nhƣng hơn năm thập niên qua liên tiếp có rất nhiều định nghĩa VPTM đƣợc ra đời nhƣ định nghĩa của CDC 2014, nhƣng không có định nghĩa nào đƣợc chấp nhận rộng rãi toàn cầu.
Thậm chí định nghĩa VPTM dựa vào các dấu hiệu mô học từ tử thiết cũng không đƣợc chắc chắn đồng thuận hoặc tán thành.